Thơ - Văn mới cập nhật
Ngày giỗ Mẹ
Chia sẻ bài thơ “Hãy gọi đúng tên tôi”
Cầu nguyện cho Thầy Thích Nhất Hạnh
Mặc Xuân
Hãy gọi đúng tên tôi
Hạt cát tinh khôi
Chiếc vòng của Mẹ
Trở về mái nhà xưa
Gặp lại chính mình
Khó, dễ trong Đời
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
19:41, Monday.December 22 2014
Vài nét về tính văn học qua bài kệ trong kinh Kim Cang
 
Từ mộng đi vào trong văn học, thơ ca, tuồng tích; thấm đẫm vào trong dân gian để khi diễn đạt cái gì không thật là người ta cho đó là mộng. Không phải chỉ chiêm bao mới có mộng mà ngay khi thức vẫn có mộng như thường, ta hay nói trường hợp đó là “mở mắt chiêm bao”.
Kinh Kim Cang là một bộ kinh hoằng dương rất thịnh và phổ biến rất rộng trong các kinh điển Đại thừa. Từ xưa đến nay không những các vị xuất gia trì tụng hàng ngày nơi các am viện mà ngay cả hàng cư sĩ tại gia cũng lấy kinh này làm thời khoá tụng đọc. Nhưng vì nghĩa lý trong kinh rất sâu kín, nhiệm mầu, mà lời Phật thuyết trong kinh thì lại rất ngắn gọn nên kẻ tụng đọc, nghiên cứu kinh này muốn hiểu nghĩa lý thật rất khó.
Lại nữa, về mặt văn phong, câu cú, ngôn ngữ mang tính nghệ thuật cao nên cũng khó bề nắm bắt.
Sự khó khăn này, thứ nhất là vì kinh Kim Cang được truyền từ An Độ sang Trung Hoa, rồi tới Việt Nam, và trải qua nhiều quá trình phiên dịch nên hàng hậu học không dễ dàng hiểu thấu nếu không dày công nghiên cứu và ứng dụng thực hành.
Kế nữa, vì bản kinh này xuất phát từ Ấn Độ nên đã có sự ảnh hưởng ít nhiều văn hoá bản địa, cộng với sự tiếp thu có chọn lọc, cải tạo, phát huy để hình thành hệ thống lý luận mang nét riêng của mỗi nước mà nghĩa lý trong kinh trở nên phong phú. 
Tuy nhiên, dù biết rằng giá trị đính thực của kinh Phật chỉ có được nơi sự thể nghiệm chứ không phải nơi khái niệm, nhưng đối với việc nghiên cứu vấn đề này, thiết nghĩ, cũng sẽ ít nhiều giúp ta hiểu rõ giáo nghĩa Phật giáo, tầm quan trọng của kinh Kim Cang đối với người tu hành muốn cầu giải thoát, chứng quả Bồ Đề.
Bên cạnh đó chúng ta còn có cơ hội tìm hiểu thêm tính nghệ thuật trong cách hành văn Phật giáo để nhận biết được sự dung hoà ngôn ngữ Phật học trong đời sống con người và tầm ảnh hưởng sâu sắc của văn học Phật giáo đối với nền văn học Trung Quốc, đặc biệt là ở Việt Nam.
1.Về nguồn gốc:
 Kinh Kim Cang được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tại tịnh xá của ông trưởng giả Cấp Cô Độc, trong vườn của thái tử Kỳ Đà, ở nước Xá Vệ. Ngài A Nan kết tập. Và có nhiều Tam Tạng Pháp sư dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán cũng như các nhà sớ giải và bản dịch từ Hán sang Việt[1].
Ở đây, người viết dựa theo bản dịch Phạn-Hán của ngài Cưu-ma-la-thập[2] qua bản dịch Hán-Việt của HT. Thích Thanh Từ.
2.Về ý nghĩa:
 Kinh Kim Cang có tên đầy đủ là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Kinh là tên chung chỉ cho tất cả kinh Phật, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật là tên riêng. Kim Cang là dụ, Bát Nhã Ba La Mật là chỉ cho pháp. Như vậy bộ kinh này dùng hai thứ dụ-pháp chung nhau để thành đề kinh, vừa có dụ vừa có pháp.
Kim Cang tức là kim cương, là một khoáng chất rất cứng hay phá các thứ khác mà các kim loại khác không phá được nó.
Bát Nhã là âm theo tiếng Phạn, nghĩa trí tuệ. Để không lầm lẫn với trí tuệ thế gian, từ Bát Nhã thường được dịch là trí tuệ Bát nhã tức là thấu đáo được lẽ thật của các pháp.
Ba La Mật là âm theo tiếng Phạn, nghĩa là đến bờ kia. Bờ bên này là cảnh của chúng sanh gây nghiệp chịu khổ sanh tử luân hồi, bờ bên kia là cảnh của chư Bồ Tát và chư Phật.
Kinh là những lời dạy của đức Phật góp lại thành bộ, còn gọi là khế kinh, tức khế lý và khế cơ, nghĩa là vừa hợp với chân lý vừa hợp với căn cơ chúng sanh.
Phật thuyết Bát Nhã trước sau cộng 16 hội, nghĩa và văn đều đầy đủ[3]. Kinh này là giềng mối của Bát Nhã, mà Bát Nhã là giềng mối của hết thảy Phật pháp, cho nên một câu một chữ trong kinh này đều có liên quan đến tông chỉ rộng lớn, bao gồm tinh nghĩa sâu xa. Cũng như Kim Cang có tính chất cứng, bền, chắc, sáng, bén dụ cho trí Bát Nhã cứng, bền, chắc, dù cho ở trong chúng sanh, trong vô minh mà vẫn không mất, không biến đổi nên có công năng phá vỡ các tình chấp của mình, soi sáng tất cả vô minh.
Vì vậy, cương yếu của kinh này không gì khác hơn là khiển trừ vọng tưởng chấp trước mà thôi. Phật dạy: “Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào”, tức là dạy: “Dùng trí tuệ Kim Cang Bát Nhã phá trừ rốt ráo (Ba-la-mật) các vô minh vọng chấp: Ngã, pháp hay bốn tướng (ngã, nhơn, chúng sanh và thọ giả). Khi các vô minh vọng chấp hết rồi thì Chơn tâm thanh tịnh hiện ra. Đó chính là phương pháp tu hành của Đại thừa đốn giáo, để hàng phục vọng tâm mà cũng là an trụ Chơn tâm vậy.
Tuy nhiên, ở đây người viết chỉ tìm hiểu về mặt văn học qua bài kệ:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán.
 
