Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
20:12, Wednesday.June 10 2026
Triết học Phật giáo
Dị Bộ Tôn Luân Luận
Tác giả : HT. Thích Trí Quang dịch
Nhà xuất bản :
************************************************

Ghi Sau Khi Duyệt Dị Tông Luận

Trước khi đưa ra mấy kết luận và mấy nghi vấn, tôi trích dịch mấy đoạn tài liệu sau đây.

1. Thiện kiến luật (1) nói, và xin lược dịch như sau: ...Tại Câu thi na, giữa Sa la song thọ, sáng sớm ngày rằm tháng 2 (2) , đức Thế tôn nhập vô dư niết bàn. Sau đó 7 ngày, tôn giả Đại ca diếp từ nước Diệp ba (3) , cùng với 500 vị tỷ kheo, đi đến Câu thi na để vấn an đức Thế tôn. Trên đường đi, gặp 1 đạo sĩ, tôn giả hỏi, ông thấy Thầy tôi không? Đạo sĩ thưa, đức Cù đàm mệnh chung đã 7 ngày rồi. Ngài niết bàn, người trời đều hiến cúng. Tôi ở đó, lấy được cành thiên hoa Mạn đà này đây. Tôn giả Đại ca diếp và các vị đại tỷ kheo nghe nói Phật niết bàn thì khóc ngất đi. Nhưng có 1 tỷ kheo tên Tu bạt đà ra ma ha ra (4) nói, thôi, khóc làm gì. Đức Thế tôn tại thế, thường dạy điều này trong sạch, điều này dơ bẩn, điều này phải làm, điều này không được làm. Nay thì hợp ý chúng ta lắm, muốn làm gì thì làm, muốn không làm thì thôi. Tôn giả Đại ca diếp lặng người, không quên được lời ấy, tự nghĩ, việc xấu chưa nổi lên, ta phải kiết tập pháp tạng. Pháp tồn tại thì lợi ích chúng sinh. Tôn giả lại nghĩ, khi Phật còn, Ngài đã nói với tôn giả A nan, ta niết bàn rồi thì pháp và giới ta dạy chính là đức thầy cao cả của các vị. Vì vậy, ta phải kiết tập pháp và giới ấy... Tôn giả liền chiêu tập chư vị tỷ kheo, nói, một hôm trước đây, tôi nghe Tu bạt đà ra ma ha ra nói, đức Thế tôn tại thế thì hay dạy điều này trong sạch, điều này dơ bẩn, điều này phải làm, điều này không được làm. Nay thì hợp ý chúng ta lắm, muốn làm gì thì làm, muốn không làm thì thôi. Kính bạch chư trưởng lão, chúng ta phải kiết tập pháp tạng và giới tạng. Chư vị tỷ kheo bạch tôn giả Đại ca diếp, xin ngài phải chọn lựa các vị tỷ kheo... Tỷ kheo diệt tận ái dục thì có 500 mà thiếu 1 vị. Vị đó là trưởng lão A nan. Thiếu ngài thì không thể tụng lại pháp tạng. Nhưng ngài ở địa vị đang còn tu học. Tôn giả Đại ca diếp muốn khỏi bị chê trách, nên không chọn ngài A nan... Chư vị tỷ kheo nói, ngài A nan tuy đang còn tu học, nhưng là người đích thân từ Phật tiếp nhận tu đa la, kỳ dạ (5) . Nên mời ngài cho đủ số 500, đó là ý kiến của các thánh tăng.

Chư đại đức tỷ kheo nghĩ nên kiết tập pháp tạng ở đâu? Chỉ thành Vương xá đủ mọi điều kiện, chúng ta nên đến đó an cư 3 tháng mà kiết tập luật tạng (và pháp tạng). Đừng để những vị tỷ kheo khác cùng đến an cư ở đó. Tại sao, vì e ngại những vị tỷ kheo ấy không phục tùng nên phải loại ra. Thế rồi tôn giả Đại ca diếp bạch nhị kiết ma về việc này.

