Thơ - Văn mới cập nhật
Tâm Hạnh
Cảm thông
Cảm chiều
Xin bái biệt Thầy
Tùng lâm vắng cội
Thành kính tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh
Sinh Tử
Hư Không
Giao cảm
Tỉnh giấc
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
01:33, Friday.April 18 2014
Triết học Phật giáo
Lược giải Kinh Pháp Hoa
Tác giả : Thích Thiện Siêu
Nhà xuất bản :
************************************************

Phân tích Phẩm Phương tiện: Kinh văn

III. KINH VĂN 

Kinh văn: Lúc bấy giờđức Thế Tôn từ chánh định ung dung mà xuất, bảo Xá-lợi-phất rằng: "Trítuệ của chư Phật thậm thâm vô lượng, trí tuệ môn đó rất khó hiểu, khóvào, tất cả hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật không thể biết được. Vì sao?Bởi vì các đức Phật từng thân cận trăm ngàn vạn ức vô số các đức Phậtkhác và đã tận hành vô lượng đạo pháp của các đức Phật, dũng mãnh tinhtấn, danh xưng cùng khắp, thành tựu được pháp thậm thâm vị tằng hữu vàtùy nghi nói pháp ý thú khó hiểu".

Giải thích: Đoạn nàytán thán hai trí và nguyên nhân thành tựu hai trí của chư Phật. Sở dĩđức Phật Thích Ca tán thán trí tuệ của chư Phật để đối chiếu lại trítuệ của mình mà Ngài từng dùng trí tuệ đó thuyết pháp độ sanh. Hai trítuệ đó là Thật trí và Quyền trí. Trí tuệ thậm thâm vô lượng, đó là chỉvề thật trí. Trí tuệ môn khó hiểu, khó vào đó là chỉ Quyền trí.

Thật trí là trí chứngđược thật tướng, chứng chơn như. Đó là trí tự nội chứng của Phật, nêntrí này cũng gọi là căn bản trí.

Quyền trí hay phươngtiện trí là trí đức Phật dùng để thuyết pháp, giáo hóa độ sanh, trí đócũng rất khó hiểu khó vào.

Thật trí thậm thâm vôlượng. Thậm thâm là rất sâu, không thể dùng tâm phân biệt mà dò biếtđược. Vô lượng là rất rộng, không làm sao biết được ngằn mé.

Đối với hàng Thanh Vănnhị thừa và ngoại đạo chúng sanh không thể hiểu, không thể vào, khôngđo lường được nên gọi là trí tuệ thậm thâm vô lượng. Nhưng đó là trítuệ tự nội chứng. Còn phương tiện trí, trí tuệ dùng để thuyết pháp,giáo hóa, tùy theo căn cơ chúng sanh nữa. Trí tuệ ấy cũng không phảitầm thường nên trong kinh nói khó biết, khó vào.

Ví như một vị lương ybiết được bệnh lý, biết rõ dược tánh, phương thang đó là thật trí.Biết rõ nhưng đứng trước một bệnh nhân, vị lương y ấy phải biết hạphương thang như thế nào...? Nếu không có quyền trí, không có trí ứngcơ thì chắc chắn không làm sao bốc thuốc trị bệnh được. Hoặc có thể hạphương thang bốc thuốc trị bệnh nhưng mà không trúng bệnh, không lànhbệnh thì cũng không thể gọi là ứng cơ được.

Quyền trí rất khó đượcnhư vậy, cho nên có vị Tổ đã nói:

"Nhiên quân giảng đắcthiên kinh luận

Nhất cú lâm cơ hạ khẩunan".

Hai câu trên ý là: Thahồ ông có giảng nói được ngàn kinh luận, nhưng khi lâm cơ một câu mởmiệng nói được chẳng phải dễ.

Điều này chắc ai cũngđã có lần gặp phải. Có những việc đến với mình mà không biết phải mởmiệng như thế nào cho được lợi ích, cho đúng, mặc dù ngày thường thìthao thao bất tuyệt. Cũng lắm khi đặt bút viết một câu văn mà cả giờvẫn chưa đặt bút được, hay có người văn chương lỗi lạc nhưng nhờ viếtdùm cho một cái đơn đi kiện thì chẳng biết viết làm sao! Như vậy là cóthật trí mà không có quyền trí. Thật trí là trí biết nguyên lý sự vật,quyền trí là trí biết phương tiện trình bày tùy cơ vào tướng sai biệtcủa sự vật để ứng đối, ứng dụng.

Hai trí đó đức Phật đãthành tựu viên mãn, cho nên suốt 45 năm giáo hóa, đức Phật tùy theocăn cơ của chúng sanh mà Ngài thuyết pháp. Trí tuệ môn đó hàng nhịthừa, Bồ-tát không thể thấu được nên nói nan giải, nan nhập. Chữ Môn:Môn là cửa, môn để chỉ cho quyền trí. Nhờ giáo pháp Phật nói ra làmcửa ngỏ để chúng sanh đi vào cảnh giới thật trí chứng ngộ của Phật nêngọi là trí tuệ môn.

Hai câu đó là tán thánhai trí của Phật. Nói rộng ra, sở dĩ nó thậm thâm là bởi lẽ trí đó gồmđủ những tánh cách sau đây:

1. Thể tánh của trítuệ: Là chân như thật tướng, mà đã là chân như thật tướng thì ly ngôntướng.

2. Nghĩa tướng của trítuệ: Tức căn bản trí và hậu đắc trí, toàn là những trí tuệ vô lậu. Saukhi chứng nhập được lý Duyên khởi, nhân quả, tánh tướng của sự vật,thành tựu viên mãn được.

3. Trợ bạn của trítuệ: Là lục độ vạn hạnh. Không có lục độ vạn hạnh thì không thành tựutrí tuệ được.

4. Nhân của trí tuệ:Là giải và hành hay nói cách khác là phải trải qua Văn, Tư, Tu, cóđược như vậy trí tuệ mới thâm sâu.

5. Cảnh giới của trítuệ: Cảnh giới đó hoặc không, hoặc hữu, hoặc hữu vi, hoặc vô vi, hoặchữu lậu, hoặc vô lậu và tất cả pháp là cảnh giới của trí tuệ.

Trí tuệ gồm đủ nămnghĩa rộng như vậy cho nên trí tuệ đó gọi là trí tuệ thậm thâm. Thậmthâm cũng có 5 nghĩa:

a) Tự thể thậm thâm:Tự thể ly ngôn tuyệt tướng là thậm thâm.

b) Nghĩa tướng thậmthâm: Bởi vì đó là căn bản trí và hậu đắc trí.

c) Nội chứng thậmthâm: Trí tuệ đó là cái nội chứng của Phật.

d) Y chỉ thậm thâm:Trí tuệ đó y chỉ nơi pháp giới, pháp tánh.

e) Vô thượng thậmthâm: Vô thượng có hai nghĩa:

- Phật vô thượng: Siêuxuất tam giới.

- Pháp vô thượng:Tướng tịch diệt.

Thật tướng tất cả phápđều bất khả thị, không thể chỉ bày từng cái, dù nói gì thì tướng vạnpháp vẫn như thị, nó không biến đổi theo lời nói, gọi là tướng tịchdiệt. (Thị pháp bất khả thị ngôn từ tướng tịch diệt).

Trí đó đến địa vị Phậtquả, vô đẳng đẳng chánh giác mới thành tựu được, nên gọi vô thượngthậm thâm.

Đó là tán thán hai tríthậm thâm, mà nguyên do thành tựu hai trí đó là nhờ Phật đã từng thâncận vô lượng vô số ngàn vạn ức đức Phật và tận hành vô lượng pháp môncủa Phật pháp một cách dũng mãnh tinh tấn mà danh xưng đã lan khắp,thành tựu được pháp vị tằng hữu và tùy nghi thuyết pháp, ý thú nan tínnan giải. Đó là nguyên do thành tựu hai trí trên. Điều này ý nói rằngmuốn thành tựu được hai trí không phải trong khoảnh khắc chỉ dụng côngđơn sơ mà có thể thành được, mà phải thân cận vô số các đức Phật, thựchành vô lượng đạo pháp của các đức Phật một cách tinh tấn dũng mãnh.Nói rộng ra, có bốn nguyên tắc cho người học đạo:

1. Thân cận thiện hữu:Trong kinh nói thân cận chư Phật, đức Phật cũng là bậc Đại thiện hữuvà còn những bậc thiện hữu khác nữa. Người học đạo bước đầu tiên làphải thân cận thiện hữu để học hỏi Chánh pháp.

2. Thính văn Chánhpháp: Nghe lời dạy vẽ Chánh pháp của thiện hữu.

3. Như lý tác ý: Tác ýđồng nghĩa với tư duy, tư duy đúng như lý, hợp như lý. Tư duy xongphải thực hành, đó là pháp tùy pháp hành.

4. Pháp tùy pháp hành:Thật hành pháp và tùy pháp. Pháp tức là pháp môn ta đương thực hành.Tùy pháp là pháp hỗ trợ cho pháp môn ta đương thực hành đó. Ví dụ đốivới lục độ Ba-la-mật, ta tu về hạnh trì giới Ba-la-mật, thì trì giớiBa-la-mật là pháp mà năm hạnh kia (bố thí, tinh tấn...) là tùypháp...Nói rộng ra là tất cả những pháp môn hỗ trợ cho pháp môn chínhmà ta đang tu đó gọi là tùy pháp.

Bốn điều trên đây làđầu mối để thành tựu trí tuệ, cũng là cửa ngõ để đi vào đạo quả giảithoát. Bốn điều này là bốn điều chủ yếu. Không những kinh văn Đại thừamà cả kinh văn Nguyên thủy cũng thường nói đến. Đức Phật thành tựuđược hai trí cũng nhờ bốn điều này, tức nhờ vào thân cận các đức Phật,nghe giáo pháp, tư duy và tận hành đạo pháp của các đức Phật một cánhtinh tấn, dõng mãnh. Nhờ tinh tấn như vậy, nên đức Phật thành tựu đượcpháp vị tằng hữu, tức nhiên thành tựu thật trí, trí tuệ thậm thâm vàquyền trí là trí tuệ tùy nghi nói pháp cho chúng sanh, ý thú khó hiểu,lời gần ý xa.

Một hôm đức Phật đingang qua rừng Simsapa, Ngài cầm một nắm lá trong tay rồi hỏi cácTỳ-kheo rằng: Lá Simsapa trong tay Ta nhiều hay là giữa rừng nhiều?Các tỳ-kheo thưa rằng: Lá trong tay Ngài ít, còn là giữa rừng nhiều,không tính đếm được. Đức Phật dạy rằng: Pháp mà Ta chứng ngộ nhiều nhưlá giữa rừng, còn điều mà Ta đem ra dạy cho các đệ tử như lá trongtay.

