Chương 14: Sự Tiến Bộ Và Ðổi Mới
Jean Francois : Lại có một khác biệt nữa giữa Phật giáo và vănminh Tây phương không những trong thái độ của cá nhân trong đời sống, màcòn trong định hướng tinh thần. Vì lẽ văn minh Tây phương hoàn toàn quayvề lịch sử. Nó tin tưởng vào sự phát triển của lịch sử vào sự phồn vinhcủa xã hội với thời gian. Theo một danh từ thường dùng vào thế kỷ 19, nótin tưởng như vậy là ngây ngô. Thật vậy, tin chắc vào sự tiến bộ. Người tathường cho rằng lịch sử chỉ đem đến sự tiến bộ là tin rằng lịch sử chỉ đemđến sự cải thiện đời sống con người nhờ vào các kỹ thuật mới vào khoa học,vào sự tiếp tục đổi mới các kỹ thuật mới vào khoa học, vào sự tiếp tục đổimới các tập tục và sự phổ biến dân chủ. Pacscal đã so sánh nhân loại nhưmột con người sống mãi và và học hỏi liên tục trải qua dòng thời gian.Chúng ta biết rằng sự tin tưởng không phải vào tiến bộ, mà là vào sự tựvận hành của tiến bộ, đã bị cải chính bởi các sự kiện lịch sử khá ảm đạmcủa thế kỷ thứ 20. Dù sao Tây phương cũng luôn luôn chú ý đến sự đổi mới:“Ðây là một tư tưởng mới”. Trong khoa học hiển nhiên là một sự phát minh.Trong nghệ thuật, trong văn chương phải luôn luôn sáng tạo để tồn tại.Cách mà người ta chê một quyển sách, một bức tranh, một nhạc phẩm là nói:“Cái này cũ rồi, không còn hợp thời, là hàn lâm, là đã có người làm rồi.”Về chính trị cũng vậy, phải luôn có tư tưởng mới và phải đổi mới tư tưởngmới và phải đổi mới tư tưởng. Xã hội Tây phương quí thời gian, sử dụngthời gian như một điều kiẹn để cải thiện một cuộc sống con người. Lòngmong muốn vươn tới một sự hoàn thiện được xem như tuỳ thuộc vào sự diễntiến lịch sử, và khả năng tạo nên những thực tế mới, những giá trị mới.Với một sự trình bày tổng quát như vậy về cảm nghĩ của xã hội Tây phươngtheo con có thích hợp với Phật giáo và Phật giáo sẽ tham gia như thế nàovào xã hội Tây phương?
Matthieu : Nếu nghĩ rằng một sự thật không còn đáng kể tachú ý đến nữa vì lẽ nó đã cũ, đúng là vô nghĩa. Luôn luôn khao khát cáimới thường dẫn ta bỏ quên những chân lý căn bản để thoát dra khỏi đau khổ,khỏi sự ràng buộc của tự ngã, cần phải đến, khỏi sự ràng buộc của tự ngã,cần phải đến tận đầu nguồn tư tưởng và giác ngộ bổn tâm. Một sự thật nhưvậy làm sao có thể cũ được. Cái mới nào lại có thể làm cho một lời dạy vềcách lột trần các cơ chế tâm linh không còn hợp thời nữa. Nếu chúng ta bỏqua sự thật đó để chạy theo vô số những đổi mới tinh thần tạm bợ, chúng tacàng xa rời mục tiêu của chúng ta. Sự hấp dẫn của cái mới có một khía cạnhtích cực, đó là ý muốn chính đáng muốn khám phá những sự thật căn bản thămdò phần thâm sâu của tâm thức, những nét đẹp của thế gian. Nhưng trongtuyệt đối, cái mới luôn luôn mới, là sự tươi mát của hiện tại, là một tâmthức sáng suốt không bao giờ nhìn lại quá khứ cũng không ngóng trong tươnglai. Khía cạnh tiêu cực của sự thích thú mới, là ước muốn được luôn đượcluôn thay đổi bằng mọi giá. Thường thì sự mê say cái mới, cái khác ngườiphản ánh một sự nghèo nàn trong tâm hồn. Không thể tìm được hạnh phúc nộitại chúng ta cố tìm một cách vô vọng hạnh phúc bên ngoài bằng những đồvật, bằng kinh nghiệm, bằng suy tư vf chúng ta xử sự đôi khi kỳ quặc. Tómlại chúng ta xa rời hạnh phúc khi chúng ta cố tìm nó ở nơi mà nó khônghiện diện. Làm như vậy, chúng ta có thể hoàn toàn mất dấu nó. Ở mức độ tầmthường nhất, sự khát khao cái mới đến từ một sự thèm muốn luôn có sự thừathãi, điều này thường ám ảnh tâm trí và làm mất đi sự an lạc. Người taluôn gia tăng những nhu cầu đôi khi không cần thiết thay vì phải học từ bỏchúng.
