Nội dung 28 phẩm kinh Pháp Hoa
Mỗi lần đức Phật địnhnói pháp gì trước hết đều có nguyên do nên có phẩm Tựa mở đầu (p1). Kếphần Tựa là phần Chánh tông, nói ra chánh pháp mà Ngài định nói vàpháp định nói ở đây là: "Khai quyền hiển thật" nên có phẩm Phương tiện(sự khéo léo) (p2). Nhưng đối với Chánh pháp này chỉ có hàng thượngcăn như Tôn giả Xá-lợi-phất hiểu và được Phật thọ ký. Còn hàng trungcăn chưa thể vong ngôn hội pháp, họ cần nghe thêm thí dụ mới hiểu, nêncó phẩm Thí dụ (p3). Ví dụ nhàn lửa ba xe, hàng trung căn nghe thí dụliền tin nên có phẩm Tín giải (niềm tin vững chắc) (p4) và thuật lạivới đức Phật cái ví dụ "Cùng tử trốn cha" để trình bày chỗ tín giảicủa mình, được đức Phật ấn chứng và Ngài nói tiếp thí dụ "Một trận mưakhắp cây cỏ đều nhờ" nên có phẩm Dược thảo dụ (thí dụ về cây thuốc)(p5). Đến đây hàng trung căn được thọ ký, nên có phẩm Thọ ký (chứngthực) (p6). Nhưng còn hàng hạ căn thì vẫn chưa ngộ phải chờ đức Phậtkể lại nhân duyên quá khứ cho họ nhớ với thí dụ Hóa thành, nên có phẩmHóa thành dụ (thí dụ về thành phố ảo hóa) (p7). Hàng hạ căn được ngộvà được đức Phật thọ ký, nên có phẩm Ngũ bách đệ tử thọ ký (500 đệ tửthọ nhận lời chứng thực) (p8) cho năm trăm vị thuộc hàng vô học hiểndanh, và phẩm Thọ học, Vô học nhân ký (lời chứng thực cho những ngườicòn cần phải học và những người không cần phải học) (p9) cho 2000 vịthuộc hàng học và vô học mật hạnh vô danh khác. Như vậy qua ba lầnthuyết là Pháp thuyết, Dụ thuyết, Nhân duyên thuyết (hay gọi là tamchâu thuyết pháp) thì ba hạng căn cơ thượng, trung, hạ có túc căn thâmhậu được đức Phật hiện tiền thọ ký. Còn bao nhiêu chúng sanh ít phướcở nơi khác thời khác không được gặp đức Phật thì ai thọ ký cho? Nênbiết hết thảy chúng sanh bất luận ở đâu thời nào dù không gặp đức Phậtmà gặp kinh và thọ trì giải nói kinh Pháp Hoa cũng đều được thọ ký,nên có phẩm Pháp sư (vị thầy dạy pháp) (p10) mà nội dung là tán tháncông đức Pháp Hoa và người trì kinh cùng phương pháp cho người muốnnói kinh Pháp Hoa đem lại nhiều lợi ích.
Từ phẩm Tựa đến phẩmPháp sư cọng là 10 phẩm, trừ phẩm Tựa, 8 phẩm giữa là phần Khai quyềnhiển thật, phẩm Pháp Sư là để tán thán công đức Pháp Hoa và người thọtrì đọc tụng hầu cho những chúng sanh vị lai vẫn được thọ ký.
