Hồi còn đi học, tôi có người bạn chí thân. Anh tên Hoanh, cùng tuổi Bính Tuất, cùng lớp, cùng ban B (ban Toán). Tôi ở quê, gia đình sống bằng nghề làm ruộng. Anh ở chợ, cha là phó quận trưởng hành chánh, mẹ buôn bán tạp hoá. Anh học rất giỏi, thi Tú tài một đậu hạng Bình, Tú tài hai hạng Ưu, còn tôi đậu hạng Thứ và …trượt vỏ chuối! (Thi cử trước kia xếp làm 5 hạng : Tối ưu, Ưu, Bình, Bình thứ và Thứ). Anh vào trường Đại học Sư phạm, tôi đi làm trong một viện bào chế thuốc tây tư nhân. Hai năm sau tôi bị động viên và may mắn được đưa về một đơn vị không tác chiến tại Sàigòn. Lúc bấy giờ đất nước đang chiến tranh nhưng chúng tôi vẫn thỉnh thoảng gặp nhau hoặc thư từ qua lại thăm nhau.
Chúng tôi xa nhau sau ngày 30.4.1975. Dù đất nước đã hoà bình thống nhất nhưng chúng tôi lại không có điều kiện và thời gian gặp nhau, cũng không có tin tức gì để thăm hỏi lẫn nhau. Nguyên nhân là vì gia đình, vợ con, miếng cơm manh áo nên ai cũng lo tất bật, vật lộn với cuộc sống để kiếm cái ăn cái mặc và lo cái chữ cho con. Mãi cho đến đầu năm nay, tôi theo thằng con trai lớn “tha phương cầu thực” ở một huyện miền duyên hải tình cờ gặp lại anh. Thắm thoát mà đã 37 năm, thời gian qua mau như “bóng câu qua sổ”! Hồi xa nhau hai đứa đều là thanh niên, mái tóc hãy còn xanh mượt, tràn đầy sinh lực, tràn đầy nhựa sống. Bây giờ gặp lại cả hai đều đã lên lão, mắt mờ tai yếu, mái tóc muối nhiều hơn tiêu, hom hem chậm chạp. Trót sanh ra trong cõi ta bà ai cũng đều như vậy, làm sao tránh được đôi tay bào gọt, đục đẽo của thời gian và sư khắc nghiệt của con quỉ vô thường!
Bạn bè thân thiết gần 40 năm mới gặp lại nhau, biết bao vui mừng. Trong khoảng thời gian đó lại có biết bao kỷ niệm vui buồn, hàn huyên tâm sự dài dài vẫn không hết chuyện. Đứa nào cũng có hoàn cảnh và nỗi khổ riêng, chỉ có một điểm chung là cố gắng khắc phục khó khăn, trở ngại để vươn lên trong cuộc sống.
Học tập cải tạo xong, tôi về quê ở đậu đất ông anh làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày. Không có cục đất chọi chim, chỉ có đôi tay làm vốn nên cuộc mưu sinh gian khổ như chèo thuyền vượt biển khơi. Chồng chèo vợ bơi nhưng do con thuyền không lái, cặp chèo nhỏ như đôi đũa ăn cơm, cây dầm yếu như cọng tăm xỉa răng, trời nước bao la và đầy sóng gió nên vợ chồng tôi cứ loay quay mãi giữa biển cả mênh mông. Tuổi đời như ánh nắng, khi xế chiều, nguồn năng lượng đã vơi, không đủ cung cấp cho các bắp thịt và sưởi ấm cơ thể nên vợ chồng tôi không đủ sức chèo bơi tiếp tục vào đến bến bờ!
Anh thì cho biết đây là quê nội của vợ anh. Sau ngày tiếp thu, anh vẫn được dạy học. Tuy nhiên, do đồng lương khiêm tốn, ba cọc ba đồng nên sau vài năm anh nghỉ dạy và theo nghề tiểu thương của mẹ. Dù vậy, cuộc sống cũng vẫn vất vả anh mới quyết định bán hết tài sản về đây lập nghiệp. Anh làm ruộng, chị buôn bán nhỏ. Hiện anh đã là một đại gia, có nhà lầu xe hơi, có trên năm mươi công ruộng và mấy vuông tôm. Con cái đều thành đạt nhưng thật trớ trêu, không đứa nào chịu nối nghiệp của cha!