Nếu ÐứcPhật và các đệ tử của ngài đã đạt đến giác ngộ thì còn gì đẹp và mới hơnđiều này? Ðiều mới lạ với con tằm là con bướm, và mục đích của mỗi chúngsinh là phát triển cái Phật tính tiềm tàng ở nó. Ðể đạt mục tiêu đó, nhấtthiết phải biết sử dụng kinh nghiệm của các bậc giác ngộ. Kinh nghiệm đócòn quí hơn nhiều cái mớ tư tưởng mới.
Jean Francois : Phải, nhưng dù sao cũng có một nghịch lý. Trongvăn minh Tây phương thật ra người ta thấy có hai xu hướng. Một mặt ta thấymột số các tư tưởng cố gắng dựng lên một sự minh triết để cho mỗi cá nhânở bất cứ thời điểm nào, có thể dùng làm mẫu mực ngõ hầu có một cuộc sốngđàng hoàngg thường là ít bị ràng buộc bởi những đam mê, ghen ghét, kiêucăng mà các vị thánh hiền cũng chống đối. Cùng một lúc người ta thấy rõrằng con đường cải thiện toàn diện cuộc sống của nhân loại tuỳ thuộc mộtsố phát minh khoa học kỹ thuật cũng như tuỳ thuộc vào sự thiết lập các cơché chánh trị về quyền con người v.vv... Chúng ta đã chứng kiến điều nàycũng như hiện nay chúng ta đang sống trong một thế hệ máy tính có khả năngchi phối toàn bộ hoạt động đời sống cá nhân cũng như tập thể xã hội, điềumà không ai có thể hình dung được 30 năm về trước. Ðó là vấn đề kỹ thuật.
Nhưngtrong những lãnh vực khác, chính trị chẳng hanh, sự cải rổ xã hội, sựthích nghi các nhu cầu vật chất cho một số con người càng ngày càng giatăng đều diễn tiến liên tục theo dòng thời gian. Lấy ví dụ về văn hóachẳng hạn. Người ta cho rằng người nghệ sĩ đích thực là kẻ đem lại một tácphẩm nghệ thuật mới. Người ta sẽ cười nhạo ý tưởng sao chép các tác phẩmthời trung cổ. Nhưng chưa hết từ 50 năm nay, nhất là trong các nước đangphát triển, những chính sách về văn hóa giúp cho càng ngày càng có đôngngười tham dự vào những niềm vui văn chương, nghệ thuật, âm nhạc đã rađời. Trong quá khứ điều này chỉ dành riêng cho một tầng lớp ưu việt rấthạn hẹp. Ba nhớ lại thời niên thiếu Ba đã từng tham quan các viện bảo tànghay đi xem triển lãm tranh. Người ta không phải chen lấn nhau, ai vào lúcnào cũng được không hề bị người khác án ngữ khi xem tranh. Còn bây giờ thìphải xếp hàng hàng giờ vì có rất nhiều kẻ ưa thích triển lãm. Ở vài nơinhư Paris hay New York phải đặt chổ trước như đi xem hát vậy.
Vậy làcái ý niệm một mặt cho văn hóa là một sự đỏi mới bất tận, và mặt khác nóphải nhắm vào càng lúc càng đông người, thái độ đó rất đặc biệt của PhươngTây. Thời gian được dùng để thực hiện những tiến bộ và càng ngày càng cónhiều người được hưởng lợi nhờ vào sự tiến bộ đó. Nói cách khác giải phóngcon người nằm trong thời gian chớ không ngoài thời gian.