Qua câu chuyện trên đểbiết rằng trí tuệ thật chứng của Phật thậm thâm vô lượng, còn nhữngpháp đem ra để giáo hóa thì ít. Thứ nữa, đó là phương tiện thì khi nàocũng là phương tiện, mà phương tiện thì không bao giờ nói hết đượcthật tướng, không bao giớ nói thẳng đến được. Nó chẳng qua chỉ là mộtcánh thức để diễn đạt thật tướng chứ nó không thể nói đúng thật tướng.

Ngoại đạo cho rằngngôn ngữ có thể chứng đắc thật tướng, có thể nói được tự tướng của vạnvật cho nên kinh Vệ-đà họ cho là Thánh ngôn, mỗi chữ là mỗi sự thật.Trong kinh đức Phật dạy, ngôn ngữ chỉ là phương tiện chỉ sự thật chứngôn ngữ không phải là sự thật. Nếu ngôn ngữ là sự thật thì khi nóilửa chắc là bị cháy miệng, nhưng nói lửa vẫn không bị cháy miệng, nhưvậy, ngôn ngữ không phải là sự thật, nó chỉ là phương tiện, mà đã làphương tiện thì nói mấy cũng không hết, cũng không đến được thậttướng, nên trong kinh nói rằng: "Chư Phật trí tuệ thậm thâm vô lượngnan giải nan nhập".

Trí tuệ thậm thâm khóhiểu, khó vào như vậy mà đức Phật đã thành tựu được là bởi Phật đãtrãi qua bao nhiêu công phu trong số kiếp. Phật nói điều này cũng vìđể đối phó, để dắt dẫn hàng nhị thừa và cũng chính nói cho họ biếtrằng trí tuệ Phật là như vậy và muốn thành tựu được là phải trãi quanhiều công phu trong vô lượng kiếp, tận hành đạo pháp của vô lượng cácđức Phật. Và, đây cũng là một cách cốt phá tâm tăng thượng mạn của nhịthừa mà ở một đoạn kinh sau sẽ thấy rõ hơn.

Kinh văn: NàyXá-lợi-phất, Ta từ khi thành Phật đến nay đã từng dùng các thứ nhânduyên các thứ thí dụ, rộng diễn ngôn giáo, và vô số phương tiện dẫnđạo chúng sanh khiến xa lìa các chấp trước. Sở dĩ làm vậy vì phươngtiện tri kiến Ba-la-mật Như Lai đều đã đầy đủ. Này Xá-lợi-phất, trikiến Như Lai rộng lớn sâu xa, vô lượng, vô ngại lực, vô sở úy, thiềnđịnh, giải thoát, tam-muội, sâu vào không có ngằn mé, thành tựu tất cảnhững pháp chưa từng có. Này Xá-lợi-phất, Như Lai hay phân biệt, khéonói các pháp, ngôn từ mềm dịu, vui đẹp lòng chúng. Này Xá-lợi-phất,lấy cốt yếu mà nói, vô lượng vô biên pháp vị tằng hữu, Phật đều thànhtựu.

Thôi Xá-lợi-phất,không nên nói nữa, vì sao? Vì Phật đã thành tựu được pháp khó hiểu hyhữu đệ nhất, chỉ có Phật cùng với Phật mới rõ thấu cùng tột tướng chânthật của các pháp, đó là: Như thị tướng, như thị tánh, như thị thể,như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả,như thị báo, như thị bổn mạt cứu cánh đẳng.

Giải thích: Các thứnhân duyên là sao? Đức Phật nói những pháp môn tùy theo căn cơ củachúng sanh, căn cơ đó có bản nhân như vậy và cần nhờ duyên của giáopháp Phật như vậy sẽ được giác ngộ giải thoát.

Như đối với chúng sanhcó căn cơ của hàng nhơn thiên tức "Nhơn", Phật dạy về pháp ngũ giới,thập thiện, các thiền định để làm duyên cho họ được an lạc. Hoặc cóchúng sanh có căn cơ Thanh Văn (Nhân Thanh Văn) Phật nói pháp Tứ đếlàm duyên để họ phát triển trí tuệ vô lậu giải thoát, hoặc chúng sanhcó căn cơ Duyên Giác, Phật nói pháp Thập nhị nhân duyên, có căn cơBồ-tát, Phật nói lục độ, vạn hạnh, Tứ vô lượng tâm, Tam tam-muội...,không bỏ sót một căn cơ nào. Gọi đó là các thứ nhân duyên.

Một Tỳ-kheo ở xứ BạtKý đến bạch Phật: "Con phải tu tập tới 250 học pháp và cứ mỗi nữatháng tụng đọc một lần, con không thể nào theo nổi". Phật hỏi: "Ông cóthể chỉ tu học ba học pháp là Giới học, Định học, Huệ học không?Tỳ-kheo kia đáp, Bạch Thế Tôn, dạ được. Vậy là ông chỉ tuân thủ ba họcpháp ấy cho đến khi chứng quả...

Hoặc cũng có nghĩa chỉvề nhân duyên của mỗi người khi xuất gia học đạo... Mỗi người đến vớiđạo đều có "Nhân" "Duyên" khác nhau. Bản nhơn nơi tự tâm và gặp duyênnhư thế nào để đi vào đạo đó là nhân duyên. Ví dụ như trường hợp theoPhật xuất gia của ngài Tôn-đà-la Nan-đà chẳng hạn, Phật dựa vào duyênđể hướng dẫn ông, gọi đó là nhơn duyên.

Nếu có những căn cơcần phải nói thí dụ mới hiểu được thì Phật dùng thí dụ (các thứ thídụ). Như trong kinh Pháp Hoa Phật dùng thí dụ: Nhà lửa, cùng tử, hóathành..., hoặc như nói, kinh Phật như chiếc bè qua sông, như ngón taychỉ mặt trăng... hoặc như muốn chỉ rõ tánh chất của ngũ uẩn là khôngthật thì Phật dạy sắc như bọt nước (sắc như tụ mạc). Thọ như bong bóngnước (thọ như thủy thượng bào), Tưởng như sóng nắng (tưởng như dươngthời diệm), các hành vi như cây chuối (chư hành như ba tiêu), thức ấmví như trò huyễn (chư thức pháp như huyễn)...

Đức Phật dùng các nhânduyên, các thí dụ với vô số phương tiện dẫn đạo chúng sanh xa lìa cấuuế. Nên biết rằng, mỗi chúng sanh đều có mỗi chấp trước, chấp trước vềthân tâm, chấp trước về cảnh giới, chấp trước về sự nghiệp, chấp trướcvề tri kiến... mang thân tâm gì thì chấp trước theo thân tâm ấy. Ởcảnh giới nào thì chấp theo cảnh giới ấy, chúng sanh dục giới chấptrước dục giới... thậm chí chúng sanh ở địa ngục cũng có sự chấp trướcở địa ngục, chấp trước về căn thân, về khí giới... Cho nên, tuy nhữngđiều rất nhỏ nhưng khi chấp trước thành thói quen rồi, thì muốn quênngay cũng không được. Như tiền thân đức Thích Tôn, có một kiếp làmngười trồng cải, sau bỏ nghề đi tu, nhưng cứ mỗi khi thiền quán, thântâm vừa an tịnh thì lại thấy cái cuốc và hạt cải hiện ra, bao nhiêuphen mà tâm không định được. Ngài phải trở về nhà lấy cây cuốc và nắmhạt cải đi ra bờ sông, đứng nhắm mắt tay cầm cuốc và hạt cải tung vãicho bay mất đi, sau đó mới yên tịnh tu hành được. Để cứu chúng sanh rakhỏi mọi ràng buộc của chấp trước đó, nên đức Phật dùng các thứ nhânduyên, các thứ thí dụ để đưa họ ra khỏi vậy.

Sở dĩ đức Phật dùngđược vô số các nhân duyên, thí dụ để dẫn dắt chúng sanh là nhờ Phậtthành tựu được tri kiến Ba-la-mật. Tri kiến Ba-la-mật là gì? Đó là trikiến Như Lai rộng lớn sâu xa, rốt ráo, về bốn Vô lượng, bốn Vô ngại,Thập lực, bốn vô sở úy, tứ Thiền, Bát định, bát Giải thoát và Tamtam-muội. Đó là những pháp môn, những tri kiến mà đức Phật đã thànhtựu. Những pháp môn này chính là những pháp tu quán. Chữ "Vô lượng"trong kinh tức chỉ cho Tứ vô lượng tâm: Từ, Bi, HỶ, Xả. Chúng sanh vôlượng, Phật phát tâm từ bi hỶ xả cũng vô lượng, thương xót..., cùngkhắp không chừa một ranh giới nào, nên gọi là vô lượng. Bốn Vô ngạitức là bốn Vô ngại giải hay bốn Vô ngại biện. Thập lực, "Lực" có nghĩalà trí, tức chỉ cho trí của Phật. Trí của Phật kiên cố, vững chắckhông bị lay chuyển, không bị phá hoại nên gọi là lực. Đại hùng, Đạilực, Đại từ bi tức là đại dũng, đại trí và đại từ bi, tức Bi-Trí-Dũng.Thập lực gồm có:

1. Tri xứ phi xứ trílực: Xứ, có nghĩa là đạo lý. Phật có trí lực biết như thật nhân duyênquả báo như thế là đúng đạo lý hay không đúng đạo lý. Biết rõ sự kiệncó xảy ra là có xảy ra, sự kiện không xảy ra là không xảy ra. Ví nhưbiết A-la-hán là không còn tái sanh luân hồi là không tái sanh luânhồi. Phàm phu còn tái sanh luân hồi là có tái sanh luân hồi.

2. Tri tam thế nghiệpbáo trí lực: Có trí lực biết như thật nghiệp báo ba đời của chúngsanh.

3. Tri chư thiền giảithoát tam-muội trí lực: Có trí lực biết như Thật các thiền định, Bátgiải thoát, Tam tam-muội.

4. Tri chư căn thượnghạ trí lực: Có trí lực biết như thật các căn tánh cao thấp của chúngsanh.

5. Trí chủng chủng dụclực: Có trí lực biết như thật tất cả mọi chí hướng, ham muốn của chúngsanh.

6. Tri chủng chủnggiới trí lực: Đối với các cảnh giới của chúng sanh ở thế gian khôngđồng nhau, nhưng Phật có trí lực đều biết rõ như thật cùng khắp.

7. Tri nhất thiết chíxứ đạo trí lực: Có trí lực biết như thật rằng nếu thật hành 5 giới, tuđiều thiện (đạo) thì đạt đến (chí) nhơn thiên (xứ). Thật hành Bátchánh đạo, vô lậu (đạo) thì đưa đến (chí) Niết-bàn giải thoát (xứ).

8. Tri biên nhãn vôngại trí lực: Có trí lực thiên nhãn thấy như thật sự sanh tử, nghiệpduyên của chúng sanh mà không bị chướng ngại.