Vậy là từ ngày Phật niết bàn, 7 ngày sau đại hội (6) , 7 ngày sau nữa cúng dường xá lợi (7) . Qua nửa tháng rồi, thấy đã gần ngày an cư, tôn giả Đại ca diếp nói, thưa chư vị trưởng lão, đã đến lúc chúng ta phải đi đến thành Vương xá. Tôn giả Đại ca diếp đem 250 vị tỷ kheo đi một đường khác, tôn giả A nâu lâu đà (8) đem 250 vị tỷ kheo đi một đường khác. Còn tôn giả A nan thì cầm y bát (9) của đức Như lai, với các vị tỷ kheo vây quanh, đi qua nước Xá vệ, đến chỗ ở cũ của đức Như lai. Dân chúng Vương xá thấy tôn giả A nan thì buồn khóc, hỏi đức Như lai ở đâu mà tôn giả đến đây một mình? Họ gào khóc khi nghe tôn giả nói đức Như lai mới niết bàn. Tôn giả đem đạo lý vô thường khuyên giải. Rồi đi vào Kỳ viên, mở phòng của Phật, đem giường ghế của Ngài ra ngoài mà lau chùi, lại vào phòng quét rưới... Xong rồi, đem giường ghế vào lại, đặt để như cũ. Tôn giả phụng sự y như lúc Phật đang còn.

Rồi tôn giả đến Vương xá. Các tôn giả Đại ca diếp và A nâu lâu đà cùng chư vị tỷ kheo cũng đã đến đó. Tôn giả Đại ca diếp đến chỗ A xà thế vương, nói chư tăng nay phải kiết tập pháp tạng và giới tạng. Vương thưa, tốt quá, xin cầu cho ý nguyện của chư vị được thành đạt... Tôi xin nghe theo mọi sự sai bảo của chư vị. Chư vị tôn giả xin trước hết thiết lập giảng đường. Vương hỏi nên thiết lập ở đâu, chư vị thưa nên thiết lập cạnh thiền thất núi Để bàn (10) . Vương thưa tốt lắm. Rồi với uy lực của vương, giảng đường được hoàn thành tráng lệ trong thì gian rất ngắn. Giường chiếu chăn màn đủ cả 500, và tất cả đặt xoay về hướng bắc. Lại đặt 1 pháp tòa cao, xoay về hướng đông. Chư vị tỷ kheo nói với tôn giả A nan, ngày mai kiết tập giới tạng, tôn giả chỉ là Tu đà hoàn thì làm sao vào dự được. Vậy tôn giả phải cố gắng... Tôn giả A nan liền từ đầu đêm quán thân (11) , quá giữa đêm vẫn chưa chứng gì. Tôn giả nghĩ, ngày trước đức Thế tôn có nói, ông đã tu công đức, nếu nhập định thì mau thành La hán. Phật dạy phải đúng. Tâm ta tinh tiến thái quá. Ta phải trung dung. Tôn giả từ chỗ kinh hành (12) bước xuống rửa chân, rồi vào phòng ngồi trên giường, muốn nghỉ một chút nên nghiêng mình muốn nằm. Nhưng chân đã rời đất mà đầu chưa chấm gối, giây phút đó liền được đạo quả La hán... Tôn giả Đại ca diếp đến ngày 2 tháng giữa (17 tháng 6) (13) , ăn ngọ rồi thu xếp y bát, tập hợp tại pháp đường (14) . Tôn giả A nan không cùng vào. Để chư vị vào hết rồi, tôn giả vận dụng thần thông, dũng xuất ngay nơi chỗ đã được để cho.

Chư vị thánh chúng ngồi rồi, tôn giả Đại ca diếp hỏi, chư vị trưởng lão, nên kiết tập pháp tạng trước hay giới tạng trước? Chư vị thánh chúng nói, giới tạng là mạng sống của Phật pháp, giới tạng còn thì Phật pháp còn, vậy nên kiết tập giới tạng trước. Vì thế, tôn giả Đại ca diếp tác bạch kiết ma, cử tôn giả Ưu ba ly tụng lại giới tạng... Sau đó lại tác bạch kiết ma, cử tôn giả A nan tụng lại pháp tạng... (Chính 24/673 -- 675).

