Thơ - Văn mới cập nhật
Ngày giỗ Mẹ
Chia sẻ bài thơ “Hãy gọi đúng tên tôi”
Cầu nguyện cho Thầy Thích Nhất Hạnh
Mặc Xuân
Hãy gọi đúng tên tôi
Hạt cát tinh khôi
Chiếc vòng của Mẹ
Trở về mái nhà xưa
Gặp lại chính mình
Khó, dễ trong Đời
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
17:33, Monday.December 22 2014
Quy luật phủ định của phủ định với việc bảo tồn Phật giáo Việt Nam
 
Dòng đời cứ luôn trôi chảy không ngừng, xã hội cứ thay đổi trong vô tận. Cuộc sống của ngày hôm qua mang dáng vẻ thâm trần tế nhị, kín đáo của miền miền sơn cước thì ngày hôm nay đã phải khoác lên mình mảnh áo của thời hiện đại với nhiều cách điệu tân thời.
TRÌNH BÀY NỘI DUNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CÁI PHỦ ĐỊNH VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT NÀY ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TRƯỚC SỰ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
I. DẪN NHẬP
Dòng đời cứ luôn trôi chảy không ngừng, xã hội cứ thay đổi trong vô tận. Cuộc sống của ngày hôm qua mang dáng vẻ thâm trần tế nhị, kín đáo của miền miền sơn cước thì ngày hôm nay đã phải khoác lên mình mảnh áo của thời hiện đại với nhiều cách điệu tân thời. Cũng một dáng dấp ấy nhưng trên hình thức và cả trong lòng nó không còn thoang thoảng “hương đồng gió nội” như xưa mà thay vào đó, cuộc sống đã tạo nên một lối sống với những dáng vẻ nhanh nhẹn, tri thức và cả thực dụng của kỷ nguyên kỷ thuật số.
Thế kỷ 21 này được mọi người xem là thế kỷ của sự hội nhập, thế kỷ của thời đại thông tin. Bất cứ quốc gia hay lãnh thổ nào nếu muốn tiến bộ, phát triển cùng với trào lưu chung của thế giới đều phải có những bước đi cụ thể và tích cực mới bắt kịp thời đại nếu không sẽ bị cô lập bởi những rào cản do mình tạo ra.
Nhận thức được tầm quan trọng của hội nhập quốc tế, nước Việt Nam ta đã có những động thái chuyển đổi rất cần thiết như vừa qua chúng ta tổ chức thành công hội nghị Thương mại và phát triển Châu Á Thái Bình Dương (APEC), được chính phủ Mỹ thông qua quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) và đặc biệt nhất là việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO).
Là một phần của đất nước và dân tộc, Phật giáo Việt nam không thể đứng biệt lập ra ngoài trào lưu chung mà cần phải hội nhập quốc tế, cần phải ngày càng hoàn thiện bản thân và tổ chức giáo hội để có thể đem lợi ích an lạc cho khắp chúng sanh như đức Phật đã từng dạy và từng làm.
Trước tình hình chung như thế, Phật giáo cần phải làm gì để ứng dụng vào cuộc đời mà không đánh mất bản sắc, giá trị là một vấn đề cần phải được nhận thức và soi sáng không ai khác hơn ngoài Phật giáo. Tuy nhiên, để thử giải quyết vấn đề này, chúng ta xem quy luật biện chứng Phủ định của phủ định trong triết học Marx và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này đối với Phật giáo Việt Nam ở hiện tại như thế nào trong vấn đề bảo tồn Phật giáo.
Tất nhiên, với một đề tài có tính cách rộng lớn và quy mô như thế mà chỉ có năm ba trang viết trong kỳ thi cuối mùa của một năm học chắc khó có thể nói hết những gì hàm ẩn mà chính đề bài đã nêu lên. Do vậy, ở đây chỉ trình bày những nét sơ lược mà không đi sâu phân tích vào những vấn đề rộng lớn được.
II. QUY LUẬT LÀ GÌ
1. Định Nghĩa Quy Luật
Trong cuộc sống hằng ngày, con người dần dần nhận ra được tính trật tự và mối liên hệ lập đi lập lại đằng sau các hiện tượng, sự vật với muôn hình vạn trạng khác nhau. Sự lặp đi lặp lại ấy chính là những khái niệm về quy luật.
Với tư cách là phạm trù của nhận thức thì quy luật là sản phẩm của tư duy khoa học phản ánh sự liên hệ giữa các sự vật và tính chỉnh thể của chúng; còn với tư cách là cái tồn tại ngay trong hiện thực, quy luật là mối liên hệ đến các vấn đề về bản chất phổ biến, lặp đi lặp lại của các sự vật hay hiện tượng qua các mặt, các yếu tố và bản chất bên trong. 
2. Các Loại Quy Luật
Cuộc sống muôn màu muôn vẻ bao nhiêu thì quy luật cũng đa dạng và phong phú bấy nhiêu. Nó được thể hiện ở tất cả các phạm trù khác nhau, từ phạm vi, mức độ phổ biến và cả tính chất của các sự vật. Nếu căn cứ vào trình độ phổ biến thì ta có thể chia quy luật ra làm thành:
- Quy Luật Riêng: chỉ cho những quy luật chỉ tác động trong một phạm vi nhất định của sự vật, hiện tượng. Như vận động cơ giới, hoá học, sinh học v.v…
- Quy Luật Chung: là những quy có phạm vi tác động lớn hơn ở nhiều hiện thượng sự vật khác nhau như quy luật: bảo toàn năng lượng, lực hút của trái đất…
- Quy Luật Phổ Biến: là những quy luật mà phép biện chứng duy vật nghiên cứu bao hàm toàn bộ các sự vật, hiện tượng từ tự nhiên xã hội và cả tư duy.
Căn cứ vào lãnh vực tác động ta cũng có thể chia quy luật thành ba nhóm khác:
- Quy luật tự nhiên là những quy luật được sinh ra và tác động trong giới tự nhiên và cả cơ thể con người mà chưa thông qua vấn đề nhận thức.
- Quy Luật xã hội là những quy luật nảy sinh do con người hoạt động có ý thức của con người trong xã hội nhưng vẫn hoàn toàn mang tính khách quan.
- Quy luật tư duy là những quy luật nói lên mối liên hệ nội tại của các phạm trù, khái niệm, phán đoán… từ những quy luật này mà con người có tri thức về sự vật.
Riêng về Phép biện chứng duy vật của triết học Marx thì nghiên cứu về những Quy luật phổ biến tác động trong tất cả các lãnh vực của đời sống từ tự nhiên, xã hội cho đến tư duy của con người. Nó được bao hàm trong ba quy luật cơ bản:
- Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại trình bày về cách thức phát triển của sự vật, trong đó lượng thay đổi chất và chất cũng thay đổi lượng. Lượng bao giờ cũng là lượng của một chất và chất bao giờ cũng là chất của một lượng. Khi lượng của một chất biến đổi đến một điểm tới hạn thì dẫn đến sự biến đổi về chất. Chất mới ra đời tạo nên sự thống nhất giữa lượng và chất.
- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật nói rõ nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển của sự vật. Trong đó trình bày tất cả mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều là thể thống nhất của các mặt đối lập, chính sự đấu tranh giữa các mặt đối lập và sự chuyển hoá giữa chúng là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
- Quy luật phủ định của phủ định chỉ rõ khuynh hướng của sự vận động, phát triển của sự vật và sự liên hệ giữa cái cũ và cái mới.
Trong ba quy luật đó đều hoàn toàn mang tính khách quan, đều trình bày về quá trình phát sinh, vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên, ở đây ta chỉ tìm hiểu riêng về quy luật phủ định cái phủ định mà thôi.
III. QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CÁI PHỦ ĐỊNH
1. Khái Niệm Phủ Định Và Phủ Định Biện Chứng
Trong thế giới hiện tượng, vật chất các sự vật luôn luôn biến chuyển thay đổi, sinh ra, tồn tại và mất đi. Sự vật cũ mất đi được thay bằng những sự vật, hiện tượng mới, sự thay thế đó được gọi là sự phủ định. Sự phủ định sự vật này là một quy trình tất yếu trong quá trình vận động và phát triển sự vật mà không phải phủ định là xoá bỏ hoàn toàn cái cũ như các nhà siêu hình học nhìn nhận.
Theo triết Marx, phủ định phải là phủ định biện chứng, tức là sự phủ định tạo tiền đề, điều kiện cho sự phát triển liên tục, từ cái cũ thành cái mới, hoàn thiện, phức tạp và cao cấp hơn cái cũ. Tuy nhiên, phủ định biện chứng là sự phủ định tự thân, từ sự phát triển tự thân nên phủ định biện chứng mang những đặc trưng cơ bản sau:
a. Tính Khách Quan: các sự vật luôn luôn nằm trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển do sự đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn bên trong của các sự vật. Từ đấu tranh các mâu thuẫn mà sự vật luôn phát triển không ngừng, do vậy, phủ định biện chứng luôn mang tính khách quan trong quá trình vận động và phát triển.
b. Tính Kế Thừa. Phủ định là phát triển tự thân của sự vật nên nó không phải thủ tiêu cái cũ mà là gạt bỏ những cái xấu, không tốt, lạc hậu để tiếp thu, chọn lọc những cái hay, cái đẹp khi hình thành cái mới. Do vậy, cái mới đó được hình thành từ cơ sở chọn lọc của cái cũ. Cái mới là mới từ cái cũ và cái cũ là cũ của cái mới. Giữa cái cũ và cái mới có mối liên hệ và khắng khít với nhau. Đó chính là tính kế thừa của phép phủ định biện chứng.
Trong quá trình phủ định biện chứng, phủ định đồng thời cũng là khẳng định, phủ định mặt xấu, tiêu cực còn khẳng định những mặt tích cực, tốt đẹp. Do vậy, cái mới có mặt là một phần tất yếu, xuất phát từ cái cũ nhưng khác chất cái cũ. Và tất nhiên, quy trình phủ định biện chứng cần phải đảm bảo được ba điều kiện sau:1) Tính thời đại. 2) Tính dân tộc. 3) Tính mỹ thuật. 
2. Nội Dung Quy Luật Phủ Định Cái Phủ Định
Trong quá trình vận động và phát triển, sự vật mới được ra đời trên cơ sở khẳng định và phủ định sự vật cũ. Khi hai mặt mâu thuẫn đấu tranh với nhau mà vượt qua giới hạn độ thì sự vật mới ra đời, phủ định biện chứng có mặt. Thế nhưng sự vật không dừng lại ở đó mà nó lại tiếp tục đấu tranh giữa các mặt mâu thuẫn mới và một lần nữa cái mới đó bị cái mới hơn phủ định. Quá trình phủ định hai lần đó được gọi là Phủ định của phủ định và từ đây “sự vật mới hoàn thành một chu kỳ phát triển”.[1]
Quá trình phủ định cái phủ định của sự vật đó làm xuất hiện những sự vật mới là kết quả tổng hợp tất cả các yếu tố tích cực mới được bổ sung và từ những lần khẳng định và phủ định trước đó. Quy luật phát triển liên tục, điểm kết thúc của chu kỳ này lại là điểm bắt đầu của một chu kỳ mới. Do vậy, kết quả phủ định cái phủ định luôn luôn bao giờ cũng có hình thức mới hơn, có nội dung toàn diện và phong phú hơn những cái ban đầu.
Tuy nhiên, sự tiến lên của sự vật không theo con đường thẳng tắp mà được diễn ra theo hình “xoắn ốc”. Bởi “sự phát triển theo đường “xoắn ốc” là biểu thị sự rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên”.[2]
Khi nghiên cứu về Quy luật phủ định của phủ định chúng ta không nên máy móc trong nhận thức. Nghĩa là chúng ta không nên khăng khăng cho rằng sự vật, hiện tượng phải đủ hai lần phủ định mới hoàn thành một chu kỳ phát triển. Thực ra, có nhiều sự phát triển còn cần nhiều hơn cả con số hai lần phủ định như thế, hai lần là con số tối thiểu, chẳng hạn quá trình biến đổi trứng thành con tằm. Do vậy, trong vấn đề nhận thức quy luật này, chúng ta cần phải linh hoạt, không được máy móc. Không nên lấy cái cố định để ràng buộc cái bất định, nếu làm như thế là đi sai với quy luật và đó là một sai lầm.
3. Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
Từ việc nghiên cứu quy luật phủ định của phủ định trên, chúng ta rút ra được một số ý nghĩa phương pháp luận sau:
- Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian.
- Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó.
- Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội. Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển. Và, để có thể phát hiện và tạo điều kiện cho cái mới phát triển chúng ta cần phải:
+ Có một thái độ nhận thức đúng đắn.
+ Nắm bắt được nhưng quy luật.
+ Dũng cảm để đối diện với sự thật, biết đợi chờ, không chủ quan, nôn nóng.
Trên đây là sơ lược về nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định. Giờ chúng ta đi tìm hiểu ứng dụng của chúng vào việc phát triển Phật giáo Việt Nam thời hội nhập như thế nào.
VI. SƠ LƯỢC VỀ ĐẠO PHẬT VÀ SỰ DU NHẬP PHẬT GIÁO
Có người do vì không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, do nhầm lẫn hay cố tình xuyên tạc mà cho rằng Phật giáo là tôn giáo thần quyền, mê hoặc như những tôn giáo khác. Đây là một sự ngộ nhận đáng tiếc và có phần tội nghiệp bởi thực chất Phật giáo không phải là một tôn giáo đúng nghĩa như những tôn giáo thần quyền tôn sùng ở thượng đế. Ở một mặt nào đó, Phật giáo có thể mang ý nghĩa của một tôn giáo nhưng ở mặt khác Phật giáo hoàn toàn là tập hợp những vấn đề về triết học bởi về hình thức thì “có sự sùng bái và nghi thức Phật giáo, nhưng Phật giáo không có một thượng đế toàn năng, tạo hoá… vì vậy trong Phật giáo “không có sự thờ phượng, cầu nguyện hay rất nhiều điều khác mà thường được kể bằng định nghĩa trong phạm trù tôn giáo””.[3] Vì vậy, để hiểu Phật giáo một cách đúng đắn chúng ta không thể nào không biết đến lịch sử vị giáo chủ và tinh thần hoằng pháp của đạo Phật.