Matthieu : Giải thoát trong thời gian là ước nguyện của vịBồ tát, ước nguyên đó là làm cho chúng sinh thoát khỏi vô minh và đau khổ.Bồ tát không bao giowg mất can đảm không chối bỏ trách nhiệm đối với chúngsinh cho đến khoa học nào chúng sinh chịu đi trên con đường dẫn đến giácngộ. Mặt khác, Phật giáo hoàn toàn chấp nhận những sự giáo dục riêng biệtvào những thời kỳ khác nhau của nhân loại, từ những xã hội cổ xưa đếnnhững xã hội hiện đại đang hướng về duy vật. Tùy theo những xã hội đó cóhướng về tâm kinh hay không, thì giáo háo cdr Phật giáo cũng đi theo chiềuhướng đó. Tuy nhiên sự giác ngộ thì ở ngoài thời gian. Làm sao mà bản thểcủa việc hoàn thiện tâm linh lại có thể thay đổi được? Hơn nữa ý niệm vềcái mới, cái ý muốn luôn sáng tạo những điều mới lạ vì e ngại phải saochép lại quá khứ, theo con nghĩ là một sự quan trọng gia tăng cho cái ngã,cho các nhân muốn khẳng định mình là mọt điều quá nông cạn. Yù niệm mộtnghệ sĩ luôn luôn muốn buông thả minh cho trí tưởng tượng là rất xa lạ vớinghệ thuật truyền thống, vì lẽ nghệ thuật này dựa trên sự trầm tư và suytưởng. Nghệ thuật Tây phương tìm cách tạo nên một thế giới tưởng tượng,trong khi nghệ thuật thiêng liêng thì làm giảm thiểu những đam mê đó.Khiêu vũ, hội họa, âm nhạc là để thiết lập một tương quan vói hình dángvới âm thanh trong thế gian, cũng còn để chúng ta tìm hiểu, nghận thức vàđi vào con đường tâm linh. Người nghệ sĩ truyền thóng đem tất cả khả năngcủa mình ra phục vụ nghệ thuật, nhưng anh ta không nên quá buông thả trongtưởng tượng để tạo ra những hình dáng hay biểu tượng hoàn toàn mới.
Jean Francois : Ðó thật ra là một quan niệm hoàn toàn trái ngượcvới quan niệm Tây phương, ít ra là từ thời Phục hưng.
Matthieu : Nghệ thuật đó không nhất thiết là đã cứng nhắctrong quá khứ. Những bậc đạo sư đã làm phong phú thêm nghệ thuật vói cácyếu tố mới có từ những kinh nghiệm thiền định. Có rất nhiều biểu tượng huyhoàng của nghề thuật thiêng liêng ở Tây Tạng. Các nghệ sĩ đã đưa hết tấmlòng và tài năng cho nghệ thuật, nhưng ta không tìm thấy dấu tích cái ngãcả họ trong các tác phẩm. Vì thế hội họa Tây Tạng căn bản là vô danh. Nghệthuật cũng là cầu nối giữa cộng đồng tu sĩ và người phàm tục. Nhiều lầntrong năm, những tu sĩ tổ chức trên sân trước giáo đường những cuộc nhảymúa rất ngoạn mục có liên quan đến nhiều giai đoạn trong khi thiền định.Và dân chúng địa phương không bao giờ bỏ qua những lễ hội đó. Cũng thế ấy,nghệ thuật Tây Tạng có mặt trong các gia đình vì lẽ các gia đình đặt hàngở các họa sĩ, các điêu khắc gia những tượng thánh mẫu, mạn đà la, cùng cáctượng khác. Dân chúng không hề bỏ qua nghệ thuật, nhưng một nghệ sĩ nếu vẽtheo sở thích mà bỏ qua truyền thống thì sẽ không được hoan nghênh.