9. Tri túc mạng vô lậutrí lực: Có trí lực biết như thật các đời trước của mình và chúngsanh.

10. Tri vĩnh đoạn tậpkhí trí lực: Có trí lực biết như thật đối với tất cả vọng tưởng, tậpkhí, lậu hoặc đã hoàn toàn đoạn trừ không sanh trở lại.

TƯٍ VÔ SỞ ÚY

1.Nhất thiết trí vô sởúy: Đức Như Lai ở giữa đại chúng tuyên bố rằng: "Ta là bậc nhất thiếttrí, không còn e sợ ai có thể chỉ trích một cách đúng pháp rằng: NhưLai không phải bậc nhất thiết trí".

2. Lậu tận vô sở úy:Đức Như lai ở giữa đại chúng tuyên bố rằng: "Ta đã đoạn tận tất cảphiền não lậu hoặc, không còn e sợ ai có thể chỉ trích một cách đúngpháp rằng: Như Lai chưa đoạn hết các lậu hoặc".

3. Thuyết chướng đạovô sở úy: Đức Như Lai ở giữa đại chúng nói các dục phiền não là phápchướng đạo, không còn e sợ ai có thể chỉ trích một cách đúng pháprằng: "Các dục phiền não là pháp không chướng đạo mà Như Lai lại nóichướng đạo"

4. Thuyết tận khổ đạovô sở úy: Đức Như Lai ở giữa đại chúng nói về giới, định, tuệ là conđường diệt khổ, không còn e sợ ai có thể chỉ trích một cách đúng pháprằng: "Giới, Định, Tuệ không phải là đạo giải thoát mà Như Lai nói làđạo giải thoát."

Chính nhờ thành tựubốn pháp này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếngrống con sư tử ở giữa đại chúng.

BÁT GIẢI THOÁT HAY BÁT BỘI XẢ 

1. Nội hữu sắc quánngoại sắc giải thoát: Đối với nội thân còn có sắc tưởng của nhiều thamái, muốn dứt trừ tham ái đó không thể tự quán bất tịnh tự thân mà phảinhờ quán bất tịnh nơi thân người khác mà được giải thoát tham ái nơitự thân mình.

2. Nội vô sắc tưởngquán ngoại sắc giải thoát: Đối với tự thân ngũ uẩn không còn tham áichấp trước, nhưng để cho tâm giải thoát tham ái đó được kiên cố vàgiải thoát tâm tham ái đối với thân người khác, nên cần phải tiếp tụcquán bất tịnh nơi thân người khác, nơi xác chết..., nhờ đó mà tâm giảithoát tham ái được bền vững.

3. Tịnh giải thoátthân tác chứng cụ túc trí: Qua giai đoạn thứ ba này tâm tham ái về sắcthân đã dứt trừ, đến đây không còn phải quán bất tịnh nữa, nhưng lạiquán tịnh sắc để luyện tập tâm, dù thấy tịnh sắc, tâm vẫn giải thoátkhông khởi tham ái.

4. Không vô biên xứgiải thoát.

5. Thức vô hữu xứ giảithoát.

6. Vô sở hữu xứ giảithoát.

7. Phi tưởng phi phitưởng xứ giải thoát.

8. Diệt Thọ Tưởng ĐịnhThân tác Chứng Cụ túc trú: Đây là Định cao nhất trong chín định thứđệ. Nhập vào định này thì hành giả dứt cả thân hành (hơi thở ra vôkhông còn) dứt cả ngũ hành (không còn tầm và tứ) và bỏ luôn tâm hành(tức dứt trừ tâm sở thọ và tưởng).

Đức Phật nhờ tu Tứ vôlượng tâm, Tứ vô ngại biện..., thành tựu đầy đủ tri kiến phương tiệnBa-la-mật, cho nên, đức Phật mới thành tựu quyền trí, tùy căn cơ chúngsanh rộng diễn nói pháp, dẫn dắt cho ra khỏi mọi chấp trước.

Đây là đức Phật Thíchca tự tán thán trí tuệ của mình. Trí tuệ đó thậm thâm vi tế, càng đisâu vào càng không biết ngằn mé chỗ nào.

Đức Phật thành tựuđược pháp vị tằng hữu, vị tằng hữu tức nói về thật trí.

Đoạn kinh: "Như Laidùng các thứ phân biệt, khéo nói các pháp, ngôn từ nhu nhuyển, làm vuiđẹp lòng chúng", là tán thán quyền trí. Quyền trí tức trí thuyết phápđộ sanh, dùng ngôn từ nhu nhuyến, làm đẹp lòng chúng sanh để dẫn dắthọ.

Trong lúc Phật đangtán thán thì nửa chừng thì Ngài bỗng nói: "Thôi, Xá-lợi-phất, khôngnên nói nữa". Vì sao? Vì pháp đệ nhất nan giải Phật thành tựu đó chỉcó Phật với Phật mới cùng tận được thật tướng các pháp.

Mở đầu phẩm Phươngtiện, có ba lần Phật bảo với Tôn giả Xá-lợi-phất "Thôi" (Chỉ), đây làlần thứ nhất. Lần thứ nhất Ngài bảo "thôi" không nói. "Thôi" này có ýnghĩa rằng, thật tướng các pháp là thậm thâm, quyền trí và thật trícủa Phật là thậm thâm. Sự thậm thâm đó chỉ có trí tự giác, tự ngộ thânchứng chứ không thể dùng ngôn ngữ để trình bày, để nói ra được cho nênPhật nói "thôi".

"Thôi" cũng có ý bảorằng những lời Ngài sắp nói ra đây cần phải ly ngôn tự chứng chứ khôngthể cứ vin theo những câu những lời của Phật mà có thể chứng ngộ được."Thôi" vì giáo nghĩa, vì thật tướng thậm thâm, trí tuệ thậm thâm chonên Phật nói ngang đó rồi ngài bảo "thôi". Vì sao? Vì điều đó chỉ cóPhật với Phật mới cứu cánh chứng ngộ được thật tướng các pháp, chưaphải Phật, càng nói ra, chúng sanh càng chấp trước theo ngôn từ y văngiải nghĩa..., thì không làm sao giải thoát được.

Các pháp thật tướng.Thế nào là các pháp thật tướng? Đó là như thị tướng, như thị tánh, nhưthị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhơn, như thị duyên, nhưthị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh đẳng. Pháp thật tướnglà pháp ly ngôn, ly tứ cú tuyệt bách phi, nhưng mà thật tướng ly tứ cútuyệt bách phi cũng không phải ngoài hiện tượng các pháp này mà có.Cho nên có thể bằng vào hiện tượng và dùng ngôn ngữ để diễn đạt thậttướng đó qua các nghĩa tướng của nó, mà chỉ ngay trong các pháp hiệntrước mắt (hiện tướng) để chỉ thật tướng. Tất cả mỗi pháp tự nơi nóđều có 10: Tướng như vậy, tánh như vậy...

Tướng: Là hình dánghiện ra bên ngoài, thấy, sờ mó được, nó hiển hiện. Pháp gì cũng cótướng như vậy.

Tánh: Pháp nào tự nócũng có thật tánh bên trong không biến chuyển, không thấy được.

Thể: Tánh và tướng hợpnhất thành ra cá thể.

Lực: Tánh, tướng, thểthành ra một pháp, thì pháp đó có năng lực.

Tác: Có năng lực thìcó sự tạo tác, tác dụng.

Nhơn: Chính pháp đó cóthể làm nhơn cho cái khác.

Duyên: Có thể làmduyên cho cái khác.

Quả: Tự nhơn duyên củamình và cái khác mà thành ra quả. Nhơn đưa đến quả.

Báo: Sự thù đáp lạinhơn và duyên trước đó.

Bản mạt: là chỉ từ nhưthị tướng đến như thị báo cứu cánh đẳng... Từ tướng đến báo, từ bảnđến mạt, đều rốt ráo bình đẳng như nhau, bình đẳng trên thật tướng,nên gọi "Cứu cánh đẳng".

Đi sâu vào trong 10như thị, thì có hai như thị là quả và báo cần phải rõ thêm.

Sao có "quả"mà lại có"báo"? Thường hay nói quả báo, như vậy là gồm cả hai chứ không phảimột. Vừa đẳng lưu vừa dị thục. Tất cả pháp, pháp nào từ nhơn đến quảcũng có hai khía cạnh, một khía cạnh đẳng lưu, một khía cạnh dị thục.Nhưng hai khía cạnh này không phân ly (bất phân ly).

Đẳng lưu nhân quả: Từnhân đến quả, quả lưu xuất một cách bình đẳng với nhân. Quả với nhâncùng một tánh, cùng một loại: Như nhân xoài quả xoài, nhân mít quảmít, nhân lành quả lành, nhân dữ quả dữ.

Dị thục nhân quả: Từnhân đến quả có sự biến đổi, quả khác với nhân, quả và nhân không cùngmột loại, không cùng một tánh, như nhân hạt mít thành cây mít, nhânlành hoặc dữ mà thành quả Vô ký. Ví dụ: Hạt mít trồng lên cây mít, ởđây ta thấy có hai khía cạnh.

1. Mít trồng lên mít,trước sau nhân quả vẫn là mít, chứ không phải xoài ổi... Đó là đẳnglưu nhân quả.

2. Hạt mít trồng lêncây mít, thì cây mít không giống hạt mít, cây là cây mà mít là mít,mặc dù cây từ mít mà mọc lên. Đó là dị thục nhân quả.

Hoặc ví dụ, đất sétnắn thành bình đất, thì đất là đất, mà bình đất cũng là đất, chứ khônglà bình đồng, đó là đẳng lưu nhân quả. Nhưng bình đất không phải làđất, bình đất dùng đựng, có thể vỡ, đất không vậy. Như vậy bình đất(quả) khác với đất (nhân), đó gọi là dị thục nhân quả.

Hai loại nhân quả ởloài hữu tình thì:

Nhân thiện thành quảthiện, nhân ác thành quả ác, gọi là đẳng lưu nhân quả.

Nhân thiện ác thànhquả vô ký gọi là dị thục nhân quả.

Vì sao nhân quả lạimâu thuẫn nhau như vậy?

Nên biết dị thục nhânquả này không phải tách riêng đẳng lưu nhân quả mà có cái thể riêng,nhưng mà nó có tánh cách riêng. Như nghĩ lành, nói lành, làm lành(thiện nghiệp nhân) cái nhân thiện đó luôn luôn tạo ra kết quả nghĩlành, nói lành, làm lành (thiện nghiệp quả), đó là nhân quả đẳng lưu.Vậy càng làm thiện chừng nào thì thiện tâm càng lớn, càng vững chắc.Đó là nhân thiện, quả thiện thuộc đẳng lưu nhân quả. Nghĩ ác, nói ác,làm ác cũng vậy.