1. Sơ Lược Lịch Sử Đức Phật Và Đạo Phật
Nói đến Phât giáo thì chúng ta không thể nào không biết đến lịch sử của đức Phật, người sáng lập ra đạo Phật. Như chúng ta được biết, đức Phật tên là Gotama (Cồ Đàm) thuộc dòng dõi Sakya (Thích Ca), người nước Ấn Độ, sinh vào năm 624 Tcn và nhập diệt năm 544 tcn.[4] Đương thời, trước khi xuất gia Ngài là Thái tử Sidhattha (Tất Đạt Đa) con vua Tịnh Phạn (Soddhodhana) và hoàng hậu Ma Da (Mayà). Ngài rất khôi ngô đĩnh đạc, trí tuệ siêu phàm nên được vua cha và triều thần mến kính. Thuở nhỏ, với trí tuệ siêu phàm nên chỉ trong một thời gian ngắn Ngài đã tinh thông tất cả các bộ thánh điển Vedà và các món văn chương võ nghệ, không có bất cứ thứ gì Ngài không thông suốt.
Năm 19 tuổi, sau khi nhận thức được những cảnh đời vô thường ngài đã từ giã hoàng cung sang trọng để vào rừng xuất gia. Sau 5 năm tu học, 6 năm khổ hạnh và 49 ngày đêm ngồi dưới cội bồ đề ngài đã chứng quả Vô thượng Bồ đề, mà chứng ta gọi là thành Phật (Buddha).[5] Từ đó, đạo Phật được thành lập với những giáo lý cơ bản như Duyên sinh, Vô ngã, Ngũ uẩn, Tứ đế, Vô thường, Nhân quả nghiệp báo, Niết bàn và với tinh thần như từ bi, trí tuệ, giải thoát, nhân bản, bình đẳng,v.v… ngoài ra còn rất nhiều tư tưởng khác được thể hiện trong kinh điển và trong đời sống đức Phật. Ngài nhập Niết Bàn năm 80 tuổi, hoằng hoá đạo Phật trong 49 năm.
Đương thời Ngài tại thế, Phật giáo đã nhanh chóng hoà nhập vào tất cả mọi tầng lớp dân cư Ấn độ, từ Sát đế lợi, Bà la môn cho đến hạng cùng đinh, tất cả đều được thấm nhuần ân đức từ bi của Phật. Sự ra đời của Phật giáo như một hồi chuông cảnh tỉnh xoá tan tất cả những định kiến của xã hội thời đó bởi Phật giáo không chủ trương có giai cấp mà ngược lại đức Phật dạy ai cũng bình đẳng như nhau, mọi người đều có khả năng giác ngộ và thành Phật: “không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, trong giọt nước mắt cùng mặn,”.[6] Ngài lại nói “ta là Phật đã thành và chúng sanh là Phật sẽ thành” có nghĩa là mọi người đều có khả năng như ngài, giải thoát mọi khổ đau. Tăng đoàn Phật giáo là nơi thể hiện một cách đầy đủ về những tinh thần ấy.
Chính nhờ tinh thần đó mà đạo Phật nhanh chóng lan truyền khắp vương quốc Ấn độ. Từ nước Kosala, Vaji, Vaisali đến vương quốc hùng mạnh Magadha, tất cả đều theo Phật giáo. Sau Phật diệt độ thì Phật pháp càng thịnh hành trên toàn cõi Ấn độ và có lúc Phật giáo gần như trở thành quốc giáo trong triều đại vua Asoka (A Dục), triều vua Kaniska v.v… Kể từ đó Phật giáo vượt ra khỏi phạm vi đất nước Ấn Độ mà lan truyền khắp các nước để đem an lạc cho mọi người.
2. Sự Du Nhập Và Phát Triển Phật Giáo
Theo thời gian với tinh thần hoằng hoá độ sanh, muốn cho tất cả mọi người được thấm nhuần ân đức Từ bi và giải thoát của Phật đà nên Phật giáo dần lan truyền đến khắp các nước ven vùng Ấn độ. Ban đầu Phật giáo truyền vào Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan rồi mới đến các nước Việt nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều tiên v.v… Ngày nay, Phật giáo không chỉ còn nằm trong khu vực châu Á như trước mà tầm hưởng đã lan rộng ra khắp thế giới từ châu Âu, Mỹ, Úc, Phi với số lượng người theo đạo Phật cũng dần dần tăng lên.
Khi Phật giáo đến các nước trên liền nhanh chóng được tiếp nhận và hoà hợp như nước với sữa. Tuy có lúc vì những điều kiện địa dư và tâm lí trong từng quốc gia mà Phật giáo đã phát triển thành nhiều pháp môn khác nhau nhưng tất cả cũng chỉ vì đáp ứng những nhu cầu đa dạng về tâm linh cũng như đem lại lợi ích, an lạc cho người nhân dân trong quốc gia ấy. Điều này lại càng tỏ rõ hơn khi chúng ta nhìn vào hình ảnh Phật giáo Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Nhật Bản v.v… với những hình ảnh sắc thái khác nhau nhưng lí tưởng Phật giáo luôn luôn được bảo đảm.
Một điều chúng ta dễ dàng nhận thấy đó là đi đến đâu thì Phật giáo gắn liền với văn hoá theo từng quốc gia và trở thành một phần cơ thể của dân tộc. Chưa khi nào Phật giáo đi ngược lại những lợi ích dân tộc, quốc gia dù bất cứ lí do gì. Tuy nhiên, hoà nhập mà chưa bao giờ đánh mất bản chất của mình, bản chất giải thoát giác ngộ, dù có trải qua nhiều năm tháng biến thiên của lịch sử.