Khôngchạy theo cái mới, không có nghĩa là không có thái độ mềm dẽo sẳn sàngđương đầu với mọi tình huống. Thật ra, nếu luôn luôn giữ trong tâm nhữngchân lý căn bản của Phật giáo, người ta sẽ được chuẩn bị đầy đủ để đối phóvới những thay đôicr xã hội và của thế giới. Việc cần thiết là nhận ranhững chân lý đó tìm hiểu thật sâu xa vè chúng, và hiện thực chúng trongtâm. Nếu không làm như vậy thì có ích gì phát minh ra cái mới. Tóm lại,con muốn nói là thay vì chạy theo cái mới chúng ta đã quên mất sự đơn giảnvà chúng ta bị dằn vặt để có được những gì mà thật sự chúng ta không cầnđến. Chúng ta nên sống giản dị, không nhìn lại quá khứ và không cần bậntâm đến tương lai.
Jean Francois : Ba nghĩ cũng không cần phải là Phật tử mới có thểcó những tư tưởng như vậy. Rất nhiều người ở Tây phương, cả những ngườirất chú tâm về sự phát triển nghệ thuật, cũng như về những sáng tạo mớinhất cũng biết rằng một khía cạnh của nghệ thuật Tây phương là lừa bịp vàlòe mắt thiên hạ. Tuy nhiên đó chỉ là thiểu số, dù sao sự sáng tạo thật sựcũng vượt trội. Nếu Ba muốn nhấn mạnh về cái xu hướng sâu xa đó trong xãhội Tây phương là vì một vài thành phần xã hội có vẻ như ít chịu ảnh hưởngvề sự thay đổi, sau rốt lại cũng bị khuất phục. Ví dụ như những tôn giáotrên nguyên tắc đều bị buộc chặt vào giáo điều. Một tôn giáo thật sự dừatrên một giáo điều rõ ràng và những tín đồ theo tôn giáo đó là vì nó cungcấp một yếu tố bất biến để diễn tả sự vĩnh cửu, cõi bên kia hay thần linh.Như vậy khía cạnh lịch sử về tâm linh con người đáng lý ra không chịu ảnhhưởng cả các cuộc thay đổi hay canh tân là đặc tính của hành động conngười trong bối cảnh thời gian và không gian. Nhưng thật ra không phảivậy.
Hãy lấyví dụ về Công giáo. Ba nói một cách vô tư vì Ba không phải là tín đồ. Nhàthờ không ngớt bị những kẻ duy tân công kích: “Các ông không chịu đổi mới,chúng tôi cần những nhà thần học sáng tạo. Nhà thờ cần phải thích nghitheo thời đại.” Như vậy trong trường hợp này, cần gì có tông giáo nữa. Nếutôn giáo không biểu trưng cho tâm linh con người và tránh cho họ mọi thăngtrầm mọi sự cần thiết phải thay đổi phải thay đổi theo dòng thời gian thìtôn giáo còn dùng vào việc gì. Cái khát vọng đổi mới của con người đã đếnmức họ mong cả Thượng đế cũng phải luôn thay đổi. Ðã có những cuộc tranhcãi liên tục giữa tòa thánh và các nhà thần học đi tiên phong đã đề nghịnhững cải cách thần học cũng giống như những đề nghị cải cách trong hộihọa, âm nhạc hay thời trang. Ý niệm về các nhà thần học đi tiên phgong khábuồn cười. Làm sao vĩnh cửu có thể đi tiên phong hay đi giật lùi? Và tòathánh lâm vào một tình trạng khó xử. Nếu tòa thánh chấp nhận những cảicách mới, ắt phải sửa đổi vài nguyên tắc căn bản về giáo điều. Nếu khôngchấp nhận thì bị chê là cổ hủ, là phản động, là bảo thủ muốn ôm chặt lấynhững hình thức lỗi thời về thần linh. Vậy thì Phật giáo đang có ảnh hưởngvới Tây phương, sẽ đi theo trào lưu càng ngày càng gia tăng về sự thayđổi, hay ngược lại sẽ là chỗ dựa cho những người đau lòng vì khao khátthay đổi đó.
Matthieu : Chắc chắn là con chọn con đường thứ hai. Nguyêntắc không bao giờ thay đổi vì nó thuộc về bản thể sự vật. Nếu ta chịu khóphân tích trước khi khao khát cái mới thì rõ ràng sự khao khát này là dosự lãng quên đời sống nội tâm. Người ta tưởng rằng khi có được những cáimới người ta sẽ lấp đầy những trống trải của tâm hồn.