Nhưng nhân thiện, nhânác đồng thời lại đưa đến kết quả thọ báo thân cõi trời, cõi người, địangục, thọ quả báo khổ, vui... thì chính tự thân khổ vui hay thọ báothân loài trời, loài người lại không có tánh lành hay tánh dữ mà là vôký.

Báo thân người, báothân trời... hay thọ khổ, thọ vui tự nó là vô ký, chứ không thể bảothân người thân trời là thiện hay ác, thọ khổ là ác, thọ vui là thiện,mặc dù thân người, thân trời, khổ vui cũng từ nghiệp nhân thiện ác đưađến. Cho nên thọ khổ, thọ vui thuộc dị thục quả. Trong khi thọ khổ màác tâm nghiệp của ngày trước vẫn còn lưu tục, ác tâm ác nghiệp đó tạothành ác tâm ác nghiệp ngày hôm nay, ác vẫn là ác (đẳng lưu). Thiệntâm thiện nghiệp (nhân) của ngày trước đưa đến thiện tâm thiện nghiệp(quả) ngày hôm nay. Thiện vẫn là thiện (đẳng lưu). Nhưng thiện và ácphối hợp lại, hoặc là thiện nhiều ác ít hoặc ác nhiều thiện ít màthành ra quả báo thân cõi trời, cõi người... hay hình thành ra báothân con người thọ khổ hay thọ lạc, thì báo thân thọ khổ, thọ lạc đókhông phải là thiện, không phải là ác, khổ không phải là thiện, khôngphải là ác; lạc không phải là thiện, không phải là ác. Thiện ra thiện,ác ra ác là đẳng lưu quả. Còn khổ và vui, làm lành được vui, làm ác bịkhổ, khổ vui đó chính tự bản thân nó là vô ký. Mặc dù, cái khổ, cáivui đó chính từ ác nghiệp, thiện nghiệp gây ra, cũng như đất nắn thànhbình, mà bình không giống đất, nên gọi là dị thục, nghĩa là biến đổiđưa đến thành thục, quả không cùng một loại với nhân.

Đẳng lưu là sao? Trồnggiống xoài, giống xoài đó từ đầu nó diễn tiến lên, tiền niệm hậu niệmtương sanh, trước xoài giữa cũng xoài và sau cũng xoài. Như vậy gọi làđẳng lưu.

Dị thục là sao? Câyxoài, từ cái hột, rồi lên cây, sanh ra trái, như vậy nó vẫn là xoài,nhưng phải trải qua bao nhiêu giai đoạn khác nhau, cây xoài khônggiống xoài, như bình không giống đất, như vậy gọi là dị thục, mà dịthục này thuộc về vô ký...

Trong kinh dùng chữquả và báo có khác nhau ở chỗ đó. Quả chỉ đẳng lưu, báo chỉ dị thục.Không phải hai nơi, hai thể mà chính từ một cái mà có hai khía cạnhkhác nhau. Có những con người trong khi thọ vui, họ sung sướng lắm (dịthục), nhưng chưa chắc họ thiện (đẳng lưu). Sự sung sướng đó là kếtquả thiện nghiệp ngày trước, cái sướng đó, cái lạc báo đó thuộc về vôký. Nhưng mà giờ đây, chính trong họ đang mang nghiệp ác từ trước lưulại, đó là đẳng lưu, nghiệp đó thiện tánh, ác tánh, không gọi vô ký.Thành ra, trong khi đẳng lưu thì vẫn là ác mà họ thọ sướng, cái sướngđó dị thục vô ký.

Tóm lại: Thiện tánhsanh thiện tánh là đẳng lưu. Thiện tánh cộng thiện nghiệp thành thiệnbáo, dị thục.

Về thập như thị, ngàiThiên Thai còn diễn giải thành ra "nhất tâm tam quán" và "nhất niệmtam thiên" như sau:

Tam quán là Giả quán,Không quán và Trung đạo quán. Sở dĩ có Tam quán là bởi vì chính từ mỗipháp, pháp nào cũng có ba sự thật hay chân lý ba mặt gọi là "đế". Đếlà sự thật, là chân lý. Ba sự thật đó là:

1. Giả đế: Giả tứcnhiên nó là vô thường, là do hòa hợp mà thành, nó không thật. Mỗi phápđều do nhân duyên kết hợp, vô thường biến đổi, gọi là giả. Giả đó cũnglà một sự thật không chối cãi nên gọi là "đế".

2. Không đế: Bản tánhmọi vật vốn là giả, không thật, mà không thật nên không có tự tánh độclập ngoài các duyên nên gọi nó là không, không đó cũng là một sự thậtkhông chối cãi được nên gọi là Không đế.

3. Trung đạo đế: Giả,Không không phải nằm tách riêng biệt ngoài Giả có Không, ngoài Khôngcó Giả mà chính Giả là Không, Không là Giả. Đó cũng là một sự thật nêngọi Trung đạo đế.

Chúng ta không nhìnthấy được Trung đạo là vì chúng ta chỉ nhìn có một khía cạnh, hoặc khithì nói không, khi thì nói có, chứ không thấy được có trong không,không trong có.

Vậy thì, mỗi pháp tựnó có ba tánh cách thật: Giả cũng thật, Không cũng thật, Trung đạocũng thật. Với ba sự thật đó làm sao nhận biết được. Nếu đem tâm thôngthường không thể thấy được nên phải quán, và khi quán về mặt Giả thìgọi là Giả quán, quán về mặt Không thì gọi là Không quán, quán về mặtTrung đạo thì gọi là Trung đạo quán, mà ba quán đó cũng từ ở một tâmnày mà thành tựu được chứ không phải ngoài tâm mà có. Trong một tâm màquán được viên mãn ba thứ nên gọi là nhất tâm tam quán. Với "thập như"này ngài Thiên Thai lại biến chuyển ra ba cách đọc mà thành ra baquán:

Khi đọc: Như thịtướng, Như thị tánh... (Tướng là như vậy,...) Đó là Giả quán. Đó làlối chỉ ngay hiện tượng mà nói, hiện tượng giả tướng là như vậy, tánhlà như vậy... Tức là theo sự giả của sự vật mà chỉ bày ra, nhìn về mặthiện tượng gọi là Giả quán.

Khi đọc: Tướng thịnhư, Tánh thị như,... đó là Không quán hay Chơn quán. vì dù là tướng,là Tánh..., nhưng tướng vẫn nằm nơi Như, tướng không ly Như, tướngkhông nằm ngoài thật tướng, ngoài như như, ngoài chân như, tánh vẫn làNhư, tướng vẫn là Như.

Khi đọc: Tướng nhưthị, Tánh như thị... Tướng như vậy, như vậy là như vậy, Như thị làpháp nhĩ như thị, nó là nó, nó là như thế, như thế là như thế, đó làTrung đạo quán. Không thiên Hữu, không thiên Vô, không thiên Giả,không thiên Không gọi là Như thị.

Tóm lại, thập như thịnày, mỗi thứ đều có ba cách nhìn, cách đọc thành ba sự thật. Ba cáchnhìn, cách đọc đó thành ba cách quán mà ba quán vốn từ nhất tâm nêngọi là "Nhất tâm tam quán", đó là lý chỉ yếu của Tông Thiên Thai.

"Nhất niệm tam thiên".Một niệm ba ngàn là thế nào? Ba ngàn đây không phải là ba ngàn theo ýniệm thời gian. Ba ngàn đây là: Hữu tình (chúng sanh) thế gian thì cóchia ra 10 bậc, gồm Tứ Thánh và Lục phàm. Tứ thánh: Thanh văn, Duyêngiác, Bồ-tát, và Phật. Lục phàm: Địa ngục, ngạ quỶ, súc sanh, thiên,nhơn, a-tu-la.

Mười cấp bậc của loàihữu tình như vậy gọi là thập pháp giới hay thập giới. Nhưng nói thậppháp giới như vậy là phân biệt đại thể chứ mỗi giới như vậy cũng mangđủ tánh cách của chín giới kia. Nói địa ngục không chỉ hẳn địa ngục màtrong ấy có cả Phật, Bồ-tát... ngạ quỶ, súc sanh nữa. Vậy thì mỗi giớicó đủ tánh cách của chín giới kia, nên 10*10 là 100 giới, mà mỗi giới,giới nào cũng đủ 10 như thị (100 * 10 = 1.000) tức là bách giới thiênnhư. 1000 như, nhân với ba loại thế gian là: Hữu tình thế gian, ngũ ấmthế gian, khí thế gian, thành ba ngàn như. Nhưng ba ngàn như này khôngngoài một niệm của chúng sanh, không ngoài một niệm có ba ngàn, thànhthử, chính ba ngàn là một niệm, một niệm là ba ngàn. Tức là tánh cáchtừ nơi bản tánh một niệm mà đủ ba ngàn.

Cho nên, ngài ThiênThai có dùng thuyết "Tánh Khởi". Tánh khởi là từ nơi bản tánh một niệmmà có đủ ba ngàn, rồi nó gặp duyên như thế nào nó khởi lên như thế ấy.Gặp duyên địa ngục khởi lên địa ngục, gặp duyên thiên nhơn khởi lênthiên nhơn...

Nhất niệm tam thiênnày có thể nói theo nghĩa của kinh Hoa Nghiêm là: "Vô biên sát hải tựtha bất cách ư mao đoan".

Tóm lại, thập như thịtrong kinh Pháp Hoa là điều chủ yếu để nói về thật tướng các pháp nênngài Thiên Thai đã dùng thập như đó mà diễn ra bằng ba cách quán vàthành tam thiên. Đó là hai lý chỉ yếu của Tông Thiên Thai vậy.

Kinh văn: Lúc bấy giờđức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Đấng Thế Hùng bất khảlường, hàng chư thiên và thế nhơn, tất cả loài chúng sanh, không aibiết Phật được. Phật đủ 10 lực, bốn Vô sở úy, tám giải thoát, các tammuội và các pháp khác của Phật, không thể nào trắc lường hết được.

Giải thích: Đây là bàitụng tán thán Phật và pháp. Bốn câu đầu tán thán Phật là Đấng giác ngộđược thật tướng sâu xa, là Đấng có đầy đủ công đức chúng sanh khôngthể nào thấu hiểu hết được. Bốn câu sau là tán thán pháp, tức tán thánnhững điều đức Phật chứng ngộ được như mười lực, bốn Vô sở úy...,những pháp này chúng sanh cũng không thể nào trắc lường được.

 

Kinh văn: Vốn từ vô sốcác đức Phật, thật hành đầy đủ các đạo, pháp thậm thâm vi diệu khóthấy khó hiểu. Trải vô lượng ức kiếp, tu các đạo hạnh ấy xong, ở nơiđạo tràng chứng thành quả giác, Ta đã đều biết hết. Như vậy, đại quảbáo và các nghĩa tánh tướng chỉ có Ta cùng mười phương chư Phật mới cóthể biết việc đó, pháp ấy không thể chỉ bày, tướng ngôn ngữ vắng bặt,các loài chúng sanh khác, không làm sao hiểu được, trừ chúng Bồ-tátbằng sức tin kiên cố (mới tín giải mà thôi).