 3. Phật Giáo Việt Nam
Cũng như các nước khác, khi truyền vào Việt Nam những năm đầu kỷ nguyên Tây lịch thì Phật giáo đã nhanh chóng hoà nhập với nền văn hoá bình dân, kín đáo và tế nhị của người dân Việt nam. Vốn là một tôn giáo đến sau cả Nho giáo và Lão giáo nhưng Phật giáo nhanh chóng đã xác lập được vị trí của mình trong lòng người dân Việt nam. Không những vậy, chỉ một thời gian ngắn, Phật giáo vượt qua cả những tôn giáo trên để trở thành một tôn giáo có tầm ảnh hưởng nhất trong mọi vấn đề sinh hoạt của người dân lúc bấy giờ.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà Phật giáo Việt Nam lúc mới du nhập đã mang đậm phong cách và tín ngưỡng của người Việt Nam như tín ngưỡng phật Pháp Vân, phật Pháp Võ, phật Pháp Lôi và phật Pháp Điện.[7] Mỗi một hình tượng, mỗi một tên gọi của Phật giáo bấy giờ đều gắn liền với niềm tin, với ước vọng của dân tộc. Sở dĩ như vậy là “do nền tảng triết lý đạo Phật, dù của Nam hay Bắc truyền, đượm nhuần chất liệu nhân bản sâu sắc, con đường truyền bá đạo Phật chưa bao giờ gắn liền với dấu giày xâm lược của các đế quốc thực dân. Phật giáo được các dân chúng trên nền văn hoá mới tiếp nhận như một dưỡng chất tinh thần và tâm linh mới, thay thế cho cấu trúc lệ thuộc thần quyền của các tôn giáo nhất thần hay đa thần vốn nặng về mê tín sợ hãi”.[8]
Không những ngay trong thời bình hay khi mới du nhập, Phật giáo Việt nam luôn hết mình dấn thân vào cuộc đời dù trước mắt có chuyện gì đang xảy ra. Trong thời kì chống chế độ Phong kiến Trung quốc để dành độc lập cho dân tộc, hình ảnh Phật giáo, nhất là các nhà sư luôn ở trong tư thế tiên phong. Tinh thần ấy đã làm cho nước Việt nam hãnh diện và tự hào rằng mình cũng là một nước Đại Cồ Việt chứ không phải một nước nhược tiểu. Đặc biệt là vai trò Phật giáo trong thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần. “Có một thời rất lâu dài trong lịch sử nước ta, nhà chùa là nhà trường và nhà sư là nhà giáo”[9] và chính trong những thời kỳ đó, với tinh thần từ bi, bao dung, trí tuệ và sự trợ giúp một cách nhiệt tình của các nhà sư mà dân tộc Việt nam ta dưới thì bình Chiêm, trên thì phạt Bắc đến nỗi ba lần đánh tan quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất lúc bấy giờ.
Từ đó đến nay, gần 2000 năm, trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm thế cuộc, Phật giáo vẫn tồn tại và ăn sâu bám rễ vào mảnh đất Việt nam với một nét rất riêng, rất dân tộc. “Phật giáo đã tìm được con đường thích hợp để đến với xã hội, và xã hội đương thời đã tiếp nhận Phật giáo với một quy mô này ngày càng phong phú và rộng lớn hơn. Thư tịch cổ và đặc biệt là kho tàng phong phú của truyền thuyết dân gian đã xác nhận điều này”.[10]
Những năm gần đây, tuy vai trò Phật giáo không còn có địa vị đặc biệt như trong thời Đinh, Lê, Lý, Trần nhưng Phật giáo vẫn thể hiện đầy đủ tinh thần trách nhiệm vì dân tộc, vì quốc gia khi đã góp phần không nhỏ vào công cuộc đánh đuổi quân xâm lăng giành lại độc lập để đất nước thanh bình như ngày hôm nay. Và đó cũng chính là cách mà Phật giáo đã làm không những ở Việt Nam mà đối với tất cả các quốc gia, dân tộc khác khi Phật giáo đi qua.
V. VẤN ĐỀ BẢO TỒN PGVN TRƯỚC SỰ HỘI NHẬP QUỐC TẾ QUA Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
Mỗi một quốc gia đều có những giai đoạn, cột mốc đánh dấu sự thay đổi và phát triển trong từng thời điểm lịch sử cụ thể. Mỗi một giai đoạn như thế, sự thay đổi sẽ mang những hình dáng khác nhau nhưng tất cả đều phải vận động và đổi thay. Đó là điều tất yếu. Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, vấn đề phát triển và đổi thay lại một lần nữa được nhắc đến và đổi thay, phát triển như thế nào là vấn đề ta cần tìm hiểu.
1. Mối Quan Hệ Giữa Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
a. Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội Là Gì?
- Tồn Tại Xã Hội: là toàn bộ những điều kiện đời sống vật chất của xã hội bao gồm hoàn cảnh địa lý, điều kiện dân số và phương thức sản xuất ra của cải vật chất. Những điều kiện vật chất của hội này hoàn toàn tồn tại khách quan, không có bị lệ thuộc vào bất cứ một vật gì, kể cả ý thức con người. Chẳng hạn như vấn đề dân số, cá nhân con người có thể thay đổi, giai cấp có thể mất nhưng loài người không bao giờ mất. Cũng vậy, phương thức sản xuất tồn tại khách quan không bị lệ thuộc như hai cái trước nhưng chính là yếu tố quan trọng nhất trong vấn đề tồn tại xã hội.
- Ý Thức Xã Hội: là cái phản ánh tồn tại xã hội bao gồm những tư tưởng, quan điểm, luận lí, tâm trạng, tập quán, truyền thống v.v… trong từng giai đoạn phát triển theo lịch sử khác nhau. Xã hội có hai bộ phận cấu thành đó là tâm lí xã hội và hệ tư tưởng. Đó là hai trình độ, phương thức phản ánh xã hội theo từng tình huống khác nhau nhưng chúng có mối tác động hỗ tương lẫn nhau.
Ngoài ra, tồn tại xã hội còn chia thành hai loại khác đó là ý thức cá nhân, giai cấp, dân tộc gia đình và ý thức xã hội (bao gồm toàn thế giới). Mỗi loại ý thức tồn tại tuỳ thuộc vào phương thức sản xuất. Phương thức quyết định tất cả. Do vậy, suy cho cùng, đấu tranh xã hội cũng vì kinh tế, khi vấn đề kinh tế thay đổi thì ý thức xã hội cũng phải thay đổi theo.
b. Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
- Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội. Có nghĩa là tồn tại xã hội quyết định nội dung ý thức xã hội. Tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội như thế ấy. Khi tồn tại xã hội “nhất là phương thức sản xuất thay đổi thì những tư tưởng và lí luận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hoá, nghệ thuật v.v… sớm muộn cũng sẽ biến đổi theo”.[11]
- Tính Độc Lập Tương Đối Của Ý Thức. Mặc dù ý thức xã hội do tồn tại xã hội quyết định nhưng ý thức có tính độc lập tương đối. Tính độc lập đó biểu thị ở: Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội, nghĩa là khi xã hội thay đổi mà ý thức xã hội chưa hoàn toàn thay đổi với tồn tại xã hội; Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội do nắm bặt được quy luật của sư vật hiện tượng, đặc biệt là ý thức lí luận khoa học; Ý thức luôn mang tính kế thừa sàng lọc và tác động trở lại tồn tại xã hội.
Ngoài ra, để bảo tồn Phật giáo chúng ta cần phải biết được những vấn đề của thời đại hội nhập và tình hình Phật giáo ở trong thời đại đó sẽ chịu những tác động và ảnh hưởng như thế nào môi trường mang tính toàn cầu như thế.