Jean Francois : Ba sẽ nói rằng điều mà con người luôn luôn thắcmắc là sự cổ hủ. Nếu tham vọng không bằng lòng với những tư tưởng sẳn có,xem xét lại cẩn thận những điều mà tiên nhân ta truyền lại, không xem đólà khuôn vàng thước ngọc để rồi dưới ánh sáng lý luận, của kinh nghiệm tagiữ lại cái gì nên giữ và loại bỏ cái gì nên bỏ, thì nếu không tham vọngđó, tư tưởng cong người chỉ là một giấc ngủ dài lười biếng mà thôi.
Matthieu : Ðúng thế, nhưng dành cả cuộc đời cho việc khámphá tâm linh không hề là một sự chai cứng, đó là một cố gắng bền bỉ để cóthể làm vỡ tan cái ảo tưởng vốn sẳn có ở mỗi chúng ta. Thiền định đặt cánbản trên kinh nghiệm, một cuộc khám phá nội tâm cũng sâu sắc như khoa họckhám phá thế giới bên ngoài. Kinh nghiệm đó luôn tươi mát, mới mẻ. Nó cũngđầy dẫy phiêu lưu và chướng ngại. Không phải là việc dựa vào những lờithuyết pháp có sẳn mà chúng ta phải kinh qua các lời dạy trong giây phúthiện tại, biết sử dụng mọi hoàn cảnh tốt xấu trong cuộc đời, đối mặt vớibao nhiêu là tư tưởng xuất hiện trong trí óc ta, tìm hiểu cách thế màchúng trói buộc ta, cũng như cách thoát ly khỏi chúng. Cái mới thật sự làbiết sử dụng mỗi giây phút trong cuộc đời vào mục tiêu mà ta đã đề ra.
Jean Francois : Riêng cá nhân Ba, Ba có khuynh hướng chấp nhận mộtkhía cạnh điều con vừa nói. Nhưng dưới một góc cạnh khác, làm sao phủ nhậnnó được. Một số vấn đề đặt ra cho nhân loại trong bối cảnh đời sống, lịchsử, những hiện tượng vây quanh chúng ta thuộc về cái mà Ba tạm gọi là côngcuộc sáng tạo của thời gian. Tuy nhiên, đúng là Tây phương từ thế kỷ 18luôn tìm cách giải quyết các vấn đề nhân sinh dựa vào sự tiến bộ lịch sử,vào khả năng sáng tạo. Tây phương nghĩ rằng tất cả các vấn đề nhân sinh kểcả hạnh phúc các nhân, sự thăng hoa tâm hồn, sự minh triết cũng như khảnăng chịu đựng hoặc loại bỏ đau khổ, nói tóm lại những vấn đề đó đều cóthể được giải quyết bằng duy vật sử quan như Hegel và Marx đã chủ trương.Còn những vấn đề về đời sống nội tâm về thành tựu tâm linh đều là những ýtưởng viễn vông, những cặn bã ảo tưởng làm cho người ta tin tưởng vào hạnhphúc của chính bản thân mà thôi. Và sự bỏ qua nếp sống minh triết cá nhânđể thay vào đó sự cải tổ toàn diện xã hội đã đạt đến đỉnh cao với thuyếtMác xít. Nhưng nếu ta không tái tạo được điều gì mà không cần đến thờigian, thì thời gian tự nó cũng không tạo ra được gì. Từ hai thế kỷ nay Tâyphương chờ đợi sự giải phóng con người bằng những giải pháp do lịch sử vàtập thể dựng nên. Và có thể cũng vì sự thiếu thốn trong tâm hồn, sự vắngbóng của đạo đức và minh triết cá nhân đã khiến Phật giáo mau chóng thâmnhập vào xã hội Tây phương.
Matthieu : Ðể những cuộc giao tiếp giữa đồng loại không bịthúc đẩy bởi các động cơ vị ngã chỉ tạo nên những va chạm và bất mãn, mỗicon người cần tìm cho mình một ý nghĩa cho cuộc đời cũng như một sự cởi mởtrong tâm hồn. Mỗi giây phút chuyển hóa tâm linh ấy, phải gợi lên hình ảnhlà với những đức tính mới, ta sẽ có thẻ giúp đỡ người khác hữu hiệu hơn.