Giải thích: Đoạn kinhnày cũng là tiếp lời tán thán trên.

Trên là tán thán Phậtvà pháp của Phật chứng ngộ.Tại sao đức Phật lại chứng ngộ được cácpháp đó? Bởi vì như trên đã nói, không phải một hai ngày mà phải rấtnhiều công phu tu tập trãi qua vô số kiếp, gặp vô số các đức Phật,thực hành đầy đủ đạo hạnh, cho nên đức Thích Tôn mới chứng được nhữngpháp đó. Những pháp Phật chứng ngộ được rất là thậm thâm vi diệu. Màpháp đó là gì? Tức chỉ cho thật trí và quyền trí, hay nói rộng ra là10 trí lực, bốn điều không sợ, tám món giải thoát,... Do đó Ngài đãchứng thành quả vị Bồ-đề nơi đạo tràng, và điều đó Ngài đã biết rõ.Chỉ có đức Thích Tôn cũng như 10 phương chư Phật khắp cùng biết rõ đạiquả báo và các tánh tướng của các pháp. "Quả báo tánh tướng" ở đây lànói tóm gọn"10 như" ở trước. Tánh tướng là đứng về nhơn, quả báo làđứng về quả báo. Cho nên bốn tướng này tóm thâu cả 10 như thị. Chỉ cóđức Phật và 10 phương các đức Phật mới biết rõ pháp đó, mà pháp đó làpháp dứt bặt các tướng ngôn từ, không thể dùng ngôn từ để chỉ thị rađược, bởi vì pháp ấy cần tri chứng, thì phải dùng bằng trí chứng. Ngôntừ chỉ có thể là phương tiện chỉ dẫn, ngôn từ không thể nói đích thậtpháp mà Phật chứng ngộ. Cho nên đối với pháp đó tướng ngôn từ vắngbặt, các loài chúng sanh không thể hiểu được.

Nhưng chúng sanh khônghiểu được thì làm sao ngộ được trí chứng của Phật, học theo trí củaPhật, để đạt đến trí của Phật được, duy chỉ các hàng Bồ-tát bằng sứctin kiên cố mà hiểu được, hiểu bằng tín giải chứ chưa hiểu bằng chứnggiải. Nghĩa là dựa theo lời Phật dạy rồi phát lòng tin vững mạnh nơilời đức Phật mà hiểu.

Đối với các vị Bồ-táttrước khi kiến đạo, thì đầy đủ bốn chứng tịnh hay bốn bất hoại tín làtin Phật tin Pháp, tin Tăng, tin Giới. Bốn thứ này người học đạo phảitin vững chắc không lay chuyển, không thay đổi. Khi người học đạo cóđủ bốn đức tin như thế thì người đó đã gần tới địa vị kiến đạo. Chẳngnhững hàng Bồ-tát như vậy, mà những người học đạo cũng đều phải nhưvậy. Cho nên đức Phật nhắc nhở đến đức tin kiên cố để tín giải Phậtpháp. Nếu không thì luôn luôn chỉ đứng ngoài cửa chứ không làm sao vàonhà Phật pháp được.

Kinh văn: Các đệ tửPhật, từng cúng dường các đức Phật, tất cả lậu đã tận, ở vào thân tốihậu, những người như thế sức họ không kham hiểu nổi.

Giải thích: Nghĩa làtrừ hàng Bồ-tát dùng sức tin kiên cố nói trên, bậc A-la-hán ở Thanhvăn thừa, những vị này đã từng tu tập, từng cúng dường, từng đoạn hếtlậu hoặc. -Nên nhớ lậu hoặc ở đây chưa phải là đoạn vô minh mà là đoạndục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, đó là ba thứ lậu trong tam giới chứchưa phải đoạn vô minh lậu ngoài tam giới. -Khi đoạn hết lậu này rồithì chứng A-la-hán, là thân cuối cùng, thân này không còn tái sanhtrong tam giới nữa. Cho nên một vị A-la-hán thành tựu là một vị luônluôn có đầy đủ bốn nghĩa: Thử sanh dĩ tận (Do đoạn Khổ đế, chấm dứtsanh tử), phạm hạnh dĩ lập (Do thành tựu Đạo đế, đủa các phạm hạnh),sở tác dĩ biện (Do chứng Diệt đế, việc cần làm đã làm xong), bất thọhậu hữu (Do chứng Tập đế, không còn trở lại trong sanh tử). Đầy đủ bốnnghĩa đó gọi là A-la-hán. Bất thọ hậu hữu là ở thân cưối cùng. Trongvòng luân hồi sanh tử của chúng sanh trãi qua vô lượng vô số thân khiloài này, khi loài khác, không biết ngang đến mức nào mới gọi là thâncuối cùng? -Đến quả vị A-la-hán là thân cuối cùng không còn tái sanhnữa. Những bậc A-la-hán như thế cũng không thể hiểu được pháp Phậtchứng ngộ.

Kinh văn: Giả sử, đầycả thế gian gồm có những người như Xá-lợi-phất, suy nghĩ cùng tột,chung nhau lại so lường cũng không thể so lường biết được trí củaPhật.

Giải thích: Các vịA-la-hán không biết đã đành, những vị trí tuệ như Tôn giả Xá-lợi-phất,đầy cả thế gian chung nhau lại để suy lường pháp của Phật chứng ngộcũng không thể được.

Kinh văn: Giả sử, đầycả 10 phương đều như Xá-lợi-phất và các hàng đệ tử khác cũng đầy cả 10phương cõi nước, cùng tột tư lường, chung nhau trắc lường, thì cũngkhông thể biết được trí chứng ngộ của Phật.

Đến hàng Bích Chi Phậtlợi trí, ở thân vô lậu tối hậu và cũng đầy cả 10 phương giới, số nhữngvị đó nhiều như rừng tre, chung nhau lại đồng nhất tâm, trãi qua ức vôlượng kiếp, muốn suy nghĩ thật trí của Phật cũng chẳng làm sao biếtđược phần ít.

Dù đến hàng tân phát ýBồ-tát, từng cúng dường vô số Phật liễu đạt được các nghĩa thú, lạikhéo thuyết pháp. những vị đó nhiều như lúa, mè, tre, lau đầy khắp cả10 phương cõi, nhất tâm dùng diệu trí ở trong hằng sa kiếp đều cùngnhau tư lường cũng không biết được trí của Phật.

Cho đến hàng Bất thốiBồ-tát, số đó như hằng sa, nhất tâm cùng nhau tư cầu cũng không thểbiết được trí của Phật.

Giải thích: Tóm lại,trí Phật, thật tướng Phật chứng ngộ, chỉ trừ hàng Bồ-tát, bằng sức tinkiên cố mới tín giải được một phần, ngoài ra, hàng tân phát ý Bồ-tát(Bồ-tát còn ở địa vị trước thập tín), bất thối Bồ-tát (Bồ-tát đã lêntrên thập địa), A-la-hán, Bích Chi Phật và những vị có đại trí tuệ nhưXá-lợi-phất đầy khắp cả thế gian chung nhau lại để tu lường cũng khôngai biết được trí của Phật và cũng không ai biết được thật tướng Phậtchứng ngộ.

Trí của Phật sâu xanhư vậy, lý của Phật sau xa như vậy, điều đó để nói lên rằng cái sâuxa của Phật không thể biết được. Vì sao như vậy? Bởi vì lý này, trínày là cần thật chứng chứ không thể tư lường phân biệt. Nếu đem tưlường phân biệt thì dù có phân biệt đến vô số kiếp, đem bao nhiêu tâmtư lanh lợi khôn ngoan để phân biệt cũng không phân biệt được.

Dựa vào ý này để hiểuthì giáo pháp của Phật đối với chúng ta cũng vậy, điều này luôn luônđược đức Phật nhắc nhở. Nếu ai nghĩ rằng đem tâm tư phân biệt để hiểulời Phật dạy thì lời ấy sẽ trở thành một môn triết lý, nó không là mộtchân lý cứu cánh, chân lý giác ngộ của Phật nữa. Cho nên trong kinhthường nhắc nhở chúng ta là cần phải chứng ngộ. Và cũng như đoạntrước, đức Phật trong khi Ngài đang nói nửa chừng Ngài bảo "Thôi"không nên nói nữa. "Thôi" đó có ý nhắc nhở chúng ta là cần phải lyngôn tự chứng chứ không phải cứ nói mãi trên ngôn từ mà hiểu được,cũng không thể bằng vào ngôn từ mà ngộ được.

Kinh văn: Lại nàyXá-lợi-phất, pháp thậm thâm vi diệu vô lậu bất tư nghì Ta nay đã đầyđủ, chỉ có ta biết tướng ấy và mười phương chư Phật biết tướng ấy.Xá-lợi-phất nên biết, lời các đức Phật nói không đổi khác, hãy sanhđức tin to lớn đối với pháp của đức Phật nói. Pháp Thế Tôn lâu về saucần phải nói chân thật.

Phật bảo chúng ThanhVăn và những người cầu Duyên Giác thừa, Ta khiến cho thoát khỏi sựtrói buộc của các khổ, mau chứng được Niết-bàn, Ta dùng sức phươngtiện để khai thị giáo nghĩa tam thừa, dắt dẫn khiến chúng sanh ra khỏicác nơi chấp trước.

Giải thích: Đoạn kinhnày ý rằng, trong khi chứng ngộ cần phải đem lòng tin mới chứng giảiđược.

Có người nghĩ rằng,đạo Phật là đạo chú trọng về trí chứ không chú trọng về đức tin, còncác đạo khác thì chủ trương về đức tin chứ không chủ trương về trí.Nhưng nên hiểu rằng trong Phật giáo không phải không có đức tin, nhưngđức tin đó luôn luôn dựa theo giải (sự hiểu biết) tức trí tín, chứkhông phải hoàn toàn trí mà không có tín. Nói có đức tin nghĩa là đốivới những pháp chưa có thể nhất thời liễu ngộ, chứng ngộ rõ ràng đượcthì chỉ bằng vào lòng tin, mà khi đã hiểu rõ pháp đó rồi thì gọi làngộ chứ không phải tín nữa. Ví dụ, như tôi nói các vị hãy tin tôi, cácvị vào đây tôi sẽ cho một vật rất quý, mà vật quý đó các vị chưa thấy.Như vậy, vật tôi sẽ cho đó các vị chưa biết (giải). Nhưng các vị tintôi, bằng vào bao nhiêu lần nói khác, tôi nói đúng thật, không hư dối.Hôm nay, tôi bảo các vị vào đây để các vị vật quý đó, các vị tin theotôi nên vào. Đó gọi là tín giải. Nếu các vị không tin, đòi phải chothấy rồi mới chịu vào, nhưng mà vật đó vốn dĩ nằm bên trong chứ khôngthể đem ra ngoài cho các vị thấy được, nếu như các vị không chịu tinlời tôi, cứ ở bên ngoài thì luôn luôn các vị không làm sao thấy vậtquý đó được. Có tin lời tôi đi vào thì mới thấy, đó gọi là tín giải,có tín giải mới đi đến chỗ chứng giải, chứng ngộ.