Dịch nghĩa:
Tất cả pháp hữu vi
Như mộng, huyễn, bọt, bóng
Như sương, như chớp loé
Hãy quán chiếu như thế.
 
3.Về tính văn học:
 
Đức Phật kết thúc bài kinh Kim Cang bằng bốn câu kệ:
Tất cả pháp hữu vi
Như mộng, huyễn, bọt, bóng
Như sương, như chớp loé
Hãy quán chiếu như thế.
Thế nào là pháp hữu vi? Mọi sự mọi việc như đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, mặc áo… đều là hữu vi. Đó là nói về bên ngoài. Năm uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức; bốn đại, đất, nước, gió, lửa hay sáu căn, sáu trần, mười hai xứ, mười tám giới cũng là pháp hữu vi. Nói là pháp hữu vi vì tất cả pháp do nhân duyên hoà hợp mà thành. Khi nhân duyên hoà hợp gọi là pháp được sinh, khi nhân duyên ly tán gọi là pháp bị diệt.
Pháp hữu vi tuy có mặt đó nhưng không thật, nên đức Phật dụ như là mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương, như chớp loé. Vì chúng phàm phu mê lầm tham chấp cho rằng các pháp hữu vi là chân thật cho nên cứ mãi bị trầm luân sanh tử. Đức Phật dùng phương tiện chỉ ra các pháp hữu vi là sinh diệt, vô thường, không thật, giống như mộng, huyễn… nếu chúng sanh quán chiếu thành công được như vậy thì Chơn không xuất hiện. Nói rõ hơn, muốn quán chân tánh vô vi, trước phải quán huyễn tướng hữu vi.
Thế nhưng, đức Phật nói mộng là đủ rồi tại sao Ngài lại nói thêm mấy thứ nữa? Chắc có gì khác hơn chút xíu phải không?
Đầu tiên Ngài nói pháp hữu vi như mộng. Chẳng phải xem nó là không có sự tướng, nhưng có tức chẳng phải có. Bởi vì trong mộng thấy cảnh nên không thể nói là không, tức là có; nhưng khi tỉnh cơn mộng, cảnh liền biến mất tức là không. Cho nên nói là có tức chẳng phải có. Vì pháp do nhân duyên hoà hợp mà thành, nên nó thay đổi theo duyên, tức là nó không cố định một cái gì hết, nên nó là giả, vì là giả nên nó là không, là mộng.
Chữ mộng được dùng trong bài kệ thật đắc. Nó chỉ cho một cõi mơ, một sự vô thường biến đổi, không chắc thật mà sau này tầm ảnh hưởng của nó về mặt văn học nghệ thuật rất cao. Không riêng gì ở Trung Hoa, khi nói đến những gì tạm bợ, biến hoá vô thường người ta hay dùng từ mộng mà ngay cả ở Việt Nam từ mộng cũng rất phổ biến.
Từ mộng đi vào trong văn học, thơ ca, tuồng tích; thấm đẫm vào trong dân gian để khi diễn đạt cái gì không thật là người ta cho đó là mộng. Không phải chỉ chiêm bao mới có mộng mà ngay khi thức vẫn có mộng như thường, ta hay nói trường hợp đó là “mở mắt chiêm bao”. HT.Thanh Từ có bài thơ gồm 8 chữ Mộng: “Gá thân mộng/dạo cảnh mộng/mộng tan rồi/cười vỡ mộng/ghi lời mộng/nhắn khách mộng/biết được mộng/tỉnh cơn mộng”. Nhà thơ Tản Đà có mấy câu thơ “Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi”, “Nhưng mộng mà thôi mộng mất rồi”; hay như nói “Đời người như giấc mộng”… há không phải là ảnh hưởng từ chữ mộng trong Phật giáo hay sao?
Thật ra, bảo nó là mộng, biết nó là mộng nhưng không dễ gì chúng ta chấp nhận nó là mộng nếu không thực tập quán chiếu sâu sắc các pháp hữu vi. Bởi lẽ, chúng ta ở trong đường si mê lầm lạc lâu lắm rồi nên đâu biết việc đời như mộng, tức xem việc đời quá gắn liền với mình, khi gặp cảnh thuận, cảnh nghịch thì bị dính theo, chẳng thể buông nổi.
Vả lại nói việc quá khứ là như mộng thì đã đành, còn cảnh ngộ rành rành trước mắt, thân mình cảm thọ, mà bảo là không thật thì có thể tin chăng? Chẳng hạn người ta chửi mình mà bảo là cảnh mộng thì chắc là khó chấp nhận. Cho nên Phật mới nói thêm rằng cảnh thuận hay nghịch rành rành thân mình cảm thọ thật ra điều như huyễn vậy.
Giá trị nghệ thuật là ở chỗ này. Trong sáu ví dụ, thì ví dụ mộng là tổng, còn huyễn, bọt, bóng, sương, chớp là biệt, và đều để tỏ rõ nó như mộng mà thôi. Kẻ căn tánh tốt một khi nghe ví dụ như mộng liền có thể hiểu rõ pháp duyên sanh, đương thể tức không. Nhưng vì sợ có kẻ chưa hiểu rõ nên Phật nói thêm năm ví dụ nữa (huyễn, bọt,…).