2. Tam luận huyền nghĩa (15) nói, và xin lược dịch như sau: ...Như lai nhập diệt ngày rằm tháng 2, chư thánh đệ tử ngày rằm tháng 4 (16) ở trong núi Kỳ xà quật của thành Vương xá, kiết tập 3 tạng. Ngay lúc bấy giờ đã có tên của 2 bộ. Một là Thượng tọa bộ, do ngài Đại ca diếp làm thượng tọa. Ngài này hơn ngài Trần như 1 hạ, lại được Phật đem chánh pháp phó thác, nên gọi là Thượng tọa bộ. Ngài Đại ca diếp lãnh đạo chỉ có 500 vị, luận Trí độ nói 1.000 vị. Hai là Đại chúng bộ, là đại chúng ở ngoài cương giới kiết ma, có cả 10.000 vị, do La hán Ba sư ba (16B) làm chủ tọa. Tên ngài này có nghĩa là Rơi nước mắt, vì ngài thương chúng sinh đau khổ mà rơi nước mắt luôn. Ngài là 1 trong 5 vị tỷ kheo (đầu tiên), tuổi cao hơn cả ngài Đại ca diếp, giáo thọ cho đại chúng ở ngoài cương giới kiết ma. Do vậy mà có 2 chúng. Chúng của ngài Đại ca diếp có 500 La hán, vào trước trong cương giới kiết ma để kiết tập 3 tạng. Sau đó nhiều vị cũng đến để kiết tập 3 tạng, nhưng ngài Đại ca diếp không cho ai vào cả. Vì 2 lý do: 1, 500 vị toàn là người thông minh, 2, đã cử hành kiết ma rồi... Thế rồi 116 năm sau, có người con của một thuyền trưởng tên là Đại thiên, oai nghiêm, thông minh, gia nhập Phật pháp, làm 2 việc. Một, đem các kinh đại thừa xếp vào trong 3 tạng mà giảng giải. Khi chư vị La hán kiết tập pháp tạng đã lựa bỏ các kinh ấy. Đại chúng bộ thì dùng các kinh đại thừa, còn Thượng tọa bộ thì không dùng. Do vậy mà nổi lên tranh biện, thành ra 2 bộ (căn bản). Hai, ngài Đại thiên tự soạn 1 bài chỉnh cú :"Kẻ khác dẫn dụ, còn sự không biết, còn điều hoài nghi, nhờ người giúp vào, và chính thánh đạo, cũng có nhờ tiếng: như thế gọi là, Phật giáo chân thật" (17) . Rồi đem bài chỉnh cú này đặt sau phần tụng giới, bố tát tụng giới rồi tụng bài chỉnh cú ấy... Về sau, ngài Đại thiên đến nước Ương quật đa la, 1 quốc gia ở phía bắc thành Vương xá, vẫn đem các kinh đại thừa như Hoa nghiêm, Bát nhã, xếp vào 3 tạng mà giảng thuyết. Bấy giờ có người tin, có người không tin. Ai không tin thì nói chỉ 3 tạng do ngài A nan cùng 2 ngài nữa tụng lại mới đáng tin, ngoài 3 tạng ấy, các kinh đại thừa đều không đáng tin. Ai tin kinh đại thừa thì vì 3 lý do : một, lúc bấy giờ vẫn còn có những người đã đích thân nghe Phật thuyết các kinh đại thừa ấy, hai, tự nghĩ theo lẽ thì phải có các kinh đại thừa, ba, tin vào lời thầy nói... (Chính 45/8).

3. Phân biệt công đức luận (18) nói, có 2 đoạn xin lược dịch như sau.

Đoạn 1 : ... Ba tạng là khế kinh, tỳ ni, a tì đàm... Còn Tạp tạng thì không phải 1 người nói, mà hoặc Phật nói, hoặc đệ tử Phật nói, hoặc chư thiên tán dương, hoặc nói đời trước trong 3 vô số kiếp của Bồ tát, văn nghĩa không phải nhất loại, và nhiều hơn cả 3 tạng, nên gọi là Tạp tạng. Lại nữa, khi Phật còn ở đời, (đại loại như) A xà thế vương hỏi Ngài về việc làm của Bồ tát, Ngài dạy cho đủ cả... Các kinh phương đẳng (đại thừa) toàn ở trong Bồ tát tạng. Tạng này, lúc Phật còn, Ngài đã mệnh danh là Đại sĩ tạng. Tôn giả A nan tụng ra là 4 tạng hiện nay. Hợp (với Bồ tát tạng nữa) mà nói là 5 tạng... Chỉ có ngài Đại thiên là bậc đại sĩ, kỳ dư toàn là người tiểu căn. Do vậy mà đại thừa khó có ai đương nổi, phần nhiều xu hướng thanh văn. (Chính 25/32).