Qua câu chuyện bàKisagotami sau đây để hiểu thêm: Bà Kisagotami sanh được một đứa conduy nhất, trong khi sống bên nhà chồng, bà không được thương yêu, nhờkhi sanh đức con mà bà được thương yêu đôi chút, cho nên, đứa con đóđối với bà là một vật quý báu, một nguồn an ủi, bao nhiêu hy vọng, baonhiêu hạnh phúc của mình đều đặt nơi đứa con. Nhưng không may con bàchết. Bà sầu khổ cùng tột, không chịu đem xác con đi chôn. Bà ôm xáccon đi cùng khắp để tìm thầy cứu sống. Có người hiểu được hoàn cảnhnên chỉ bà đến đức Phật cầu cứu. Bà ôm con tìm Phật, đức Phật dạy bàhày đi xin một ít hạt cải nơi nhà nào xưa nay không có người chết đemvề, Ngài sẽ cứu cho. Bà tin theo lời Phật dạy, đi gõ cửa từng nhà xinhạt cải, ai cũng sẵn lòng cho, nhưng khi hỏi nhà này xưa nay có aichết không thì họ đều ngạc nhiên và trả lời rằng hoặc cha chết, mẹchết... Cứ dần dần từ nhà này đến nhà kia đều trả lời giống nhau, làmtâm bà bừng tỉnh, hiểu rõ luật vô thường có sanh là có chết. Bà lặnglẽ đem xác con đi chôn rồi trở về bạch Phật rằng: -Bạch đức Thế Tôn,việc Ngài dạy con đi xin hạt cải con đã làm xong, xin đức Thế Tônchứng cho.

Qua câu nói của bàKisagotami, chứng tỏ một người từ lòng tin mà đi đến chỗ chứng ngộ.Nếu như không tin lời Phật dạy thì chắc bà nói "nếu Phật có cứu thìđưa cho chớ con có biết đâu mà xin", mà nếu không tin lời Phật thì bàấy không bao giờ tự mình giác ngộ đích thật được điều Phật chỉ cho:Cuộc đời là vô thường có sanh tức có chết. Thứ nữa, qua câu chuyện chothấy rằng giáo pháp Phật, tin rồi là phải thực hành, không thể ngồi đóchờ Phật mang sự hiểu biết, sự sáng suốt tới cho mình được. Nếu như bàKisagotami bảo, Phật có cứu thì Ngài hãy xin thuốc về cho, còn bà cứngồi đó chờ thì chắc chắn bài học giác ngộ của bà không bao giờ thànhtựu được. Nếu bà cứ ngồi đó và Phật giải thích thì bà cũng chỉ hiểu sựvô thường một cách lờ mờ không xác thực, không thấm thía bằng chính bàhọc bài học đó từ miệng mọi người, từ sự kiện thực xảy ra. Thành ra,từ chỗ tín đi tới chỗ giải, chỗ ngộ, hai thứ đó phải song hành, Phậtgiáo không gọi bằng tín vì đó luôn luôn đi với trí, nếu tín mà khôngcó trí thì thành mê tín, tín đó không đi đến chỗ xác thực. Nhưng phảicó tín và tín đó phải đi đôi với trí. Trong kinh văn Phật bảo: "Tinlời Ta nói không khác". Chữ "không khác" có hai nghĩa: Một là đứcThích Tôn nói, lời Ngài đã nói hôm trước và nói hôm nay là như vậy,tuy trên phương diện ngôn từ có khác, nhưng trên phương diện ý thứckhông khác, "vô dị". Thứ nữa, ý rằng 10 phương chư Phật đồng chứng nhưnhau, đồng có trí tuệ như nhau, thì cũng đồng nói pháp như nhau, "Phậtngữ vô dị".

Nhưng vì sao Phật cứnhắc đi nhắc lại là cần phải tin lời Phật nói không khác? -Bởi vì đứcPhật sẽ nói một pháp mà đối với hàng nhị thừa sẽ kinh ngạc, khó tin,cho nên Phật phải nhiều lần nhắc đi nhắc lại "Pháp Thế Tôn lâu về saucần phải nói chân thật". Sao gọi là lâu về sau? -Nghĩa là sau baonhiêu năm thuyết giáo đến những năm cuối cùng Ngài mới nói pháp chânthật mà chính Ngài muốn nói từ lâu, cho nên gọi là lâu về sau.

Đoạn kinh "Những hàngThanh Văn và những người cầu Duyên Giác thừa... dẫn dắt chúng sanh rakhỏi mọi chấp trước", xứ xứ trước tức đắm trước mọi nơi. Chúng sanh ởdâu thì đắm trước nơi đó, đắm trước về thân, tâm, cảnh giới, về tậpquán, về nghiệp lực của mình. Nếu như đức Phật không dùng sức phươngtiện nói tam thừa để dẫn dắt thì không làm sao đưa chúng sanh ra khỏi(xứ xứ trước).

Kinh văn: Lúc bấy giờ,trong đại chúng, có các hàng Thanh Văn lậu tận A-la-hán như A-nhãKiều-trần-như... một ngàn hai trăm người và các vị phát tâm cầu ThanhVăn, cầu Bích Chi Phật, các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, Ưu-bà-tắc,Ưu-bà-di, mỗi mỗi đều nghĩ rằng: Nay đây, vì cớ gì đức Thế Tôn ân cầntán thán pháp phương tiện mà nói rằng: "Pháp của Phật chứng ngộ thậmthâm khó hiểu, có nói dạy gì ý thú khó biết, tất cả hàng Thanh Văn,Bích Chi Phật không thể biết kịp?" Phật nói nghĩa Nhất giải thoát thìchúng tôi đây cũng đã được pháp đó, đạt đến Niết-bàn rồi, mà nay khôngbiết nghĩa thú về đâu.

Giải thích: Đây làđoạn đại chúng nghi mà Tôn giả Xá-lợi-phất là tiêu biểu. Nên nhớ ởphẩm Tựa, Phật chỉ hiện thần thông, phóng quang, nhập định, đại chúngthấy các điềm lạ mà sanh nghi. Nghi Phật hiện các thụy tướng đó để làmgì? Phẩm Tựa Phật chỉ "mật khai tam hiển nhất", nghĩa là Phật ngấmngầm khai tam thừa để hiển Nhất thừa nên đại chúng chưa có sanh nghinhư ở phẩm Phương Tiện. Qua phẩm Phương Tiện mới "hiển khai tam hiểnnhất", nghĩa là, Phật nói trắng ra việc khai Tam thừa hiển nhất thừanhư: "Ta dùng sức phương tiện để khai thị giáo nghĩa Tam thừa", "Phápcủa Ta lâu về sau cần phải nói chân thật". Khi Phật nói rõ đến lý chânthật, đó là hiển, vì "hiển khai Tam hiển Nhất" cho nên các vị A-la-hánvà đại chúng mới sanh lòng nghi. Không biết vì sao trước Phật tán tháncả hai trí (Thật trí và Quyền trí) mà đến đây Phật chỉ tán thán Quyềntrí.

Thứ nữa, pháp của Phậtchứng ngộ được Ngài diễn bày ngôn thuyết,mà ngôn thuyết đó cũng khóhiểu, khó biết, lời gần ý xa. Trong chúng tự thấy mình là Thanh Văn,là Bích Chi Phật mà không biết được. Phật nói Nhất giải thoát, nghĩaNhất giải thoát là thế nào? Phật đã từng nói ai tu theo pháp Tứđế,Thập nhị nhân duyên sẽ được giải thoát, Hữu dư, Vô dư Niết-bàn đồngy như nhau, pháp đó gọi là Nhất giải thoát, thì chính pháp đó nay đâychúng ta dã dược rồi, bây giờ, Phật lại nói đó chỉ là pháp phương tiệnđể đưa về pháp chân thật. Không biết cái nghĩa đó rồi sẽ đi về đâu,cho nên, trong chúng sanh lòng nghi. Nghi đây là vì do Phật nói rõ ý"khai tam hiển nhất" vậy.

Tóm lại, ý thú Phậtnói ra khiến hàng đệ tử khó biết mà sanh nghi có ba lý do:

- Trước Phật tán tháncả hai trí, nay tại sao Phật lại chỉ tán thán có Quyền trí thôi, đó làđiêù khó hiểu thứ nhất.

- Tại sao trước đứcPhật không nói Tam thưà là phương tiện mà bây giờ Ngài lại nói Tamthừa là phương tiện, ý đó cũng khó hiểu.

- Còn chân thật nàonữa mà Phật nói "lâu về sau sẽ nói ý chân thật, thế thì từ trước tớinay Phật chưa nói lý chân thật sao? Và những giáo lý Phật nói đềukhông chân thật sao? Đó là những điều hàng đệ tử không hiểu cho nênsanh lòng nghi.

Kinh văn: Lúc bấy giờ,Tôn giả Xá-lợi-phất biết tâm của tứ chúng nghi hoặc, và tự mình cũngchưa rõ nên mới bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn, vì nhân duyên gìNgài lại ân cần tán thán đệ nhất phương tiện của Phật là pháp thậmthâm vi diệu nan giải. Thật, con từ xưa đến nay chưa từng nghe Phậtnói như vậy. Nay đây, cả bốn chúng đều có chỗ nghi, trông mong đức ThếTôn, hãy phô diển việc này. Đức Thế Tôn vì cớ gì lại ân cần tán thánpháp thậm thâm vi diệu khó hiểu?

Giải thích: Thậm thâmvi diệu khó hiểu tức là nói về Quyền trí hay Phương tiện trí. Vì Phậtnói rõ như vậy nên chúng sanh nghi. Trước là nói ba việc chúng khônghiểu, giờ nói về việc nghi của chúng có ba:

Nghi giáo: Trước kiaPhật nói Tam thừa, tu theo thừa nào thì chứng quả thừa đó, Phật khôngnói Đại thừa. Tiểu thừa hay pháp này cao, pháp kia thấp gì hết, cũngkhông nói pháp này thật, pháp kia quyền. Thế mà ngày hôm nay Phật nóiTam thừa là: phương tiện, Nhất thừa mới là chân thật. Vậy thì lời dạytrước kia đúng hay lời dạy hôm nay đúng? Và biết đâu ngày mai Ngài sẽnói Nhất thừa là phương tiện còn có pháp khác mới là chân thật?

Nghi nhơn: Nghi chínhđức Phật, một vị nói trước sau bất nhất như vậy có phải Phật haykhông, hay là ma?