Theo kinh Phật, huyễn có nghĩa là huyễn thuật mà đời bây giờ gọi là trò ảo thuật. Người ta làm trò ảo thuật như biến giấy thành tiền, hay các nhân vật khóc cười trên sân khấu… nó không thật mà chúng ta lầm chấp nó là thật rồi chạy theo buồn vui trong vở kịch.
Cho nên, phải biết con người ở đời cũng thế, hết thảy sự gặp gỡ đều là chỗ biến hiện của vọng thức nghiệp duyên. Thế gian là sân khấu, chúng sanh là nhân vật của vở tuồng. Chúng ta phải đóng trọn vai trò của mình trong một thời gian nào đó rồi thôi. Khi hết tuồng, hạ màn, trong nháy mắt diễn viên không còn là nhân vật nữa. Ay vậy mà chúng ta thường cho đó là thật, rồi mê muội quên mất “con người thật” của mình. Đức Phật thấy rõ điều này nên dạy chúng ta phải biết các pháp hữu vi chỉ là huyễn thuật, không thật thể.
Thí dụ bọt cũng vậy. Chúng ta đều biết bọt là do nước bị gió thổi khích đãng mà thành những đám bong bóng nhỏ cụm vào nhau nên rất mong manh, dễ vỡ. Thế gian này cũng vậy. Bãi bể hoá nương dâu, hang hốc biến thành gò núi là một minh chứng cho sự sanh diệt đổi thay này.
Đến như bóng, nó giống như có mà thực ra là không vì bóng chỉ là hình ảnh phản chiếu lại của sự vật. Thân người cũng vậy, hư vọng hiện ra có, mà thực ra là không. Như bóng người trong gương, vì gương rọi chiếu thì hiện ra, mập ốm dài ngắn không sai mảy may nào.
Như sương như chớp loé cũng thế. Buổi sáng sớm, chúng ta còn thấy vài hạt sương long lanh trên đầu lá cây ngọn cỏ. Nhưng khi mặt trời ló dạng, ánh nắng chiếu xuống thì sương tan không còn nữa. Điện chớp cũng chỉ là hiện tượng thoáng qua, bất thường như vậy. Về ý này, Thiền sư Vạn Hạnh có bài kệ:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
HT. Mật thể dịch là:
Thân như bóng chóp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời
Sá chi suy thịnh việc đời
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành.
Nói chung, theo lời Phật dạy, các pháp hữu vi như sắc thân, thế giới, vọng tưởng chỉ là trò ảo mộng mà thôi, chúng ta phải quán sáu ví dụ đó để không bị chấp trước hay dính mắc vào một cái gì. Khi đó ta sẽ thấy được biển rộng trời cao, tâm lượng của ta biến thành rộng lớn, bao la như hư không, không bị vật gì ràng buộc, không gì làm trở ngại.
Tuy nhiên, chúng ta phải biết rằng việc quán chư pháp không tướng, tức là quán các pháp như như, vì tánh tướng vốn không. Cho nên, quán duyên sanh liền có thể khế hợp vào như như bất động và vì vậy, vô vi pháp tánh từ quán hữu vi pháp tướng như mộng, như huyễn mà hiện khởi ra. Đó cũng chính là nghĩa của Trung đạo vậy.
Tóm lại, Đức Phật giảng kinh Kim Cang để tuyên thuyết Lý nhân duyên theo đường lối Đại thừa. Phật không nói chi tiết nhưng rất là dễ áp dụng. Cái gì khởi lên trong tâm mình là vọng tưởng. Hễ có vọng tưởng là có ngã, mà người tu phải thực tập đời sống vô ngã.
Đặc biệt là cách trình bày bốn câu kệ cuối bài kinh. Đức Phật đã dùng sáu ví dụ điển hình để chỉ rõ các pháp hữu vi là không thật, chỉ là duyên hợp giả có hầu phá sự chấp trước của hàng phàm phu. Ngoài ra, chúng ta cũng phải biết thêm là trong kinh Phật, chỗ nói thí dụ của pháp hữu vi rất nhiều, ngoài mộng, huyễn… còn có: càn thát bà thành, trăng dưới nước, cây, then cửa, sợi dây, con rắn, lông rùa, sừng thỏ… để phá cái phân biệt chấp trước mà hiển thị lý vạn pháp đều không[4].
Cho nên hình ảnh mà đức Phật ví dụ trong bài kệ không những có giá trị về mặt nội dung mà nó còn truyền tải nghệ thuật văn học trong Phật giáo. Khi hành giả đi sâu vào quán chiếu các pháp đều hư giả như sáu ví dụ trên thì hành giả không còn khởi vọng tâm chấp thủ ngã pháp hay bốn tướng nữa. Và khi các vô minh vọng chấp không còn thì chơn tâm thanh tịnh hiện ra, hay nói cách khác là tánh Kim Cang Bát Nhã như như bất động hiện ra mà không cần phải rong ruổi tìm cầu nơi nào hết.
Tâm Chơn
 