2. Những Vấn Đề Chung Của Thời Đại
Trong những thập niên gần đây, vấn đề hội nhập đối với các quốc gia trên thế giới được xem là ưu tiên số một. Muốn phát triển thạnh vượng thì không có cách nào khác là hội nhập. Nói đến hội nhập là nói đến một lãnh vực mà trong đó mọi người trong một cộng đồng cần phải tìm cách hoà nhập với những cộng đồng chung trên toàn thế giới về các mặt của đời sống như văn hoá, chính trị, khoa học kỷ thuật… đặc biệt nhất là lãnh vực kinh tế. Hội nhập có nghĩa là mọi người nếu tham gia vào trong đó thì sẽ được hưởng những đặc quyền và lợi ích nhất định theo tiêu chuẩn chung của toàn thế giới để có thể cải tiến và phát triển nền kinh tế, khoa học kỷ thuật nước nhà.
Hội nhập thì những thành viên trong đó sẽ có những điều kiện thuận tiện và hưởng những quyền lợi nhất định tương xứng. Thế nhưng hội nhập không có nghĩa rằng mình chỉ nhận toàn quả ngọt mà không gặt hái những trái đắng. Trái đắng và quả ngọt là hai mặt của một vấn đề. Nếu chúng ta không có sự chọn lựa, sàng lọc thì trái ngọt chẳng bao nhiêu mà trái đắng ắt sẽ rất nhiều bởi khi hội nhập thì chúng ta phải mở của thị trường trong nước để cho các mặt hàng, sản phẩm từ bên ngoài đưa vào. Khi ấy, cơ hội cạnh tranh, buôn bán của chúng ta được tăng lên nhưng mặt trái của nó là vấn đề kiểm soát an ninh của chúng ta về nhiều vấn đề bị hạn chế; những tệ nạn, các loại văn hoá phẩm đồi truỵ xâm nhập; nền kinh tế bị thao túng dẫn đến sự lạm phát hay suy thoái kinh tế… Nếu chúng ta không có một cơ chế ổn định, tính kiện toàn của hệ thống luật pháp thì hậu quả sẽ phải gánh chịu như những quốc gia Nam Mỹ trong những năm vừa rồi đã mắc phải.
Về mặt nổi là như thế nhưng ở mặt khác của đời sống là xã hội sẽ bị suy thoái đạo đức, đời sống sẽ bị rối loạn bởi những vấn đề nhạy cảm trong hội nhập. Một điều tất yếu sẽ xảy ra như Marx đã nói rằng khi phương thức sản xuất biến đổi thì những vấn đề thuộc ý thức xã hội cũng biến chuyển. Có một điều là khi kinh tế tăng cao, đời sống vật chất phát triển bao nhiêu thì vấn đề tinh thần đạo đức của con người tỉ lệ nghịch bấy nhiêu. Một khi đạo đức suy thoái thì đời sống là cả một sa mạc hoang tàn, và trần gian là một cõi chết như có nhà tư tưởng phương Tây nhận định: “Khoa học không lương tâm chỉ là sự huỷ diệt của tâm hồn”.[12]
3. Tình Hình Phật Giáo Việt Nam Hiện Nay
Phật giáo phát triển tại Việt nam gần 2000 năm và cũng đã nếm đủ mùi vị đắng cay, thăng trầm cùng dân tộc, tuỳ theo hoàn cảnh và tình hình mỗi lúc mà Phật giáo có những hình thức riêng biệt. Tất cả đều không ngoài mục đích đem lại lợi ích và hạnh phúc cho chúng sanh. Vì thế, để phù hợp theo từng giai đoạn, thời cuộc, Phật giáo đã khoác cho mình rất nhiều thức để có thể đem lại lợi ích cho dân tộc và tất nhiên chỉ có lợi ích của dân tộc mới là trường cữu. Ngoài ra, tất cả các mục đích lí do khac đều sẽ bị hoại diệt mà Phật giáo trong hiện tại sẽ chứng minh cho điều đó.
Trước tình hình hội nhập, Phật giáo phải đồng hành như một phần của dân tộc. Nghĩa là, người dân trong đất nước này được thừa hưởng hay phải gánh chịu những hậu quả gì cũng đồng nghĩa Phật giáo sẽ nhận lãnh như thế ấy bởi Phật giáo lấy dân tộc làm cơ sở để hành đạo, ngoài dân tộc ra thì chẳng có Phật pháp: “Phật pháp ở tại thế gian, không thể lìa thế gian mà giác ngộ. Nếu tìm sự giác ngộ giải thoát ở ngoài thế gian cũng như tìm lông rùa sừng thỏ” (Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mích bồ đề, khắp như cầu thố giác. Tổ Huệ Năng).
Sau khi đất nước giải phóng, tình hình đất nước Việt Nam đã ổn định do vậy vai trò Phật giáo Việt Nam cũng phải chuyển qua một hình thái khác, vừa phát huy nền tảng đạo đức vừa phục vụ công cuộc xây dựng đời sống nhân dân thêm ấm no hạnh phúc và an lạc. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước hội nhập trào lưu quốc tế, vai trò của Phật giáo không những không bị phai nhạt mất tác dụng, ngược lại, nó ấy trở nên thiết tha và cấp bách hơn bao giờ hết. Tất nhiên, như bao nhiêu bộ phận khác, khi đứng trước những giai đoạn mới, Phật giáo cũng được thừa hưởng những thành quả từ xã hội nhưng bên cạnh vẫn còn những thách thức to lớn cần phải khắc phục.
a. Những Thuận Lợi
Không cần phải nói nhiều thì hầu như tất cả mọi người đều thấy rằng trong điều kiện đời sống vật chất đầy đủ như hiện tại thì không ít thì nhiều Phật giáo đều được thừa hưởng để từ đó tạo tiền đề cho những cải cách biến đổi cũng như xây dựng Phật giáo ngày một lớn mạnh và thiết thực hơn.
Trong những giai đoạn đất nước còn khó khăn thì vấn đề truyền bá đạo pháp cũng như phục vụ cho đời sống nhân dân bị nhiều hạn chế, nhất là công tác đào tạo tăng ni, phật tử, in ấn sách báo văn hoá phẩm. Đó là một thiệt thòi nhưng thiệt thòi lớn hơn là những giá trị đạo đức mà Phật giáo đã không được xử dụng để phụng sự dân tộc, xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, những thiệt thòi và khó khăn đó phần nào đã được tháo gỡ và dần dần từng bước hoàn thiện bởi chính sách mở cửa từ mọi phía.
Trước nhất, với sự bùng nỗ của khoa kỷ nghệ thông tin kỷ thuật số, các phương tiện truyền thông đa chức năng làm cho con người trong thế giới xích lại gần nhau hơn, khoảng cách giữa các quốc gia và ngôn ngữ cũng được thu hẹp một cách đáng kể, từ đó khoảng cách giữa Phật giáo các nước cũng được thu hẹp để từ đó có thể thiết lập được kênh thông tin chung nhằm giải quyết tất cả các vấn đề khó khăn. Bên cạnh đó cơ chế thị trường được mở rộng khiến cho kinh tế phát triển tạo cho việc xây dựng các cơ sở vật chất càng thuận tiện hơn.