Jean Francois : Ðiều kiện để Phật giáo thành công dài lâu ở Tâyphương tùy thuộc vào hai yếu tố. Trước tiên Phật giáo không phải là mộttôn giáo đòi hỏi một đức tin mù quáng. Nó không hề muốn chối bỏ hay lên ánnhững học thuyết khác. Ðó là một sự minh triết, một triết lý đầy khoandung. Ðiều kiện này đã được thực hiện từ lâu.
Thứ hailà Phật giáo chưa hội nhập đầy đủ vào sự đầu tư khổng lồ từ 2500 năm naycủa Tây phương vào khoa học, vào tư duy và hành động chánh trị nghĩa làvào sự cải thiện đời sống xã hội, và vào sự giao tiếp trong lòng xã hội.Ba nghĩ rằng nếu Phật giáo không thích nghi được với điều kiện thứ hainày, nó sẽ không tồn tại lâu dài ở Tây phương. Cái tư tưởng khoa học,chính trị xã hội và lịch sử đã tác động quá sâu vào xã hội Tây phương.
Matthieu : Một lần nữa, Phật giáo không hề chống lại khoahọc, vì Phật giáo tôn trọng chân lý trên mọi bình diện bên trong cũng nhưbên ngoài. Ðơn giản là nó muốn thiết lập một thang ưu tiên cho những nhucầu trên đời. Sự phát triển vật chất mà không đi kèm theo phát triển tinhthần chỉ đưa đến bất an mà ta đã biết. Trong một xã hội mà giáo dục đặtnền tảng trên sự minh triết có hai xu hướng khác nhau. nói đơn giản, mộtlà tập trung vào con người, hai là tập trung vào tài sản. Sự mê hoặc vềtài sản đồng thời sự tản mác vè nhận thức làm chúng ta xa rời sự chuyểnbiến nội tâm. Vì lẽ ta không thể cải tạo thế giới nếu không tự cải tạochính mình trước, ta không cần phải có cho thật nhiều. Một hành giả Phậtgiáo biết rằng kẻ nào bằng lòng với cái mình đang có, hắn có cả một khoahọc báu trong lòng bàn tay. Sự bất an đến từ thói quen xem những thứ thừathải như là cần thiết. Nhận xét này áp dụng không những cho tài sản mà còncho cả những tiện nghi, những thú vui và những sự hiểu biết vô ích khác.Ðiều mà ta không bao giờ chán là sự hiểu biết, và cố gắng duy nhất khôngmệt mõi là dành cho sự tiến bộ tâm linh và việc làm lợi ích cho mọi người.
Jean Francois : Ba muốn kết luận bằng cách n¾ch lại Cioran, tácgiả mà Ba rất ưa thích vì ông luôn luôn tham khảo Phật giáo. Trong lời nóiđầu của quyển “Văn tập về chân dung trong văn chương Pháp” ông đã lược quanhững nhà đạo đức học từ La Arochefoucauld, Chamfort v.v... và dĩ nhiên lànhững chân dung của những nhân vật nổi tiếng để diễn tả những khúc mắctrong bản chất con người. Và Cioran đặt Pacscal ra ngoài và để trên nhữngnhà đạo đức, đã nói một câu rất hay và rất đúng là: “Những nhà đạo đứcdiễn tả những đau khổ của con người, chỉ có Pascal là nói về nỗi bất hạnhcủa chính chúng ta. “Và ngay sau đó Cioran đã tham khảo Phật giáo bằng vàidòng trong bài viết về văn chương cổ điển Pháp: “Khi ma vương, tức là thầnchết, bằng những cám dỗ và hăm dọa Ðức Phật khi ngài sắp đạt đến giác ngộvà ngự trị thế gian, Ðức Phật muốn ngăn trở kỳ vọng của hắn và làm hắn xấuhổ đã nói rằng: “Mi có bao giờ đau khổ vì sự hiểu biết hay không?” Câu hỏiđó Ma vương không trả lời được và ta luôn phải dùng để làm thước đo giátrị đích thực của tinh thần. Con nghĩ thế nào về lời phẩm bình đó?