Đạo lý khai quyền hiểnthật là thâm diệu lớn lao mà nay được đức Thích Tôn đã giảng nói, đứcPhật Đa Bảo trong quá khứ từng phát nguyện: Hễ ở đâu có nói kinh PhápHoa, thì Ngài sẽ hiện đến, do đó tháp Đa Bảo từ lòng đất vọt lên, đượckể trong phẩm Hiện Bảo tháp (hóa hiện tháp báu) (p11), trước là để xácchứng lời đức Thích Ca nói là không hư dối, sau để làm duyên khởi choviệc khai cận hiển viễn sắp được nói đến ở phần sau. Nhưng sự xácchứng rõ ràng mật thiết nhất chính là đức Thích Ca tự kể lại: Xưa kiaNgài từng cần cầu nghe kinh Pháp Hoa và từng được Đề-bà-đạt-đa nói chonghe nhờ đó Ngài được thành Phật. Còn Đề-bà được thọ ký sẽ thành Phật,cho đến Long nữ cũng nhờ Pháp Hoa được thành Phật rất mau lẹ nên cóphẩm Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) (p12). Sau khi nghe lời tán thán côngđức và khuyến khích trì kinh của đức Thích Ca và đức Đa Bảo như vậy,các Bồ-Tát, Thanh Văn liền vâng mệnh thọ trì, nên có phẩm Trì (nắm giữchắc chắn) (p13). Song thọ trì giảng nói trong đời ngũ trược ác thếlàm sao tránh khỏi nguy nan nên có phẩm An lạc hạnh (p14), chỉ bàyphương pháp hoằng kinh được an lạc khi nhân hạnh đã đầy đủ thì diệuquả ắt có. Các Bồ-tát từ lòng đất vọt lên nói trong phẩm Tùng địa dũngxuất (từ đất nhảy ra) (p15) chứng minh điều đó để khai cận hiển viễn,hiển bày cho thấy đức Phật đã thành Phật trãi vô lượng kiếp nói trongphẩm Như Lai thọ lượng (tuổi thọ của đức Như Lai) (p16). Phẩm Như Laithọ lượng này nói hễ ai nghe được thì công đức vô lượng, nên có phẩmPhân biệt công đức (p17). Tuy chỉ tùy hỶ nghe và tùy hỶ người khácnghe vẫn được phước đức vô lượng, nên có phẩm Tùy hỶ công đức (côngđức về sự vui nhận) (p18), đó là hạ phẩm công đức. Nếu nghe, thọ trì,đọc tụng, viết chép, giảng giải, nói cho người nghe, thành tựu 6 căncông đức như phẩm Pháp sư công đức (các công đức của vị pháp sư) (19)với năm hạng Pháp sư, đó là trung phẩm công đức. Nếu thực hành PhápHoa Hạnh, thanh tịnh sáu căn như Bồ-tát Thường Bất Khinh trong phẩmThường Bất Khinh (p20) thì thuộc thượng phẩm công đức. Mười phương chưPhật thấy chúng sanh trong quá khứ hay trong vị lai nghe Pháp Hoa màsanh tâm hoan hỶ thọ trì như vậy thì các Ngài càng rất hoan hỶ nênhiện thần lực để tán dương hỗ trợ cho lòng tin và thực hành thêm vữngmạnh nên có phẩm Như Lai thần lực (thần lực của đức Như Lai) (p21).
Trên kia đức Phật đãtán thán kinh và người trì kinh, đến đây đức Phật phó chúc thọ trì,nên có phẩm Chúc lụy (dặn dò) (p22).
Dược Vương Bồ-tát nhờlãnh thọ kinh giáo được lợi ích nên đã chịu khổ hạnh bằng cách thí xảthân mạng tài sản để cúng dường báo ân, nêu ra một mô phạm cho sựphụng mệnh hoằng kinh mà bản duyên này của Dược Vương được kể rõ trongphẩm Dược Vương Bồ-tát bổn sự (chuyện về Bồ-tát Dược Vương) (p23).Nhưng ở Dược Vương chưa nói rõ cách truyền thông Kinh Pháp. Đến phẩmDiệu Âm Bồ-tát (24) mới nói rõ việc phân thân trong sáu đường để hoằngKinh lợi vật. Về phần chúng sanh những người muốn tín thọ thường gặptrở nạn cần phải nhờ đức từ bi cứu tế mới vượt khỏi, nên có phẩm QuánThế Âm Bồ-tát (p25), và nhờ thần chú gia hộ nên có phẩm Đà-la-ni (mậtchú) (p26).
Người hoằng Kinh lợivật là chơn thiện tri thức của chúng sanh, dù ở trong nghịch cảnh nàohọ cũng chuyển được người bỏ tà về chánh, nên có phẩm Diệu TrangNghiêm Vương bổn sự (chuyện về Vua Diệu Trang Nghiêm) (p27). Tu hạnhNhất thừa Pháp Hoa, truyền trì Pháp Hoa tức là tu hạnh Phổ Hiền, tứcnhiên Phổ Hiền từ phương xa đến ủng hộ khuyến khích, phát khởi nên cóphẩm Phổ Hiền Bồ-tát khuyến phát (sự khuyến khích của Bồ-tát Phổ Hiền)(p28). Đó là hết hai mươi tám phẩm kinh.
Nói tóm tắt, 14 phẩmđầu kinh là thuộc phần Tích môn (cũng gọi là phần khai quyền hiểnthật, khai tam hiển nhất, hội tam quy nhất, thừa phương tiện, thừachân thật, thừa quyền, thừa thật, tích môn tích hóa hay thùy tích). 14phẩm sau là thuộc phần Bản môn (cũng gọi là khai cận hiển viễn, khaitích hiển bổn, hội tích quy bổn, thân phương tiện, thân chân thật,thân quyền thân thật, bản môn bản hóa hay bản địa).