Biết được hoàn cảnh của tôi, Hoanh động viên, an ủi:
-Theo quan niệm của người xưa thì thành công hay thất bại trên bất cứ lãnh vực nào đều tuỳ thuộc vào các yếu tố “tài, đức, thời cơ” hoặc “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”. Trong sáu yếu tố đó thời cơ là quan trọng nhất. Có tài có đức, có địa lợi có nhân hoà mà không có thời cơ thì cũng bó tay hoặc chỉ thành công một nửa. Anh thấy đó, tôi từng thất bại cay đắng do không gặp thời, cũng không tài cán đức độ gì, cho nên thành công của tôi chẳng qua là “thời lai đồ điếu thành công dị” mà thôi. Còn anh, anh chưa thành công là do chưa gặp thời chứ không phải anh không có tài có đức, không được địa lợi nhân hoà.
Tôi cười nhẹ:
-Cám ơn anh đã động viên an ủi. Nhưng, tôi nghĩ nói chưa gặp thời là tự an ủi mình hay nói đúng hơn là tự dối lòng mình. Thật ra, tôi chẳng những không có tài có đức mà còn thiếu bản lãnh, kém năng lực. Đầu óc và đôi mắt tôi cũng không được nhạy bén và tinh tường như đầu óc và đôi mắt anh nên tôi không biết, không thấy thời cơ thành thử không nắm bắt được nó. Hơn nữa, thất bại là do sai lầm. Tôi lại không biết học hỏi và rút kinh nghiệm từ những lần thất bại đó nên cứ thất bại liên miên là lẽ đương nhiên là hệ quả tất yếu thôi anh ạ!.
Hoanh nhìn tôi với ánh mắt cảm thông pha chút thương hại:
- Đừng tự trách mình nữa mà hãy tự tin, nhẫn nại và cố gắng phấn đấu. Có thể đây là lần thử thách cuối cùng?. Sáu mươi bảy tuổi thì đã sao? Anh vẫn còn sớm hơn Khương Tử Nha năm năm. Bảy mươi hai tuổi ông ấy mới được vua Chu Văn Vương trọng dụng?.Tôi tin lần nầy anh đã gặp được thời cơ, được địa lợi nhân hoà. “Thời lai phong tống Đằng vương các”. Nếu không như thế sao mấy chục năm trước anh không đến đây mà đợi tới bây giờ mới đến? Ngọn gió nào đưa anh tới gác Đằng vương? Đó chẳng phải gió thời gió vận hay sao?
-Tôi cũng hy vọng những lời anh nói là sự thật.
X
Đạt được mục đích, Hoanh rút chân ra khỏi con đường danh lợi đầy chông gai, giao toàn bộ cơ ngơi cho con quản lý để thảnh thơi an hưởng tuổi già. Anh có hai người bạn chí cốt, Mười Đính và Năm Tú. Mười Đính nhỏ hơn Hoanh một tuổi, quê Bình Định, xin nhận nơi nầy làm quê hương trước anh vài năm, còn Năm Tú đã ngoài “thất thập cổ lai hy”, là tu sĩ hoàn tục vì chưa dứt được nợ trần sau hơn mười năm nương náu chốn thiền môn. Ba anh thường xuyên gặp nhau, khi thì ở quán cà phê khi thì ở nhà người nầy người nọ, cùng nhau đàm đạo văn chương thơ phú, tiếng kệ lời kinh để tìm thư giản và sự an vui giữa cõi ta bà.