Cũng cần phải nhận thấy rằng Phật giáo Việt Nam hiện tại được sống trong một đất nước thanh bình, an ninh luôn luôn được bảo đảm. Nhận thức của nhà nước cầm quyền đối với các tôn giáo, trong đó có Phật giáo ngày càng thông thoáng hơn để phù hợp với thời đại mới mà điển hình trước mắt là các trường lớp Phật học được mở ra khắp các tỉnh thành, các kinh sách văn hoá phẩm cũng được in ấn một các cởi mở. Giá trị đóng góp của Phật giáo cũng đã được nhìn nhận trên một góc độ khác, rộng lớn hơn, thiết thực hơn.
Một vấn đề quan trọng khác là Phật giáo Việt Nam ngày nay đã có được tiếng nói giá trị trên trường quốc tế. Những phản ảnh, ưu tư của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hiện tại đã dành được sự quan tâm ưu ái của nhiều thành phần tổ chức khác nhau trên thế giới mà sự thành công của cuộc hội thảo “Phật giáo trong thời đại mới” vừa diễn ra tại Học Viện Phật giáo Việt Nam tại TPHCM với thành phần đại biểu tham dự trên 300 người đến từ gần 15 nước trên thế giới và vào ngày 26 tháng 12 vừa rồi cũng tại Học Viện Phật giáo tại TPHCM đã ký văn bản hợp tác với phái đoàn cao cấp Phật giáo Lào trong vấn đề hỗ trợ đào tạo giáo dục của Phật giáo Việt Nam dành cho Phật giáo Lào. Ngoài ra, còn có nhiều thành tựu khác mà Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hiện tại đã và sẽ không ngừng để đạt được những thành quả tốt đẹp.
b. Những Thách Thức
Bên cạnh những thuận lợi đã đạt được thì những thách thức đăt ra đối với Phật giáo Việt Nam ngày càng nhiều và cấp thiết hơn không những chỉ về mặt đào tạo đội ngũ cán bộ trong Giáo hội mà xã hội bây giờ cần một giáo hội, cần những người Phật tử năng động, sáng tạo và biết hoà mình dấn thân vào con đường phụng sự cho đạo pháp và dân tộc.
Ở điểm này ta thấy những tinh thần của Phật giáo về phụng sự không thiếu nhưng trong giai đoạn hiện tại, do nhiều lí do, khách quan cũng như chủ quan, đã khiến cho một giáo hội, một tôn giáo từng năng động, từng là điểm tựa cho cả một dân tộc bây giờ chỉ còn có giá trị trong những phạm cúng kiếng, phục dịch hay chỉ khá hơn thì cũng chỉ có giá trị tham khảo mà không còn hiện thực. Tất cả bởi sự lủng củng, thiếu nhất quán và tất nhiên thiếu cả những hành động thực tiễn. Nó đã tự trói mình trong phạm vi một cơ sở, hội đoàn. Thực tế đó là điều đáng buồn và cần phải chấn chỉnh.
Tuy hoà cùng nhịp bước với thời đại nhưng bản thân giáo hội cũng nhưng đội ngũ phật tử lại không trang bị cho mình những nền tảng kiến thức cơ bản, từ trong đạo lẫn ngoài đời khiến cho khi hoà nhập gặp phải nhiều sự lúng túng, vướng mắc dẫn đến cho tình trạng những người bên ngoài, với cái nhìn phiến diện đã mệnh danh cho Phật giáo là một tôn giáo tiêu cực, yếm thế. Nhất là khi nền kinh tế vật dục Tây phương ồ ạt tràn, do không biết làm chủ, không có chính sách giáo dục cụ thể đối với mọi tầng lớp nhân dân đã khiến cho tình trạng ngày càng thêm rối ren. Một thực tế phải chấp nhận là chúng ta không thể tránh xa, trốn chạy khỏi những tiện nghi của thế giới vật chất, chúng rất là hữu ích cho chúng ta từ rất nhiều phương diện, nhưng làm thế nào để đảm bảo được tính trong sáng của dân tộc, tinh thần đạo đức của Đông phương là một thách thức lớn không những cho Phật giáo Việt Nam mà cho cả dân tộc Việt nam.
Cũng cần phải thêm rằng, trong những năm qua do một số chính sách sai lầm của đảng và nhà nước ta đã khiến con đường phát triển của dân tộc, trong đó có Phật giáo Việt Nam bị đình trệ như đại hội đảng lần thứ X đã thừa nhận. Trong những năm ấy, nhà nước chưa quan tâm đúng mức cũng như chưa nhận rõ được những giá trị đóng góp mà Phật giáo đã dành cho dân tộc Việt Nam. Tình trạng nhũng nhiễu, tham ô và quan liêu trong bộ máy chính quyền đã bao trùm ảnh hưởng đến khắp tất cả, ngay cả nội bộ Phật giáo. Một phần do sự thoái hoá, mất bản chất của một số người bên trong đã làm hoen ố hình tượng Phật giáo vốn rất trong sáng và hùng mạnh đã bị phai nhạt. Cộng thêm giáo hội bây giờ chưa có những kế sách lâu dài để phục vụ cho đạo pháp dân tộc, chưa có được tinh thần tự chủ độc lập mà phần nhiều phải lệ thuộc, dựa dẫm vào những thế lực từ bên ngoài. Đây là một thách thức vô cùng lớn lao đối với Phật giáo Việt nam trong trào lưu hiện nay.
4. Vấn Đề Bảo Tồn PGVN Qua Ý Nghĩa Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định
Trước nhất, chúng ta cần phải khẳng định rằng, bảo tồn Phật giáo Việt nam chính là bảo tồn dân tộc và ngược lại, bảo tồn dân tộc chính là bảo tồn và xây dựng Phật giáo bởi Phật giáo chưa bao giờ đứng ngoài dân tộc. Lịch sử đã chứng minh, dân tộc quốc gia hùng mạnh thì Phật giáo hưng thạnh, ngược lại đất nước suy vong lệ thuộc thì Phật giáo cũng suy tàn.