Chữ Môn ở đây không cónghĩa là một bộ phận hay nơi chốn biệt lập, nó chỉ có nghĩa là "hoạtđộng của đức Phật ở trong bản vị nguyên thủy" (bản địa hay bản môn bảnhóa) và hoạt động của đức Phật có biểu lộ lưu dấu tích (tích môn tíchhóa, thùy tích).
Phần Tích môn thì quychiếu vào giáo pháp của đức Phật, tức là chỉ vào pháp. Phần Bản mônthì quy chiếu vào nhân cách của đức Phật, tức là chỉ vào người nóipháp.
Các đức Phật 10 phươngchỉ có Nhất thừa đạo và chư Phật ra đời đều duy nhất chỉ muốn dạy chochúng sanh Nhất thừa đạo chứ không có hai ba thừa, nhưng căn cơ chúngsanh không thể một sớm một chiều lãnh hội được, nên đức Phật phảiquyền khai phương tiện để dẫn dắt.
Chữ "khai", "hiển"trong "khai quyền hiển thật" ở đây có hai nghĩa:
1. Nếu đức Phật chỉmột mực dạy thẳng đạo Nhất thừa thì không bao giờ chúng sanh lãnh ngộđược. Như vậy đạo Nhất thừa chỉ ẩn lấp ở nơi đức Phật chứ không hiểnbày ra cho chúng sanh, nên đức Phật phải quyền khai ba thừa thì mớihiển lộ được Nhất thừa.
2. Nhưng khi chúngsanh tiếp nhận giáo lý ba thừa, họ lại tin chắc đó là thật mà khônghiểu đó là đức Phật chỉ quyền khai và như vậy thì đạo Nhất thừa vẫn bịkhuất lấp trong ba thừa không hiển lộ ra được. Đến khi đức Phật khaimỡ ra chỗ khuất lấp đó bằng cách nói rằng "Ba thừa kia chỉ là phươngtiện, là quyền, chỉ có Nhất thừa mới là thật", như ở hội Pháp Hoa nàythì chúng sanh mới rời bỏ chấp tam thừa mà hướng đến nhất thừa. Nghĩakhai cận hiển viễn cũng tương tợ như vậy.
Trong 14 phẩm thuộcTích môn, thì phẩm Tựa là phẩm mở đầu duyên khởi, còn chủ yếu chính làphẩm Phương tiện với sự trình bày Thật trí, Quyền trí của chư Phật làđồng nhất, thật tướng các pháp mà chư Phật chứng ngộ là đồng nhất vàbản hoài chư Phật ra đời độ sanh cũng đồng nhất. Những đồng nhất nàygọi chung là Phật tri kiến, và Phật tri kiến này mọi chúng sanh đềucó, chỉ vì bị vô minh, tham ái che lấp mà không hiển lộ ra được, nênnhân duyên chư Phật ra đời là chỉ nhằm một đại sự duy nhất tức "khaithị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến", chứng Nhất thừa đạo chứ khôngvì gì khác. Vì vậy dù trước đức Phật có quyền khai ba thừa, cuối cùngđức Phật cũng chỉ dạy Nhất thừa.
Trong 14 phẩm thuộcBản môn, mở đầu duyên khởi là phẩm Tùng địa dũng xuất, nhưng chủ yếuchính là phẩm Như Lai thọ lượng, khai thị cho thấy đức Thích Ca chỉ làthân ứng hóa có sanh có diệt theo cơ cảm của chúng sanh trong đời ngũtrược ác thế, mà đã là thân ứng hóa tức nhiên phải xuất từ thân Phậtbản hữu vốn đã thành Phật vô lượng vô biên kiếp.
Ngoài hai phẩm ở Tíchmôn và hai phẩm ở Bản môn vừa nói trên đây, các phẩm còn lại, hoặc đểquảng diễn bổ túc, hoặc tán thán khuyến khích thọ trì, giảng nói, hoặcnêu sự hoạt dụng của Pháp Hoa, để làm trọn vẹn lý nghĩa Quyền, Thật,Tích, Bản, vạn thiện đồng quy bình đẳng đại huệ và chúng sanh đềuthành Phật mà trong hội Pháp Hoa chủ tâm nói đến vậy.