Một hôm, vào một chiều nắng đep, Hoanh mang bánh mứt, trái cây cùng Đính và Tú đến chỗ vợ chồng, con dâu tôi ở trọ mà không báo trước khiến tôi bối rối, ái ngại vô cùng. Căn phòng chật chội, đồ đạc lung tung lại không có bàn ghế khách ngồi!. Có lẽ biết được điều đó nên các anh vẫn tự nhiên, ngồi bệch xuống nền nhà trò chuyện.Vợ tôi nấu nước pha trà, gọt trái cây, bày bánh mứt ra đãi khách. Tôi nói lời khách sáo:
-Chẳng mấy khi rồng đến nhà tôm, rất hân hạnh được tiếp mấy anh. Tuy nhiên, do không làm chủ được tình thế mới phải đãi mấy anh trong hoàn cảnh nầy thật ái ngại, mong mấy anh thông cảm.
Đính cười ha hả, nói:
-Nếu không thông cảm tụi tui sẽ không đến đây, anh không cần phải khách sáo. Còn nữa, cái gì mà rồng đến nhà tôm? Đó là suy nghĩ của những người ích kỷ, kỳ thị, phân biệt đối xử. Đối với tụi nầy tất cả đều bình đẳng dù bạn thân hay sơ, ai cũng như ai chứ chẳng ai là rồng chẳng ai là tôm, anh cũng không nên tự ti rồi ái ngại.
-Phật Thích Ca có câu nói nổi tiếng “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Một đấng chí tôn mà coi mình ngang bằng chúng sanh thì thật có một không hai. Là phật tử thì phải noi theo tấm gương đó của Phật. Anh Tú phụ hoạ.
Hoanh đảo mắt nhìn quanh căn phòng rồi nói với tôi:
-Rất lấy làm tiếc khi gặp anh quá muộn. Nếu gặp sớm hơn tôi sẽ không cho anh ký hợp đồng ở trọ đến hai năm. Nhưng lỡ rồi, cứ tạm ở đây đi, chừng nào hết hợp đồng hẳn hay, tính tiếp.
Tôi còn đang ngơ ngác, chưa hiểu Hoanh muốn nói gì với tôi, Đính bèn giải mã ẩn ý của Hoanh:
-Anh Út có cái kho khá rộng lớn.
-Nhà chớ kho gì, cha nội? Hoanh cười, ngắt lời Đính.
Đính quay qua nói với Hoanh rồi quay lại nói với tôi:
-Nhà hay kho cũng thế thôi, phân biệt làm gì. Cái nhà đó ảnh để chứa hàng tạp hoá, thức ăn cho tôm và máy móc nông cụ.
-Treo ao rồi nghen? Hoanh lại ngắt lời Đính.
-Tui nói đúng chớ có sai đâu mà anh cứ ngắt lời tui hoài vậy? Trước khi treo ao anh để thức ăn ở đâu? Đính hỏi vui.
-Tại anh phạm tội vọng ngữ. Tú “buộc tội” Đính.
Đính cười ề hề, nói tiếp:
-Anh Út thấy anh mới chân ướt chân ráo về đây còn nhiều khó khăn thiếu thốn từ sinh hoạt đến ăn ở. Anh ấy tưởng anh ở phòng trọ nên định dọn dẹp nhà kho gọn gàng sạch sẽ rồi kêu anh về ở cho đỡ tốn tiền, mỗi tháng té ra được vài trăm ngàn thuê phòng, điện nước. Gần gũi cũng vui hơn, “tối lửa tắt đèn” có nhau. Nào ngờ anh ở nhà mướn và ký hợp đồng đến hai năm thành ra phải đợi mãn hợp đồng mới thực hiện được nhưng với điều kiện anh vẫn tiếp tục làm ăn ở đây. Điều kiện nầy do tui bổ sung chứ không phải của anh Út. Sao? Anh thấy thế nào? Đính hỏi tôi.
-Trước tiên tôi xin ghi nhận ý tốt của anh Hoanh và thay mặt vợ con chân thành cám ơn sự nhiệt tình của anh ấy và hai anh. Còn việc có tiếp tục ở lại hay không tuỳ thuộc vào việc làm ăn có phát triển thuận lợi hay không nên tôi không dám hứa chắc, mong các anh thông cảm. Tôi nói.
-Cứ quyết định vậy đi. Anh Tú đề nghị.