Đoạn 2: ...Tăng nhất a hàm vốn có 100 sự, ngài A nan truyền cho ngài Ưu đa la. Mười hai năm sau ngày được tụng ra (trong đại hội 1 của kiết tập 1) thì ngài A nan nhập diệt. Bấy giờ chư tỷ kheo chỉ thích tu thiền định, không ưa học thuộc lòng, sau đó ngài Ưu đa la cũng nhập diệt, do vậy mà kinh này mất 90 sự. Thầy trò truyền cho nhau là khẩu truyền, không cho chép ra văn bản, nên bấy giờ khẩu truyền chỉ còn 11 sự; riêng của Thuyết hữu bộ không có tự văn và sự 11. Đệ tử ngài Ưu đa la là ngài Thiện giác, do thầy khẩu truyền mà học thuộc lòng kinh này, được 11 sự thì ngài Ưu đa la nhập diệt. Nay 3 tạng hiện hành toàn là của ngài Thiện giác khẩu truyền (Chính 25/34). Để phụ với đoạn này, tôi xin trích 1 đoạn sau đây, của Phú pháp tạng nhân duyên truyện: Ngài Thương na hòa tu (đệ tử của ngài A nan) nói với đệ tử của mình là ngài Ưu ba cúc đa (thầy của A dục vương): 77.000 (bài tụng) về bản sinh, 10.000 (bài tụng) về luận tạng, 80.000 (bài tụng) về luật tạng, các pháp như vậy ta nhập diệt thì cũng diệt theo ta (Chính 50/304).

Trên đây, tài liệu 1 và 2, chứng tỏ vì phong cách triệu tập kiết tập 1 của ngài Ca diếp mà làm cho kiết tập 1 có 2 đại hội (19) . Rồi 2 đại hội ấy tụng lại Phật thuyết mà đối với đại thừa thì bên bỏ bên lấy. Còn tài liệu 3 chứng tỏ Pg không phải chỉ có 3 tạng độc quyền của Thượng tọa bộ (hay đại hội 1 của kiết tập 1), mà còn có Tạp tạng (chuyên nói về bản sanh) và Đại sĩ tạng của Đại chúng bộ (hay đại hội 2 của kiết tập 1). Lại chứng tỏ Pg bị thất lạc rất nhiều, chứ không phải chỉ có như các Tạng hiện nay, nhất là tạng Paly.

*

Tiếp theo mấy tài liệu trên đây, nay xin nói về mấy vấn đề.

Một là vấn đề Đại hội 2 của kiết tập 1, tức Đại chúng bộ. Chỉ cần nghe ngài Thế hữu kể lại những mục của tư tưởng bộ này trong luận Dị tông này, cũng đủ thấy Đại hội 2 quyết định phải có tụng lại Bản sinh tạng và Đại sĩ tạng, nghĩa là tụng lại đại thừa ẫ tức đại thừa cũng là Phật thuyết. Ấy là chưa nói không hẳn Đại hội 1 của kiết tập 1 hoàn toàn không tụng lại đại thừa. Thế giới Pg thông sử, tập thượng, trang 135, đã kể ra danh mục và tư tưởng của đại thừa trong các bộ A hàm. Ngần ấy cũng đủ thấy Đại hội 2 của kiết tập 1 là 1 vấn đề, mà là 1 vấn đề còn trọng đại hơn cả Đại hội 1 của kiết tập 1.

Ở đây cũng nên nói về văn bản 3 tạng và các tác phẩm của Đại chúng bộ, nghĩa là nói về văn bản liên hệ Đại hội 2. Hiện nay trong Hán tạng, chắc chắn nhất của Đại chúng bộ là Ma ha tăng kỳ luật (20) . Nhưng chắc chắn Hán tạng và Tạng tạng còn có không ít văn bản của Đại chúng bộ. Tôi không biết gì về Tạng tạng, nhưng Hán tạng, nói xác hơn là Pg Trung hoa, thì có 2 điều phải cực kỳ thống trách. Điều một, Pg Trung hoa có rất nhiều Phạn bản, do tăng sĩ Ấn mang đến và tăng sĩ Tàu mang về. Sử liệu mà tôi biết, cho thấy Phạn bản chưa dịch nhiều hơn đã dịch. Gồm cả 2 số ấy lại thì số lượng thật đáng ngợp. Vậy mà rồi mất hết. Không hiểu tại sao chép mà đem đến hay mang về, gian nan biết bao nhiêu, vậy mà làm được, nhưng không làm được cái việc bảo tồn? Điều hai, không hiểu tại sao không đem ngay Phạn bản mà dạy cho tăng sĩ? Trung hoa, từ sau ngài Pháp hiển, nhất là từ ngài Huyền tráng sắp đi, người thông hiểu Phạn bản không ít. Vậy mà chỉ lo phiên dịch, trong các tự viện không tổ chức dạy Phạn bản. Phạn bản nếu được dạy cho tăng sĩ Trung hoa, thì Phạn bản được hiểu và được còn: ích lợi biết bao. Xưa nay cũng đã có người thắc mắc và phiền trách 2 điều trên đây. Phải chi dân tộc Trung hoa mà như dân tộc Nhật bản chẳng hạn, thì thế giới ngày nay Phạn bản dồi dào nhất nhì chính là Trung hoa. Điều ấy khiến cho thấu hiểu được bao nhiêu là vấn đề về Pg, trong đó có vấn đề Đại hội 2 và Đại chúng bộ, có vấn đề đại thừa.