 
THƯ MỤC THAM KHẢO
1. HT.Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, quyển 3, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội,2004.
2. Viện nghiên cứu Phật học, Từ Điển Phật Học Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.
3. HT.Tuyên Hoá giảng, Kinh Kim Cang, An tống.
4. HT.Nhất Hạnh, Kim Cang Gươm Báo Chặt Đứt Phiền Não, Nxb Lá Bối.
5. Đồ Nam lão nhân (dịch), Kim Cang Kinh giảng nghĩa, Một nhóm người học Phật ấn tống,Sài Gòn, 1972
6. Osho, Kinh Kim Cang, Hà Nội, 2003.
7. Thích Thông Phương, Kinh Kim Cang giảng lục, nxb tôn giáo, hà nội, 2004.
8. Thích Trúc Thông Quang, Kinh Kim Cang giảng giải,An tống, 2006.
9. Hân Mẫn-Thông Thiền biên dịch, Từ Điển Thiền Tông, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2002.
10. HT.Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang giảng giải, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, 1999.
11. Hám Sơn đại sư, Kim Cang Quyết Nghi & Tâm Kinh Trực Thuyết, Nxb Tôn Giáo, Hà Hội, 2002.


[1] Xem thêm: HT.Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang giảng giải, NXb Tp.Hồ Chí Minh, 1999, tr7-10.
[2] Tam tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập ở chùa Thảo Đường tại Trường An. Vào niên hiệu Hoằng Thuỷ năm thứ tư, tức là năm 402 Tây lịch, thuộc đời Dao Tần, ngài dịch tên kinh là Kim cang Bát-nhã Ba-la-mật. Đây là bản dịch có giá trị nhất, được gọi là định bản, vì bản dịch này được mọi người trì tụng hàng ngày.
 
[3] Đồ Nam lão nhân dịch, Kim Cang Kinh giảng nghĩa, Một nhóm người học Phật ấn tống,Sài Gòn, 1972, tr.9.
[4] Đồ Nam lão nhân,sđd,tr.606.
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Ước mong của Á khôi 1 ĐH KHXH&NV trong năm Nhâm Thìn
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2014
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này