|
BẢY CÁCH ĐẶT TÊN KINH
BẢY CÁCH ĐẶT TÊN KINH
1. Dùng tên người, Vd, các kinh A Di Đà, Duy Ma Cật v.v…
(A Di Đà là tên Phật. Duy Ma Cật là tên trưởng lão Duy Ma Cật).
2. Dùng tên của pháp (là tướng của pháp), như các Kinh Niết Bàn, Bát Nhã.
3. Dùng ví dụ, Vd, kinh Phạm Võng. Phạm là Đại Phạm Thiên vương, vua của cõi Trời Đại Phạm Thiên. Cung điện của vua Đại Phạm Thiên này thường được trang trí bằng lưới (la võng), mắt lưới có treo ngọc quý Mani, phản chiếu ánh sáng, đẹp lộng lẫy. Bộ kinh được ví như lưới ngọc ở cõi trời Đại Phạm Thiên.
4. Dùng cả tên người và tên pháp. Như Kinh Nhân vương Bát Nhã. Nhân vương là vị vua có lòng nhân. Kinh này Phật giảng cho 16 vị vua, Bát Nhã là tên pháp.
5. Dùng cả tên pháp và ví dụ. Vd, Bát Nhã Ba La Mật đa tâm kinh. Bát nhã Ba La Mật đa là [tr.83] tên pháp. Tâm có nghĩa là cốt tủy, là từ ví dụ.
6. Dùng tên người và ví dụ. Như kinh Bồ Tát anh lạc. Bồ Tát là tên người. Anh lạc là vòng ngọc trang sức, là từ ví dụ.
7. Dùng cả tên người, pháp và ví dụ. Như kinh Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Đại phương quảng là pháp. Phật chỉ tên người. Hoa Nghiêm là từ ví dụ. Phật dùng hàng vạn đức hạnh, như hoa để trang nghiêm bản thân, để đạt tới quả vị tối thượng, chứng được lý Đại phương quảng (chân lý rộng lớn, tràn đầy…).
|