Trước tình hình hội nhập, nhà nước đang dần cải cách, ban hành những chính sách phù hợp với lợi ích của dân và phù hợp với tinh thần hội nhập thì Phật giáo Việt Nam cũng nên thẳng thắn nhìn nhận những vấn đề kém khuyết để tích cực xây dựng một giáo hội lớn mạnh phù hợp với phương châm “Đạo pháp – dân tộc”. Vấn đề ở đây là chúng ta phải bảo vệ đạo pháp như thế nào bởi quy luật tất yếu của sự vật là phải luôn chuyển biến, đổi thay như trong phần tồn tại xã hội đã có nói tới: phương thức thay đổi thì ý thức về xã hội cũng phải đổi thay theo. Không tạo điều kiện cho cái mới phát triển thì nhất định sẽ bị lạc hậu nếu không muốn nói là tiêu vong bởi vì không còn phù hợp với nhu cầu lợi ích của con người.
a. Giữ Gìn Những Giá Trị Truyền Thống, Văn Hoá Dân Tộc
Mục đích của Phật giáo là đem lại lợi ích cho toàn thể chúng sanh (cả nhân dân trong nước), do vậy mục tiêu vấn đề bảo tồn Phật giáo cũng phải vì lợi ích của dân tộc nơi mà Phật giáo tồn tại. Điều đó có nghĩa là Phật giáo dù có cải cách, định ra những kế sách như thế nào thì cũng cần phải phù hợp với tính dân tộc, tính mỹ thuật và tính thời đại, không thể nào đi ra ngoài những nguyên tắc cơ bản này. Phù hợp với những yếu tính trên đây thì nhất định Phật giáo tồn tại.
Chúng ta thấy rằng “quá khứ không bao giờ biến mất hoàn toàn. Trong dòng chảy vô tận của thời gian, những nhân tố của quá khứ sẽ để lại dấu ấn nhất định ở hiện tại. Những nhân tố của quá khứ sẽ tham gia vào việc tạo lập cái hiện tại, tạo nên sợi dây sinh động giữa quá khứ và hiện tại”.[13] Vì vậy, khi hội nhập, đừng bao giờ lãng quên mà đánh mất bản sắc dân tộc, cũng như đừng bao giờ phủ nhận những giá trị đóng góp của các bậc tổ sư thạc đức đã gầy công xây dựng và bảo vệ đạo pháp trong những lúc dân tộc và Phật giáo ở vào tình huống nguy khốn nhất. Một đất nước có thể nghèo đói, nhưng nghèo đói có thể khắc phục và vượt qua còn một đất nước mà không có văn hoá thì đất nước đó coi như đã chết.
b. Tạo Những Bước Đột Phá Trong Lãnh Vực Nhập Thế
Phật giáo Việt Nam sở dĩ có những trang sử vẻ vang hào hùng, có những địa vị vô cùng cao quý trong lòng dân tộc Việt Nam chính bởi tinh thần “Tuỳ duyên bất biến”, tinh thần không câu nệ hình thức, dám xông pha ra tất cả các mặt trận để cùng nhân dân xây dựng đất nước. Và đó cũng chính là tinh thần nhập thế độ sanh.
Qua mỗi giai đoạn, mỗi thời cuộc, hình thức dấn thân phụng sự đạo pháp có khác nhau nhưng sự hy sinh, bất vị kỷ của Phật giáo là một nét son không thể phai mờ. Tuy nhiên chúng ta không nên ngủ quên trên những thành quả ấy bởi tinh thần phụng sự là vì đem lại lợi ích chứ không phải vì danh lợi. Do vậy, trong giai đoạn hiện tại, Phật giáo cần phải có những bước đột phá để đem lại sức sống thực sự trong cuộc sống, không chỉ cho giới Phật tử mà cho tất cả mọi người. Sự dấn thân là điều tiên quyết không những để Phật giáo tồn tại mà còn để cho dân tộc ngày càng giàu mạnh và năng động.
Sự dấn thân đó cần phải được thể hiện ở tất cả các khía cạnh, các mặt của đời sống không riêng gì vấn đề đạo đức. Ở mỗi một khía cạnh là cả một niềm mong ước, hy vọng của dân tộc, của phật tử vào Phật giáo. Chẳng hạn như vấn đề kinh tế, phải làm sao để có những kế hoạch tạo công ăn việc làm và sự ổn định cho nhân dân. Một đất nước giàu không phải là đất nước có nhiều triệu phú, tỉ phú mà là đất nước đó mọi người không còn cảnh đói khát, lang thang túng thiếu.[14] 
Ở lãnh vực giáo dục cần phải đào tạo ra những con người có đủ năng lực chuyên môn không những trong Phật giáo mà tất cả các khía cạnh của đời sống. Nhưng để được như vậy thì trước mắt Phật giáo Việt Nam cần phải có hệ thống giáo dục hoàn bị và nhất là các trường Đại học mang tầm quốc tế. Bằng lòng với vấn đề giáo dục trong hiện tại chỉ là tự cô lập và nghèo nàn hoá đất nước, dân tộc. Ngoài ra, còn nhiều khía cạnh quan trọng khác rất cần sự có mặt một cách tích cực của Phật giáo, của những người Phật tử với đầy đủ từ bi và trí tuệ.
c. Cách Tân Giáo Hội, Giáo Lý, Giáo Tài, Giáo Chế
Trong những thập niên đầu của thế kỷ trước, Phật giáo Trung Hoa đã gượng gạo đứng dậy sau những năm chiến tranh tàn phá bằng những lời kêu gọi cách mạng của ngài Thái Hư Đại Sư. Cuộc vận động đó Ngài đã kêu gọi phải có những thay đổi cơ bản về các mặt của Phật giáo Trung Quốc, điển hình như cách mạng giáo hội, giáo lý, giáo tài, giáo chế để phủ hợp với tinh thần, với cuộc sống trong xã hội mới.
Cách mạng không có nghĩa là bỏ cái cũ nhưng những cái cũ không còn phù hợp với cuộc sống mới thì cần phải có những hình thức lối sống mới phù hợp hơn, tất nhiên phải được phát xuất từ những cái cũ đó. Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, cuộc sống tuy không đột ngột đổi thay nhưng lối sống đã đổi, để Phật giáo có thể phát huy hết khả năng của mình thì nhất định phải có những cải đổi như những lời kêu gọi cách mạng Phật giáo của Thái Hư đại sư.
“Cũng nên nói thêm rằng, Phật giáo không phải là một tổ chức chính trị, nên mục tiêu không phải để giải thể chế độ này hay chế độ khác. Từ xưa đến nay Phật giáo không bao giờ có ý định giành quyền lãnh đạo quốc gia hay muốn chính quyền phải làm theo ý mình mà chỉ mong muốn giúp các nhà lãnh đao chính trị cầm quyền đương thời những ý kiến sáng suốt đem lại an bình hạnh phúc cho nhân dân, đem lại sự phồn vinh hoà bình cho tổ quốc”.[15] Cách mạng Phật giáo cũng chỉ là làm thế nào để có đủ điều kiện dấn thân và đem lại lợi ích thiết thực nhất mà thôi.
d. Phát Huy Tinh Thần Tuỳ Duyên Bất Biến
Cần phải hiểu rằng, tinh thần tuỳ duyên bất biến này là một tinh thần đặc sắc nhất của Phật giáo khi nhập thế. Nó bảo đảm rằng sự nhập thế của Phật giáo sẽ không bao giời bị biến chất nhưng lại có thể thoã mãn các điều kiện cũng như các yêu cầu từ người thọ nhận tinh thần ấy. Vì tuỳ duyên nên người dấn thân nhập thế luôn có một thái độ nhận thức đúng đắn, luôn có chánh tri kiến để biết đâu là lúc, đâu là hoàn cảnh thích hợp hay nói theo nhà Phật là phải biết “khế cơ, khế lý, khế thời”. Ngoài ra còn phải nắm bắt được những nguyên lý (cách gọi nhà Phật mà theo Marx là quy luật). Một khi nắm vững được tất cả các quy luật, nguyên lý cũng như biết đâu là thời cơ thì sự dấn thân, phụng đạo pháp của người Phật tử luôn luôn hợp thời mà không nôn nóng cũng như buôn phiền bởi hoàn cảnh, đối tượng.