Matthieu : Ma vương là biểu tượng của tự ngã vì lẽ cái ácchỉ là sự ràng buộc vào cái “tôi”. Khi Ðức Phật ngồi dưới cây bồ đề vàolúc hoàng hôn, và khi ngài sắp đạt đến Chính đẳng chính giác, ngài đãnguyện sẽ không đứng dậy cho đên khi nào không xé tan được bức màn vôminh. Ma vương tức là tự ngã cố làm cho ngài nghi ngờ bằng cách hỏi: “Ngàilấy quyền gì để đạt đến sự giác ngộ?” Và Ðức Phật đã trả lời: “Cái quyềnmà ta dựa trên sự hiểu biết ta có được qua nhiều kiếp sống. Ðịa cầu sẽ làmchứng cho ta.” Khi ấy người ta đã kể rằng trái đất đã rung chuyển. Sau đóma vương gửi những người con gái rất đẹp tượng trưng cho sự ham muốn đếnđể cám dỗ Ðức Phật. Nhưng Ðức Phật đã dứt bỏ được tham ái, và các con gáiMa vương biến thành những bà giá xấu xí. Ma vương cố gắng tạo nên lòng thùhận nơi Ðức Phật bằng cách hóa ra những ma quỹ, những đạo quân bắn ranhững tên lửa và chửi rủa Ðức Phật thậm tệ. Người ta nói rằng nếu có mộtchút căm ghét nào đó nảy sinh trong lòng Ðức Phật thì ngài đã bị những vũkhí đó sát hại. Nhưng Ðức Phật chỉ tràn đầy tình yêu và nhân ái cho nhênnhững vũ khí biến thành mưa hao và lừi nguyền rủa thành những bài ca chúcmừng. Khi rạng đông, thì những tấm màn vô minh cuối cùng rơi xuống và ÐứcPhật hoàn toàn nhận biết thế gian là hư ảo. Ngài hiểu rằng thế giới hiệntượng chỉ có do sự tương thuộc và không có một vật gì có thể do tự thân màcó, và không thể thường hằng được.
Jean Francois : Còn Ba, điều làm Ba ngạc nhiên nhất vè câu nói củaCioran là nó nhắc ta rằng cái biết là nguồn gốc của đau khổ hay nói cáchkhác, chỉ có đau khổ thì ta mới hiểu biết được. Và qua sự kiện này ngườita đánh giá tinh thần của con người. Ðiều này cũng bổ ích cho người Tâyphương khi nghĩ rằng người ta có thể loại trừ đau khổ và mọi việc có thểdiễn ra trong niềm vui, trong đối thoại, trong thông cảm và riêng giáo dụcvà sự học hỏi có thể được thực hiện không một chút cố gắng và không đaukhổ.
Matthieu : Ðó đúng là con đường Ðạo. Những lạc thú ở đờirất quyến rũ nhất thời, nó đem đến sự khóai lạc, sự thỏa thích và người tadễ dàng sa ngã. Nhưng mọi khóai lạc đều rất phù du và rốt cuộc chỉ mangđến thất vọng. Nhưng Ðạo thì ngược lại. Khởi đầu nó có vẻ khắc nghiệt, taphải cố gắng để chiến thắng bản thân, ta phải đương đầu với cái mà Ciorangọi là “sự đau khổ của cái hiểu biết” hay là những khắc nghiệt của sự khổhạnh. Nhưng dần dần, khi ta kiên nhẫn đi trên con đường Ðạo thì một sựminh triết nội tâm bắt đầu ló dạng và theo sau là một sự thanh thản và mộtdiễm phúc lạc tràn đầy trái hẳn những lạc thú trần gian, là không hề bịhoàn cảnh bên ngoài chi phối. Trong ngôn pháp Phật giáo có câu: “Trongviệc học Ðạo ta luôn gặp khó khăn lúc ban đầu, còn trong việc đời các khókhăn đến vào lúc cuối.” Hay một câu nói khác: “Ban đầu không có gì đến,khoảng giữa không có gì còn lại, và sau cùng không có gì đi.” Thật ra theocon sự nhiệt thành trong cuộc mưu tìm giác ngộ không hẳn là một sự đau khổmà phải nói là niềm vui trong cố gắng.