Nghi mình: Trước kianghĩ rằng, mình đã chứng quả A-la-hán. Như Tôn giả Xá-lợi-phất đã từngđược Phật ngợi khen là bậc trí tuệ đệ nhất, thế mà giờ đây đối với lờiPhật dạy không hiểu gì hết nên nghi mình có phải là trí chưa, mình cóthật chứng La-hán không? Và tại sao Ngài lại ân cần tán thán đệ nhấtphương tiện của chư Phật?

Chữ "đệ nhất phươngtiện" có hai nghĩa:

- Diệu dụng phươngtiện thuyết pháp này chỉ có đức Phật mới đủ sức dụng để thuyết phápcho chúng sanh.

- Phật phương tiện nóiTam thừa để đưa đến nhất thừa, như vậy, Tam thừa là phương tiện củanhất thừa.

 

Kinh văn: Lúc bấy giờ,Tôn giả Xá-lợi-phất muốn lặp lại nghĩa này mà nói bài kệ rằng:

Đấng Huệ nhất đạiThánh Tôn, lâu xa mới nói pháp, tự nói rằng mình được thập lực nhưvậy, Tứ vô sở úy, Thiền định tam-muội, giải thoát như vậy là nhữngpháp bất tư nghì. Pháp đã chứng được nơi đạo tràng không ai phát ralời hỏi được, ý của Ta (Phật) cũng khó trắc lường, không ai hỏi được.Không hỏi mà tự nói, xưng tán đạo tu hành, là trí tuệ rất vi diệu củachư Phật chứng đắc. Các vị lậu tận A-la-hán, những người cầu Niết-bàn,nay đều bị rơi vào trong lưới nghi. Cớ gì Phật nói như thế? Nhữngngười cầu Duyên giác, hay hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các trời, rồng,quỉ thần và Càn-thác-bà... nhìn nhau lòng do dự nghi nan, chiêm ngưỡngđấng Lưỡng túc tôn, muốn biết việc đó là thế nào? Mong đức Thế Tôn nóicho.

Đối với chúng ThanhVăn, Phật nói con (Xá-lợi-phất) là đệ nhất. Thế mà con nay, đối vớitrí tuệ của mình, nghi hoặc không sao rõ được. Đó là pháp cứu cánh haylà đạo tu hành.

Hàng Phật tử từ miệngPhật sanh ra, chấp tay chiêm ngưỡng chờ mong Ngài buông lời vi diệu,đã đúng thời nên vì nói như thật.

Các hàng trời, rồng,quỉ thần số như hằng sa. Các vị Bồ-tát cầu Phật quả, số lớn cũng cótám vạn và Chuyển luân Thánh vương từ muôn ức cõi nước, đều đến đâychấp tay cung kính muốn nghe Ngài nói Đạo chân thật đầy đủ.

Giải thích: Huệ nhậtđại Thánh Tôn là chỉ cho đức Phật, đấng đại Thánh tôn có trí tuệ nhưmặt trời. Dùng chữ Huệ nhật có ý rằng trí tuệ như mặt trời ấy phá đượcvô minh, giờ đây trí tuệ này hiển nhất chân lý nên gọi là Huệ nhật.

Đoạn này ý nói rằngTôn giả Xá-lợi-phất nghĩ trí tuệ của mình thường được Phật tán thán làđệ nhất, nhưng kỳ thật chưa nhất gì hết. Bởi vì không hiểu được lờiPhật dạy hôm nay là pháp cứu cánh hay là đạo tu hạnh?

"Cứu cánh pháp" tứcchỉ cho Niết-bàn hay Diệt đế; "Sở hành đạo" tức chỉ Đạo đế.

"Phật tử"; từ miệngPhật sanh ra, từ Pháp Phật được hóa sanh gọi là Phật tử. Nhờ nghe lờiPhật dạy, từ kim khẩu Phật mà phát tâm tu hành trở thành đứa con tinhthần của Phật nên gọi là Phật tử.

Đoạn kinh trên là lờicủa Tôn giả Xá-lợi-phất ân cần cầu xin Phật thuyết pháp, cầu xin Phậtgiải nghi cho mình và đại chúng.

Kinh văn: Lúc bấy giờ,Phật bảo Xá-lợi-phất, thôi thôi không nên nói nữa. Nếu nói việc nàythì tất cả thế gian, trời, người đều kinh hãi nghi ngờ.

Xá-lợi-phất lại bạchPhật rằng: Bạch đức Thế Tôn, trông mong nói cho! Trông mong nói cho!Bởi vì sao? Bởi vì nơi hội này vô số trăm ngàn vạn ức A-tăng-kỳ chúngsanh, là những người từng thấy các đức Phật, các căn lanh lợi, trí tuệminh liễu, nghe lời Phật nói tức sẽ kính tin.

Lúc bấy giờ,Xá-lợi-phất muốn lập lại nghĩa này mà nói bài kệ rằng:

Đấng Pháp vương vôthượng, trông mong Ngài nói, chớ có lo nghĩ, vô lượng chúng hội này,có người nghe được liền sanh tâm kính tin.

Phật lại bảo, thôiXá-lợi-phất. Nếu nói việc này tất cả thế gian, trời, người, A-tu-lađều sẽ kinh hãi nghi ngờ, hàng tăng thượng mạn Tỳ-kheo sẽ rơi vào hầmlớn. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này mà nói bài kệrằng:

"Thôi thôi không nênnói, pháp Ta rất nhiệm mầu, khó nghĩ, các hàng tăng thượng mạn nghechắc không kính tin.

Lúc bấy giờ,Xá-lợi-phất lại bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, trông mong nói cho,trông mong nói cho! Nay ở trong chúng hội này, những hàng so sánh nhưchúng con có tới trăm ngàn vạn ức, đời đời đã từng theo Phật chịu sựgiáo hóa, những người kính tín, trường dạ an ổn được nhiều lợi ích.Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất muốn lập lại nghĩa này mà nói bài kệrằng:

Đấng vô thượng lưỡngtúc tôn, trông mong nói pháp đệ nhất, con là trưởng tử của Phật, mongdủ lòng từ phân biệt nói cho. Hội này vô lượng chúng, hay kính tinpháp đó. Phật đã từng đời đời giáo hóa chúng hội như vậy. Những ngườiđó đều nhất tâm chắp tay, mong nghe và lãnh thọ lời Phật dạy. Chúngtôi một ngàn hai trăm và các người cầu Phật quả trông mong Ngài vìchúng này mà dủ lòng từ phân biệt nói cho. Những người như vậy nghepháp này thì sanh tâm đại hoan hỶ.

Giải thích: Trong phầnđầu của phẩm Phương Tiện, Phật có ba lần bảo "thôi" và ba lần Tôn giảXá-lợi-phất thỉnh Phật nói pháp.

Lần đầu tiên, Phậtđang tán thán thật trí và quyền trí nửa chừng Ngài bảo "thôi". Thôilần đầu tiên có ý rằng pháp Phật chứng ngộ thâm diệu cao quá nói rakhông được, không thể dùng ngôn ngữ văn tự để diễn tả phân biệt màhiểu được, cần phải thân chứng, ly ngôn tự chứng, cho nên Phật bảothôi. Nhưng sau lần Phật bảo thôi đó, giờ đây, Phật lại bảo "Ta đãdùng sức phương tiện mà nói tam thừa". Phật gợi lên sự nghi ngờ rấtlớn cho Xá-lợi-phất và đại chúng, cho nên, Tôn giả Xá-lợi-phất lại âncần thỉnh Phật nói pháp. Thế là một lần Phật bảo "thôi" và một lầnXá-lợi-phất cầu Phật nói pháp. Khi Xá-lợi-phất cầu thỉnh Phật nóipháp, đức Phật lại bảo "thôi", "thôi" không nên nói, nếu nói việc nàythì tất cả thế gian trời người kinh nghi. Đây là lần "thôi" thứ hai,lần này không phải vì pháp sâu xa mà bảo "thôi", nhưng vì căn cơ củahàng trời người thấp kém, sợ nghe pháp này sẽ sanh lòng kinh ngạc nghinan cho nên Phật bảo "thôi". Phật bảo "thôi", Xá-lợi-phất lại một lầncầu thỉnh Phật nói pháp, ngài nêu lý do rằng những người trong hộichúng đều là những người đã từng thấy Phật, có căn tánh lanh lợi, cótrí tuệ, có thể nghe được và có thể kính tin lời Phật dạy. Khi Tôn giảXá-lợi-phất cầu thỉnh Phật nói pháp lần thứ hai này thì Phật lại bảo"thôi, Xá-lợi-phất, nếu nói việc này, tất cả thế gian, Trời, Người,A-tu-la đều sẽ kinh nghi, hàng tăng thượng mạn Tỳ-kheo sẽ rơi vào hầmlớn". Đây là lần thứ ba Phật bảo "thôi". Lần này là vì không nhữnghàng nhơn thiên kinh nghi, không kính tin mà chính ngay hàng A-la-háncũng kinh nghi không kính tin nổi, hàng Tỳ-kheo tăng thượng mạn sẽkhinh chê phỉ báng, do đó, bị đọa địa ngục cho nên Phật bảo "thôi"không nói.

Đức Phật đã ba lần bảo"thôi" không chịu nói, nhưng Tôn giả Xá-lợi-phất lại lần thứ ba nữanêu lý do rằng những người trong chúng hội này chẳng những nghe đượclời Phật nói sanh lòng kính tin, mà cũng chính nhờ nghe lời Phật mà họcó được nhiều sự lợi ích an ổn, để thỉnh Phật nói cho.

Đó là nguyên nhân củaba lần Phật bảo "thôi" không nói và ba lần Phật lẫn Xá-lợi-phất cầuPhật nói. Và ba lần "thôi" ấy còn có ý rằng pháp Phật thậm thâm, Phậtmuốn chúng hội tập trung tư tưởng, chú ý vào và tập trung lòng mongcầu ham muốn nghe pháp. Cũng để chứng tỏ rằng pháp tâm viễn này khôngthể nói phi thời mà phải nói đúng lúc, đúng thời. Thứ nữa là cũng đểchờ những người trong hội không đủ sức nghe, những kẻ tăng thượng mạnđều lui ra. Bởi vì không nghe được mà ngồi đó thì sanh lòng phỉ bángsẽ bị đọa lạc, cho nên ba lần nói "thôi" đó cũng là một cách chờ chohội chúng thuần nhất rồi sẽ nói.