Thông thường, không câu chuyện nào được nói mãi trong lúc trà dư tửu hậu có nhiều người tham dự. Đề tài luôn thay đổi theo từng hình ảnh, từng biểu tượng trong lời nói hoặc trong thực tế. Như cuộc trò chuyện của chúng tôi chẳng hạn. Trước tiên nói về việc ăn ở, sau đó chuyển sang việc buôn bán của tôi. Rồi khi Hoanh hỏi xuất xứ của cái TV 14 inch thì đề tài chuyển sang những chương trình truyền hình mang tính nhân văn và nhân đạo của đài truyền hình Vĩnh Long. Trao đổi một hồi, Hoanh thở dài, than:
-Đã có chính sách xoá đói giảm nghèo mà sao vẫn còn nhiều người quá nghèo quá khổ? Có người còn bị tai ương dồn dập, đau thương chất chồng làm như tất cả mọi bất hạnh đều đổ hết lên đầu họ vậy! Thấy hoàn cảnh của họ thật tội nghiệp, thật đáng thương. Giúp đỡ họ như vậy cũng tốt nhưng chỉ là biện pháp tình thế. Làm sao giúp họ hết nghèo hết khổ mới căn cơ.
-Anh còn đóng góp vào “Địa chỉ nhân đạo” không? Anh Tú hỏi Hoanh.
-Còn. Tuần nào cũng có. Vài trăm ngàn thì ít nhưng nhiều suất vài trăm ngàn cũng được vài chục triệu, cũng giúp họ giải quyết được phần nào khó khăn.
-Sức người có hạn, của ít lòng nhiều. Vả lại, giày dép còn có số, tất cả đều do định mạng sắp đặt, an bài thì làm sao có thể cãi được số trời? Đính nói.
-Ông trời lại quá khắc nghiệt quá bất công. Phước thì “bất trùng lai” hoạ lại “vô đơn chí” thì tượng đá còn sụp đổ huống chi con người? Hoanh xót xa.
Anh Tú khẽ lắc đầu, đọc bốn câu thơ Kiều:
-“Đã mang lấy nghiệp vào thân. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn vốn tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
Tôi cùng Hoanh và Đính đều nhìn anh Tú chờ đợi một lời giải thích. Hớp ngụm trà thấm giọng, anh chẫm rãi nói:
-Mạng của mình do chính mình định đoạt chứ không ông trời nào vô đó định. Muốn ăn thì vô bếp muốn ngủ thì lên giường, đúng không? Hai anh nói y như trong phim tàu. Bất cứ chuyện gì, thành công hay thất bại, vui hay buồn, sướng hay khổ cũng đều bảo do ý trời, trong khi đó ông trời đã bị tề thiên đại thánh đuổi chạy mất rồi. Tú khôi hài.
Đính phản đối:
-Anh vừa đọc truyện Kiều mà không nhớ cụ Nguyễn Du đã viết :”Cho hay muôn sự tại trời. Trời kia đã bắt làm người có thân. Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao” ? Còn chính mình định đoạt mạng mình là sao, anh có thể giải thích cho tụi này nghe không?
Anh Tú gật đầu:
-Tất nhiên! Nói được thì giải thích được chớ. Cái gọi là ông trời chẳng những không có trong thế giới hữu hình mà cũng không có trong thế giới vô hình, siêu hình. Nhận vật đó là tên gọi khác của những nguyên lý của thiên nhiên đối với mọi sự vật và biến cố, nói gọn lại là thiên lý. Thiên nhiên có rất nhiều nguyên lý như nguyên lý vận động, nguyên lý chuyển dịch, liên hệ, tương tác, biến đổi, dung thông, nhân quả, vân vân và vân vân. Nguyên lý vận động được gọi là nghiệp. Nghiệp là khái niệm có từ đạo Bà la môn, sau nầy gọi là Ấn Độ giáo, có nghĩa là hành động. Lúc đầu khái niệm nầy chỉ nói đến sự vận hành của vũ trụ, về sau nó mới trở thành ý niệm bày tỏ tính tác động qua lại của sự vật và biến cố. Ý niệm nầy gọi là nghiệp báo mang ý nghĩa mình hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hành động và việc làm của mình. Phật Thích Ca là người đầu tiên đưa khái niệm này từ truyền thống nguyên thuỷ xuống bình diện con người, xem nó là mối liên hệ động lực mang tính tâm lý chứ không mang tính siêu hình. Mối liên hệ nầy tạo nên chuỗi mắc xích vô tận giữa nguyên nhân và kết quả trong cuộc sống con người từ đời trước đến đời sau. Thuyết “Thập nhị nhân duyên”, thuyết “Nghiệp, nghiệp báo” và “Nhân quả luân hồi” đều có liên quan mật thiết với chuỗi mắc xích nầy.