VII. KẾT LUẬN
Với những gì mà Phật giáo Việt Nam đã đóng góp vào ngôi nhà dân tộc Việt Nam gần hai ngàn năm qua cũng đủ để thấy được tinh thần tuỳ duyên và phụng sự dân tộc như thế nào. Trong gần hai ngàn năm ấy, Phật giáo luôn luôn tự biết cách phải hoà mình và uyển chuyển như thế nào để vừa đảm bảo được tính thiết thực trong đời sống vừa vừa đảm bảo được tôn chỉ, mục tiêu của Phật giáo đề ra. Đó là một việc làm vô cùng khó khăn nhưng Phật giáo đã vượt qua tất cả để còn tiếp tục con đường dấn thân trong giai đoạn hiện tại.
Đành rằng, trong những giai đoạn lịch sử nhất định, do không được nhận thức một cách đúng đắn nên Phật giáo đôi khi được xem như là những “thiên đường trong ảo mộng”, thế nhưng, vượt qua những khó khăn ấy, Phật giáo vẫn là Phật giáo với đầy đủ những trí tuệ, từ bi, linh động và cả bất bạo động.
Việc bảo tồn và phát triển Phật giáo là một việc cần phải nên để thích ứng với căn cơ thời đại dù có ai mách bảo hay không. Do vậy, việc vận dụng quy luật Phủ định của phủ định vào việc bảo tồn và phát triển Phật giáo trong thời hội nhập như là một cách tham khảo dù nó mang những giá trị nhất định, bởi như trên có trình bày rằng Phật giáo tự biết cách phải làm gì, phải soi sáng mình như thế nào để tồn tại và phát triển mà tinh thần “tuỳ duyên bất biến” luôn luôn là ngọn đuốc dẫn đường, trong đó có Phật giáo Việt nam tiến lên.
Thực ra, việc bảo tồn Phật giáo là bảo tồn những giá trị đóng góp của Phật giáo trong quá khứ, hiện tại và tương lai đối với một tổ chức giáo hội trong một nước còn với bản thân giáo lý Phật đà, có thể khẳng định rằng, nó có giá trị miên viễn bởi Phật giáo được xây dựng trên nền tảng trí tuệ, xác chứng nên không bao giờ sợ khoa học, không bao giờ sợ sự phát triển. Khoa học phát triển đến đâu càng làm cho Phật giáo soi sáng đến đó. Chưa bao giờ Phật giáo đi ngược với khoa học, ngược lại Phật giáo chỉ có đi trước khoa học mà thôi. Vì thế, trong thời đại đổi mới, Phật giáo cần thay đổi hình thức để tiếp tục nhiệm vụ dấn thân mà không phải là cải đổi như những tôn giáo thần quyền khác. Và tất nhiên, Phật giáo không thể nào sợ vấn đề hội nhập làm Phật giáo mất bản chất bởi bản chất Phật giáo đã là hội nhập hay Nhập thế.
Để kết thúc, xin mượn nhận xét của nhà bác học nổi tiếng người Mỹ Albert Einstein về Phật giáo: “Nếu có một tôn giáo nào có thể đương đầu được với các nhu cầu khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hoá với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học, vì Phật giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học”.[16]
 Thích Nguyên Tuấn - khóa 6


[1] Nguyễn Hữu Vui chủ biên, Giáo Trình Triết Học Mác-Lê. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc gia, 2005, tr.286
[2] Nguyễn Hữu Vui, sđd, tr. 288.
[3] David E. Cooper, Các Trường Phái Triết Học Trên Thế Giới do Lưu Văn Hy và nhóm Trí Tri dịch. Hà Nội: NXB Văn Hoá Thông Tin, 2005. tr. 41.
[4] Về niên đại của đức Phật có nhiều thuyết bất đồng với nhau bởi do sự chênh lệch về lịch sử cũng như lúc có những nhận xét bất đồng từ ban đầu trong vấn đề niên đại, tuy nhiên, sự ra đời của Ngài là hoàn toàn có thật như các sử gia trên thế giới đã chứng minh. Ở đây dẫn chứng niên đại theo Phật giáo Bắc truyền. Các niên đại ở sau cũng vậy.
[5] Buddha có nghĩa là giác ngộ, là người sáng suốt, tinh thông tất cả không còn bị vô minh che đậy, dẫn dắt. Chữ Giác có 3 nghĩa: Tự giác là tự mình giác ngộ, thành đạo; Giác tha là đem cái giác ngộ ấy chỉ dạy lại cho mọi người và Giác hạnh viên mãn có nghĩa là công hạnh giác ngộ chúng sanh, cả mình và người đều được tròn đủ. Cần lưu ý chữ Giác ngộ này khác với giác ngộ mà nhà nước ta hay đề cập với những người nhận ra được đường lối của đảng.
[6] Thích Thiện Hoa, Phật học Phổ Thông. TPHCM: NXB TPHCM, 1997 tr. 59.
[7] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo Sử Luận. Sài Gòn: NXB Lá Bối, 197 , tr.
[8] Thích Nhật Từ, Phật Giáo Đồng Hành Cùng Dân Tộc trong Phật Giáo Trong Thời Đại Mới Cơ Hội Và Thách Thức, VNCPHVN, 2006, tr. 541.
[9] Sđd, tr. 286.
[10] Sđd. Tr. 285.
[11] Trương Vĩnh Phúc chủ biên, Hướng Dẫn Ôn Thi Triết Học Marx Lenin, tr. 106
[12] Trần Phương Lan, Giáo Dục Phật Giáo Trong Xã Hội Hiện Đại trong Giáo Dục Phật Giáo Thời Hiện Đại. TPHCM: NXB TPHCM, 2001, tr.267.
[13] Nguyễn Hữu Vui, sđd, tr. 284.
[15] Thích Giác Lượng, Làm Thế Nào Để Vượt Qua Những Thách Trong Thời Đại Mới trong Phật Giáo Trong Thời Đại Mới Cơ Hội Và Thách Thức, VNCPHVN, 2006, tr. 338.
[16] Nhiều tác giả, Giáo Dục Phật Giáo Trong Thời Hiện Đại. NXB TPHXCM, 2001, tr.211.
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Ước mong của Á khôi 1 ĐH KHXH&NV trong năm Nhâm Thìn
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2014
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này