Hai là vấn đề ngài Đại thiên. Ngày nay học giả ai cũng thấy ngài là nhân vật trọng đại đối với đại thừa ẫ Trọng đại đến nỗi bị vu khống và thóa mạ không ít, từ phía Thượng tọa bộ mà nói xác hơn là Thuyết hữu bộ, sự vu khống và thóa mạ đã biến thành phản chứng tính cách trọng đại của ngài Đại thiên. Ngài, không những nêu lên sự bất toàn của quả vị La hán bằng 5 sự (tức chỉ nhận Phật quả mới toàn hảo), mà công đức của ngài còn thọ trì Tạp tạng và Đại sĩ tạng (như tài liệu 3 nói), còn phá tính cách độc tôn nhưng thiếu sót của 3 tạng của Đại hội 1 bằng cách xếp đại thừa (gồm có 2 tạng) vào 3 tạng thành 5 tạng (như tài liệu 2 và 3 nói). Nhân cách của ngài thì thế nào? Cứ nói ngay như khi A dục vương cung thỉnh giới sư cho vương tử Ma hê đa thì "chúng tăng thôi cử ngài Mục kiền liên tử đế tu (Moggali Tissa) làm hòa thượng, ngài Ma ha đề bà (Mahadeva = Đại thiên) làm a xà lê truyền thọ thập giới, ngài Mạt xiển đề (Majjhantika) làm a xà lê truyền thọ cụ túc giới cho vương tử Ma hê đa (Mahinda) (Thiện kiến luật, Chính 24/682). Rồi khi A dục vương và ngài Mục kiền liên tử đế tu thỉnh cầu các vị trưởng lão đi hoằng pháp các địa phương (21) , thì thỉnh cầu ngài Đại thiên đến Ma hê sa mạt đà la (Mahisakamandala)" (Thiện kiến luật, Chính 24/684).

Ba là vấn đề 3 tạng Paly. Điều có thể quả quyết là 3 tạng ấy là sản phẩm của cái gọi là kiết tập 3 (22) . "Chúng tăng tập hợp 60 ngàn. Cuộc tập họp này ngài Mục kiền liên tử đế tu làm thượng tọa, tuyển chọn những bậc thông suốt 3 tạng và chứng đắc 3 minh thì được một ngàn. Y như lần thứ 1 tôn giả Đại ca diếp chiêu tập tăng chúng (23) , cũng như lần thứ 2 tôn giả Tu na câu (24) kiết tập giới tạng. Lần kiết tập pháp tạng thứ 3 này 9 tháng thì hoàn tất... Khi ngài Mục kiền liên tử đế tu sắp nhập diệt thì phó thác cho đệ tử là ngài Ma hê đa đem luật tạng (và cả 3 tạng) đến nước Sư tử..." (Thiện kiến luật, Chính 24/684). Như vậy là hơn 2 bách kỷ sau Phật nhập diệt, 3 tạng Paly mới được biên tập. Nhưng 3 tạng Paly chắc chắn không phải là 3 tạng của Đại hội 1 của kiết tập 1 tụng ra, mà 3 tạng ấy chỉ là của Thượng tọa bộ diễn biến đến thời đại A dục vương (25) . Chủ tọa kiết tập 3 tạng Paly, ngài Mục kiền liên tử đế tu, là người Thượng tọa bộ mà đồng tình với hệ Phân biệt thuyết của Đại chúng bộ, thừa nhận có giới hạn đối với tư tưởng bộ ấy (26) . Những sự kiện này dĩ nhiên phải ảnh hưởng đến 3 tạng Paly.