Đính rót thêm trà vào ly của anh Tú như để tiếp thêm năng lượng đã bị hao hụt nãy giờ. Anh Tú bưng uống rồi nói tiếp:
-Nghiệp rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của con người cả vật chất lẫn tinh thần. Nó xuất phát từ thân, khẩu và ý trong đó ý là chủ thể, thân và khẩu là phương tiện chuyển tải và cụ thể hoá ý nghĩ bằng hành động, việc làm. Nghiệp có thiện có ác. Theo thuyết “Nghiệp, nghiệp báo” và “Nhân quả luân hồi” thì “thiện ác đáo đầu chung hữu báo” cả trong ba đời hiện tại, quá khứ và tương lai. Từ đó cho thấy muôn sự đều tại mình, giàu nghèo, sang hèn, sướng khổ, thành bại… của mình đều do cách mình tạo nghiệp tức hành động và việc làm của mình. Tạo nhiều nghiệp lành sẽ được giàu sang, sung sướng, hạnh phúc, ngược lại, tạo nhiều nghiệp dữ sẽ bị nghèo hèn, khổ đau, bất hạnh. Nói mạng mình do chính mình định đoạt là vậy? Kinh Phật có câu:”Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị; dục tri lai thế quả, kim sinh tác giả thị”. Câu nầy có thể suy rộng ra là muốn biết con người kiếp trước và kiếp sau của mình như thế nào thì hãy xem sự hưởng thụ và hành động, việc làm của mình ngay trong đời hiện tại.
Về mặt xã hội cũng thế, ai làm việc xấu việc ác sẽ bị trừng trị, phê phán; ai làm việc tốt việc thiện sẽ được khen thưởng, biểu dương. Thấy kẻ tù tội hoặc bị tử hình, ai cũng biết ngay người đó đã làm việc xấu việc ác. Thấy người được khen thưởng, biểu dương ai cũng biết ngay người đó đã làm việc tốt việc thiện. “Gieo gió gặt bão”, “cười người hôm trước hôm sau người cười” là lẽ đương nhiên. Hồi nãy anh Hoanh có nói “thấy hoàn cảnh của họ thật tội nghiệp, thật đáng thương”. Từ tội nghiệp hàm chứa ý nghĩa đó. Nghiệp tạo ra tội, tội do nghiệp mà có cho nên từ nầy luôn luôn nằm trên đầu môi chót lưỡi của mọi người, khi thấy ai đó gặp hoạn nạn tai ương thì nó bật ra thành lời nói. Còn ông trời do con người tưởng tượng, nặn ra rồi nhân cách hoá, thần thánh hoá thành nhân vật siêu nhiên quyền uy tối thượng thống trị muôn loài, có quyền sinh sát và ban phước giáng hoạ cho mọi người. Mục đích của việc làm nầy không gì khác hơn giáo dục, răn đe và khuyến thiện. Cổ ngữ có câu:”Tác thiện thiên báo dĩ tường, tác bất thiện thiên báo dĩ ương”. Thiên đây là thiên lý chớ không phải ông trời. Các anh thấy thế nào?
Hoanh và Đính đều nín thinh. Nín thinh là biểu tượng của đồng tình. Phần mình, tôi nghĩ chắc kiếp trước tôi tạo nghiệp dữ nhiều hơn nghiệp lành nên kiếp nầy mới lao đao lận đận mãi. Phải có cây cân thiên lý tôi cũng nên cân thử xem có đúng như thế không?.
Truyện ngắn TRƯƠNG HOÀNG MINH