Khi đọc qua những bài viết phản ánh về thực trạng Phật giáo nước nhà hiện nay phổ biến trên một vài website, bản thân chúng ta là những tăng-ni trẻ, là những hạt giống trong vườn Đạo Pháp - có suy nghĩ gì không?
Riêng tôi, mỗi khi đọc những bài viết ấy, tôi cảm thấy thật chạnh lòng, đau xót. Đau về một nỗi đau mà các bậc Tôn Túc đã từng đau. Đau cho hiện trạng hiện nay và lo lắng cho vận mệnh Phật giáo Việt Nam ngày mai đây chẳng biết sẽ đi về đâu? Rồi còn mấy ai nhớ đến đạo Phật không, khi thế hệ các Phật tử lớn tuổi mỗi ngày trôi qua là mỗi ngày lại thêm nhiều người về nơi chín suối, trong khi đó thì thế hệ trẻ lại chưa có nhiều nhân duyên tiếp xúc để hiểu biết Đạo Phật? Bất cứ ai đã mang trong lòng một trái tim thiết tha với Đạo thì cũng đều có cùng một nỗi đau ấy.
Chúng ta là những người con ‘đích thực’ của đức Phật. Xin được gọi hai chữ ‘đích thực’ bởi vì chúng ta đang đứng trong hàng ngũ xuất gia, những người trực tiếp lèo lái con thuyền Chính Pháp. Thế mà có một lần nào chúng ta ưu tư, trăn trở trước tình hình Phật giáo nước ta ngày nay? Nếu đã biết suy tư, trăn trở như thế, thì chúng ta sẽ biến những ưu tư trăn trở ấy trở nên hiện thực như thế nào để ngày mai đây đạo Phật có thể phổ biến rộng rãi và đi sâu hơn vào lòng mỗi người?
Chúng ta nghĩ gì không khi số lượng Phật tử đến chùa chủ yếu là các bậc cao niên, và thế hệ trẻ dường như chưa hiểu biết mấy về đạo Phật? Các cụ già đến chùa phần nhiều là thực hành Phật giáo mang tính tín ngưỡng dân gian, lễ lạy cầu phúc, cầu bình an. Còn thanh thiếu niên đến chùa cũng chỉ là sự tình cờ, ngẫu hứng, và đôi khi chỉ mang tính hiếu kỳ, chứ chưa phải là thực tâm tìm hiểu đạo Phật. Công nhân viên chức, thỉnh thoảng thuận đường đi làm về ghé vào chùa lễ lạy chóng vánh cầu phúc, cầu tài, rồi cũng ra về. Thật sự, đối với giáo lý nhà Phật, họ chưa được một lần có cơ hội tiếp xúc nữa, lấy gì mà nói đến việc nghiên cứu để hiểu và tu tập. Còn nhiều nguyên nhân khác nữa khiến cho đạo Phật nước ta ngày một phát triển "yếu" hơn các tôn giáo bạn.
Song cũng đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại. Hơn thế nữa hàng tăng-ni trẻ chúng ta có nghĩ rằng một trong những nguyên nhân làm cho đạo Phật kém phát triển chính là vì chúng ta. Chính chúng ta tự nhận lấy khuyết điểm và tự gánh lấy trách nhiệm ấy? Thử hỏi, chúng ta làm sao có thể thuyết phục quần chúng Phật tử khi những người đệ tử Phật mới thoáng nhìn cứ ngỡ các cô gái, chàng trai tuổi đôi mươi ngoài xã hội, cũng xoe xua trang phục đầy màu sắc, cũng quần là áo lượt láng mướt lả lướt trên những chiếc honda, xe hơi đời mới, bóng loáng. Điện thoại thì nay model này, mai model kia, thay điện thoại như thay áo; và nghe những bản nhạc êm đềm mỗi khi có ai gọi đến?
Chúng ta không tự mình cảm thấy là mình quá tân tiến và quá xa lạ với cái thời mà chư Tổ hôm cháo, buổi rau, thế nhưng quý ngài vẫn đạt Đạo mà sử sách muôn đời còn nhắc tới. Cũng không thể phủ nhận một thực tế là xã hội ngày nay cần trang bị những phương tiện thông tin liên lạc cần thiết để hỗ trợ cho việc hoằng truyền Phật pháp. Cái thời mà đêm ngủ gốc cây, trên người không nắm giữ tịnh tài, tu hành nay đây mai đó có lẽ đã qua rồi. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xem những thứ ấy chỉ là phương tiện, là công cụ để phát triển Phật giáo, chứ không phải là một nhu cầu thiết yếu để chúng ta hướng đến. Có bao giờ chúng ta thức tỉnh nhận ra rằng, chúng ta đã quá lạm dụng những phương tiện liên lạc ấy không, khi mà mọi lúc mọi nơi chúng ta cũng đều có thể bấm máy điện thoại, có thể nghe và nói bằng điện thoại một cách tự nhiên? Nhất là chúng ta đã sử dụng chúng với mục đích hẹn hò để vui chơi... mà không quên đi những người phật tử đang ở xunh quanh ta, họ có điện thoại chưa? và họ có nghĩ rằng, tinh thần “Thiểu dục tri túc, an bần lạc đạo” trong số tăng ni trẻ chỉ còn nằm trong sách vở được cất trang trọng nơi tủ kia? Sống giữa chốn phồn hoa chúng ta có nghĩ đến Bổn sư chúng ta đang hàng ngày cháo cơm đạm bạc nơi vùng quê nghèo nàn để cho ta được đến trường không? Nỗi lòng của Thầy khi đệ tử đi học xa ta có hiểu được đâu? Bởi thế nên lắm lúc ta cũng bị cuốn vào dòng chảy vật chất để rồi tự đánh mất phương hướng, và lạc lối trên đường về. Vậy thì lúc ấy Bổn sư chúng ta biết tìm đâu hình ảnh người đệ tử ngày xưa ấy của mình, - người đệ tử mà vài năm trước đây, hay mười mấy năm trước đã tạm xa chùa, xa Bổn sư để cắp sách đến trường thì ngày nay cũng vị Bổn sư ngày xưa ấy, cũng con đường năm xưa ấy ... nhưng chưa một lần trở về.