Nhưng cùng thời đại với 3 tạng Paly, theo truyền thuyết của Pg Tây tạng, thì có 4 bộ phái ở 4 địa phương sử dụng 4 ngữ văn khác nhau. Để làm gì? Hẳn nhiên là để kiết tập 3 tạng mà 4 bộ phái đã khẩu truyền trước đó: "Đại chúng bộ phát triển ở địa phương Maharastra, ngữ văn thánh điển là Maharastra; Thượng tọa bộ lấy Ujayana làm trung tâm, ngữ văn thánh điển là Paisaci; Chánh lượng bộ phát triển ở một dãy Surasena, ngữ văn thánh điển là Apabhramsa; Thuyết hữu bộ thịnh lên ở Kasmira và Gandhara, ngữ văn thánh điển là Samkrta. Nay biết ngữ văn Paisaci chính là ngữ văn Paly; thời đại A dục vương, ngữ văn này là của Pg dãy Ujayana" (Nguyên thỉ Pg thánh điển chi tập thành, trang 46). Như vậy, cũng như 3 tạng của các bộ phái khác, 3 tạng Paly không phải nguyên thỉ, nghĩa là không phải của Đại hội 1 của kiết tập 1 tụng ra, không phải đầy đủ, không phải tinh thuần (với những việc của A dục vương được chép trong đó). "Thế nhưng 3 tạng Paly ngày nay rất quí báu. Vì chỉ có 3 tạng ấy là được bảo tồn nguyên vẹn. Ngữ văn Paly lại là một phương ngôn cổ của Ấn độ, nghiên cứu rất tiện. Có điều mọi thánh điển hiện hữu toàn là sắc thái bộ phái, vậy nghiên cứu Pg nguyên thỉ thì không thể chỉ hạn chế vào 3 tạng Paly" (Nguyên thỉ Pg thánh điển chi tập thành, trang 48).

*

Bây giờ lặp lại cũng có, mới nói cũng có, tôi xin đưa ra một vài kết luận và nghi vấn. Đây là mấy kết luận.

1. Đại hội 2 của kiết tập 1 rất quan trọng. Phải bỏ thành kiến khinh thường như xưa nay. Phải tìm hiểu về Đại hội này -- ít nhất cũng qua Đại chúng bộ. Kinh sách Đại chúng bộ cũng không ít (27) dầu thất lạc hay lẫn lộn quá nhiều.

2. Về 3 tạng Paly, rất quí vì độc nhất còn nguyên vẹn. Nhưng không phải nguyên thỉ, ít ra cũng chưa phải chép lại 3 tạng của Đại hội 1 của kiết tập 1 tụng ra.

3. Phật thuyết chắc chắn số lượng rất nhiều. Ngài thuyết đến 50 năm, cho đủ thành phần, có phải ít đâu. Số lượng không ít, mà chất lượng lại càng chắc chắn đa dạng. Gồm hết tất cả 3 tạng Paly, Trung hoa và Tây tạng, dẫu chưa lựa chọn chân giả đi nữa, cũng vẫn chưa phải đầy đủ của Phật thuyết.

Và đây là mấy nghi vấn.

1. Nếu đại thừa không phải Phật thuyết, nghĩa là trong nguyên thỉ Pg đời Phật, và trong nguyên thỉ Pg của 2 đại hội của kiết tập 1, mà không có kinh luật luận đại thừa, thì làm sao có những tư tưởng như của Đại chúng bộ?

2. Tại sao chính từ Thượng tọa bộ, nói chính xác là Thuyết hữu bộ, lại nói La hán bất toàn hơn cả 5 sự Đại thiên?

3. Và tại sao cũng chính từ hệ Thượng tọa bộ (chứ không phải hệ Đại chúng bộ) mà tư tưởng về Ngã đã có, và có không phải chỉ một dạng? (28)

Mồng 6 tháng 4, 2537
Trí Quang
Nguồn: daophatngaynay
CÁC SÁCH KHÁC
•   Lược giải Kinh Pháp Hoa
•   Nghiên cứu về 5 việc của Đại Thiên
•   Đạo Phật xưa và nay
•   Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận
•   Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận
•   Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận
•   Dị Bộ Tông Luân Luận
•   Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không
•   Tâm Lý Học Phật Giáo
•   Thành Thật Luận
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này