Tăng sĩ tu hành thuộc dòng Bà- la- môn ở Ấn Độ hoặc vốn là tín đồ Bà- la- môn giáo sau này xuất gia qui y theo Phật. ví như tôn giả Xá- Lợi- Phất trí huệ bậc nhất trong hàng đệ tử Phật, mẹ Ngài là con gái của một luận sư Bà-la- môn ở thành Vương Xá, nước Ma- kiệt- đà. Lúc đầu, Tôn giả qui y học đạo với ngoại đạo San- Xà- Da- Tì- La- Chi- Tử, sau gặp đệ tử của Phật là A- thuyết- thị ( Tì- kheo Mã Thắng) nói cho ông nghe pháp nhân duyên của Đức Phật, ông liền theo Phật xuất gia, gia nhập giáo đoàn của Phật.
Như Mục- kiền- liên thần thông bậc nhất trong hàng đệ tử của Phật cũng vốn là con của một phụ nữ Bà-la-môn, ông thường chơi thân với Xá-lợi-phất đồng qui y xuất gia tu học với ngoại đạo San-xa-da, sau nghe Xá-lợi-phất trình bày lại pháp nhân duyên của Phật nói, ông liền cùng Xá-lợi-phất đồng thời qui y vào cửa Phật.
Ngoài ra, danh từ Bà-la-môn xuất hiện kể từ khi Phật giáo truyền sang phương Đông, như trong những vị tăng đến Trung Quốc có Bà-la-môn ở nước Kế Tân là Phật-đà-bạt-lợi, Bà-la-môn ở nước Vu Điền là Cầu- na- bạt- đà, Bà- la- môn ở Thiên Trúc là Đat- ma- cấp- đa. Cuộc đời và sự nghiệp của những vị này đều được ghi chép vào sử truyện.
Theo : Kinh Tạp A- Hàm 16, 23; Kinh Trung A- Hàm 5,7,9. Bài tựa trong Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Dà- La- Ni; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ 10,12.