Mỗi ngày chúng ta đều cập nhật tin tức trên mạng thì có khi nào hay vô tình đọc những bài viết, những trở trăn của chư Tôn Đức cũng như của giới Phật tử kỳ vọng vào sự phát triển mới, một bước đột phá mới cho nền Phật Giáo nước nhà. Họ luôn mong mỏi ở hàng ngũ tăng-ni trẻ, một đội ngũ nhân sự mới, có thể thổi một luồng sinh khí mới vào đạo Phật! Và chúng ta có tự hỏi mình rằng mình đã tự trang bị những kiến thức, vốn liếng cần thiết để vào đời, để nhập thế chưa? Ta đã thật sự ứng dụng hết những kiến thức tiếp thu ở trường vào trong cuộc sống tu học và vào công tác hoằng pháp để được lợi lạc cho bản thân và cho tha nhân chưa? Muốn vào đời để giáo hóa chúng sanh thì trước hết tự bản thân chúng ta phải có nội lực, có công phu tu tập. Nếu không như vậy, chúng ta sẽ bị đời thế tục hóa. Lúc mới ra trường thì ai trong chúng ta cũng đều mang một chí nguyện độ đời thiết tha lắm, nhưng khi giáp mặt với đời thay vì độ ‘đời’ thì lại bị ‘đời’ độ. Thế nên giờ chúng ta mới hiểu vì sao trong Luật Sa-di và Sa-di-ni, đức Phật dạy rằng, người mới xuất gia nhập đạo trong 5 năm đầu phải ở với Bổn sư học tập Giới luật để rèn luyện oai nghi, tế hạnh. Khi được hun đúc trong những năm tháng đó, tự thân ta dù sau này không ai nhắc, ta cũng biết ứng xử thế nào cho hợp với Đạo, cho đúng Luật. Ta phải tự trang bị cho mình những vốn liếng cần thiết để sau này khi cần ta sẽ dùng đến. Giữa dòng chảy cuộc sống bộn bề, chúng ta phải trả một cái giá đắt trong công phu tu tập thì mới mong có thể nhận ra được lối đi về. Tuy nhiên, điều này không phải là không thực hiện được. Chỉ cần chúng ta có một chí nguyện cao cả, một lòng hướng về ĐẠO, nguyện sống trọn cho ĐẠO thì dù sống bất cứ nơi đâu chúng ta không cảm thấy đơn độc, để phải đi tìm cái gì đó lấp vào khoảng trống ấy, bởi lẽ khi ấy chúng ta sống có niềm vui trong ĐẠO, chúng ta thấy an lạc, bình thản thì còn đâu mong mỏi một cái gì bên ngoài ta nữa?
Làm sao tôi có thể nói cạn lời khi những gì nói cho bạn cũng là nói cho chính tôi! Điều mà tôi muốn nói với chính tôi thì nhiều lắm, và dường như chưa bao giờ tôi có thể nói hết với chính tôi. Bởi vì, tôi hiểu rằng, trên con đường trở về kia lắm lúc mình cũng phải trầy da, sứt vẩy, thậm chí đôi khi, tưởng chừng như ngã quỵ giữa dưới ánh đèn phồn hoa đô thị . Thế nên, trên lối về, hy vọng chúng ta sẽ cùng nắm tay nhau, cùng song hành để thục hiện lý tưởng mà chúng ta đã chọn "phát túc siêu phương...." từ cái thuở ban sơ ấy. Và còn nhiều điều tôi muốn tâm sự, muốn chia sẻ, muốn những người bạn của tôi cùng tôi giải tỏa những nội kết trong tôi và trong các bạn nữa. Tôi cảm thấy xốn xang khi tăng-ni trẻ chúng ta chưa dám nhìn thẳng vào chính mình. Phải chăng, là những người trong cuộc mà chúng ta vẫn chưa tìm ra lối đi nào để hướng đến?
Hy vọng trong cuộc đời xoay vần này, chúng ta sẽ tìm thấy nhau, sẽ gặp lại nhau để tâm tình, để trao cho nhau niềm tin, để thực hiện trọn vẹn những mơ ước mà bấy lâu ta ấp ủ. Tôi muốn viết lời tâm tình của mình đó thật chân quê như những con sông quê hương nhè nhẹ êm đềm mà thấm sâu vào lòng người. Nhưng khả năng của tôi thì giới hạn nên chỉ có nói ra được những lời lẽ mộc mạc trên đây để gửi đến chư pháp hữu quê nhà. Nơi phương xa tôi luôn cầu mong những người pháp lữ của tôi an trú trong ngôi nhà Chánh Pháp mặc cho ngoài trời kia vẫn đang mưa!
Quang Đức Tự : 31/10/2008
TN. Huệ Thiện