Vì sao hàng A-la-hánmà còn kinh nghi? Vì bởi xưa nay nghĩ rằng mình là A-la-hán đã chứngNiết-bàn rồi, giờ đây Phật lại bảo đó mới là phương tiện, thì ra trướcđây mình chưa chứng Niết-bàn gì hết! Đó là vì thấy mình có sự tổn hạinên kinh nghi. Một điểm nữa là trước đây Phật nói pháp tam thừa, tuhành có giới hạn, bây giờ Phật lại nói về Bồ-tát hạnh, thôi thì mênhmông vô cùng. Lục độ vạn hạnh, hạnh nào cũng là Bồ-tát hạnh, hạnh nàocũng là hạnh độ sanh, không biết hạnh nào mà lường. Mà những hạnh ấykhông phải tu một hai ngày hay một vài năm mà là vô lượng kiếp, thờigian lâu xa làm sao ai theo nổi? Trước Phật dạy tu theo Thanh Vănthừa, chứng Sơ quả Dự lưu thì chỉ pcòn bảy lần sanh lại Dục giới, đếnNhất lai chỉ còn một lần sanh lại Dục giới rồi chứng A-la-hán. Bất lailà không còn sanh Dục giới nữa mà ở trên Tứ Thiền, Ngũ tịnh cư thiênchứng A-la-hán thì không còn sanh tam giới nữa, phá sạch phiền não,thoát ly sanh tử, có giới hạn rõ ràng, còn Bồ-tát thì mênh mông trãiba A-tăng-kỳ kiếp..., nên sanh kinh nghi. Đó là đa sự kinh nghi.

Hàng phàm phu mang ngãchấp nặng nề, tội chướng sâu dày, nghe Phật nói sanh ra phiền não điênđảo, gọi là điên đảo kinh nghi.

Hàng trí tuệ như Tôngiả Xá-lợi-phất nghe Phật nói pháp mà không hiểu, sanh lòng ân hận,thà trước kia mình đừng nghe đừng tu để đợi đến ngày hôm nay nghe rồitu luôn khỏi hoài công vô ích, gọi là hối kinh nghi.

Khi nghe Phật nói thìsanh nghi ngờ, không biết Ngài nói như thế là thật hay là có sự luốngdối, vì khi Phật nói thế này, lúc Ngài nói thế kia, đó là cuống kinhnghi.

Tóm lại, đây là đoạnmở đầu cho phần "Khai tam hiển nhất" ở sau. Sau ba lần cầu thỉnh, bấygiờ, Phật hứa nói.

Kinh văn: Lúc bầy giờđức Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất rằng: "Ông đã ân cần ba phen thưa thỉnh hákhông nói được sao! Ông hãy nghe cho kỸ, khéo suy nghĩ và nhớ mãi, Tasẽ vì ông phân biệt giải nói.

Giải thích: Đức Phậthứa nói, nhưng khi nào Phật sắp nói pháp đều bảo "đế thính, thiện tư,niệm chi". Nhiều kinh đều có lời nhắc nhở này, trong lời nhắc nhở ấycó ý là khi nghe giáo pháp Phật là phải dùng Văn huệ. Tư huệ và Tu huệchớ không phải nghe suông mà có thể hiểu được.

"Đế thính" thuộc vềVăn huệ. Nghe một cách kỸ lưỡng, rõ ràng, ưa thích, có trí tuệ hiểuđược trong khi nghe, đó là Văn huệ.

"Thiện tư" thuộc về Tưhuệ. Nghe rồi phải suy nghĩ chín chắn.

"Niệm chi" thuộc về Tuhuệ. Suy nghĩ rồi phải ghi nhớ mãi và phải thực hành, trì niệm.

Kinh văn: Khi Phật nóilời đó thì trong hội chúng có các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,Ưu-bà-di năm ngàn người cả thảy, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chânPhật mà lui ra. Vì cớ sao? -Vì hạng này tội căn thâm trọng và tánhtăng thượng mạn, chưa được cho là được, chưa chứng cho đã chứng, có sựtội lỗi như thế nên họ không ở lại. Đức Thế Tôn im lặng không ngănchận.

Bấy giờ, Phật bảo Tôngiả Xá-lợi-phất, nay đây trong chúng hội này của Ta không còn cành lánữa mà thuần là hạt chắc thôi. Xá-lợi-phất, những kẻ tăng thượng mạnnhư vậy lui đi cũng tốt, ông nay hãy khéo nghe, Ta sẽ vì ông mà nói.

Xá-lợi-phất bạch Phậtrằng, thưa vâng, kính bạch Thế Tôn, con nguyện muốn nghe.

Giải thích: Khi Phậthứa nói thì trong hội chúng có năm ngàn người gồm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di đứng dậy lễ Phật lui ra.

Trước khi Phật chưanói thì họ còn ngồi, đến khi Phật hứa nói thì họ lui ra. Vì sao?

Vì:

1. Tội căn thâm trọng,bởi những người này còn nặng về các phiền não chướng, báo chướng,nghiệp chướng nên không mong nghe pháp cao xa.

2. Vì tâm tăng thượngmạn nên không muốn nghe. Thế nào là tăng thượng mạn? -Chưa được nói làđược, chưa chứng nói đã chứng hay mới được một chút ít mà cho là đủrồi (đắc thiểu vi túc) nên không cần thêm nữa. Tăng thượng mạn là mộttrong bảy món mạn. Bảy món mạn đó là:

- Mạn: Ỷ mình hơnngười rồi nói mình hơn người, mình bằng người rồi nói mình bằng người."Tôi hơn anh chứ, tôi bằng anh chứ!" Chính từ câu nói đó đã chứa "Mạn"trong ấy. Họ thua mình thật và mình hơn họ thật, nhưng hơn thua đó tựnhiên không nói không nghĩ đến thì thôi, nhưng khi nói ra hoặc đemlòng so sánh phân biệt tranh đua thì gọi là "Mạn".

- Quá mạn: Mình thuangười mà cho mình bằng người, mình bằng người mà cho mình hơn người,lúc nào cũng đưa mình làm hơn người một bậc.

- Mạn quá mạn: Hạngnày quá hơn nữa, thua người mà nói mình hơn, tự nâng mình lên hơnngười đến hai bậc, nên gọi mạn quá mạn.

-Tăng thượng mạn: "Đắcthiểu vi túc" mới được một ít cho là đủ, mới tu sơ sơ, mới học một vàikinh cho là vừa rồi tu chi nhiều, học vậy là đủ rồi, hoặc chưa chứngThánh quả mà cho là đã chứng. Người đã sa vào tăng thượng mạn là khôngtự biết được, vì tập quán lâu ngày che lấp tâm trí, khi nào cũng tựthấy mình hơn cả.

-Tà mạn: Các hàngngoại đạo chấp những đạo lý sai quấy rồi tự phụ những ý kiến lý lẽ ấy,cho rằng hơn cả. Hoặc chấp tà nhơn, tà quả rồi tự thị nơi tà nhơn tàquả đó.

-Ti liệt mạn: Thuangười đến một trăm phần mà nói thua ít ít thôi. Cũng chịu thua, nhưngthua chút chút, hoặc thủ phận mình thua, nhưng không chịu phục ngườihơn.

-Ngã mạn: Tự chấp lấyngã và ngã sở của mình, khi chấp trước như thế thì bao giờ cũng thấycái ngã của mình quí hơn cái ngã của người khác. Nói ra hay mặc nhiêntrong tâm tư vẫn thấy bản ngã của mình hơn bản ngã của người khác. Dùcó tàn tật, nghèo khó đi nữa cũng vẫn thấy bản ngã của mình quí hơn.Ngã mạn này là căn bản của chúng sanh. Các "mạn" kia, hoặc có cái này,hoặc có cái kia, nhưng ngã mạn thì ai cũng có.

Biết rõ tánh chất củabảy thứ mạn để chúng ta nghiệm lại tâm lý của mình và mọi người, tâmtrạng ấy mỗi lúc thuộc về loại mạn nào để cách trừ diệt.

Khi năm ngàn ngườităng thượng mạn bỏ đi ra, đức Phật nói: "Hàng tăng thượng mạn như vậylui ra cũng tốt". Phật nói lui đi cũng tốt, in tuồng như Phật chẳng từbi gì hết. Những đệ tử theo Phật nghe pháp xưa nay, giờ đây, họ bỏ rađi mà Phật cũng không hề ngăn, cũng không khuyên, có những người ở đâuđâu mà Phật còn tìm đến để độ, còn những người ngồi trước mặt mà Ngàilại không độ, để họ đi ra lại nói: "Đi vậy cũng tốt". Nói có vẽ phũphàng hất hủi!

Không, vì đức Phậtbiết rằng nếu những người tăng thượng mạn còn ngồi lại họ sẽ làm mấthạt giống Phật, bởi ngồi nghe mà sanh tâm phỉ báng, mất lòng tin sẽ bịđọa lạc, thà để họ lui ra còn hơn. Thứ nữa, nghe với tâm không mongmỏi lại phỉ báng thì sẽ phiền cho những người chung quanh, gây cái xấucho người chung quanh, người chung quanh không được nghe một cáchthuần nhất chân thành, nên Phật bảo lui đi cũng tốt là vậy.

 

Kinh văn: Phật bảoXá-lợi-phất, diệu pháp như vậy, các đức Phật Như Lai đúng thời mớinói, như hoa Ưu-đàm-bát đúng thời mới hiện một lần. Xá-lợi-phất: cácông hãy tin điều Như Lai nói là không luống dối.

Giải thích: "Thời nãithuyết chi" -đúng thời mới nói -diệu pháp của Phật nói ra phải hợpthời, không phải lúc nào cũng nói được, ví như hoa Ưu-đàm đúng thờimới nở.

Đoạn kinh trên đây làđức Phật tán thán diệu pháp.

Từ đây đến cuối phẩmthường bao gồm sáu ý này trong các đoạn văn:

1. Tán thán pháp.

2. Đức Phật thườngnhắc đi nhắc lại là lời Phật không hư vọng.

3. Đức Phật phươngtiện mở tam thừa.

4. Phật chỉ thị đạo lýnhất thừa chân thật.

5. Vì gặp đời ngũtrược nên Phật phải phương tiện khai tam thừa.

6. Phật phân biệt hạngngười đủ sức tin Phật Pháp và hạng không tin Phật Pháp để khuyến khíchngười có đủ sức tin cố gắng tin giáo pháp Phật.

Kinh văn: Xá-lợi-phất,các đức Phật tùy nghi thuyết pháp, ý thú khó hiểu. Vì cớ sao? Vì Tadùng vô số phương tiện, các thứ nhơn duyên và thí dụ, ngôn từ diễn nóicác pháp. Pháp ấy không thể đem tâm tư lường phân biệt mà hiểu được.Chỉ có các đức Phật mới hiểu được mà thôi.

Giải thích: Đây cũnglà lời tán thán Pháp và đồng thời khai phương tiện. Tức là, đức Phậtdùng vô số phương tiện cách thức để nói pháp ra cho mọi người đều hiểuđược.

Kinh văn: Sở dĩ làmsao? Các đức Phật Thế Tôn chỉ do nhân duyên của sự trọng đại duy nhấtcho nên xuất hiện ra đời. Này Xá-lợi-phất, thế nào gọi là các đức PhậtThế Tôn chỉ do nhân duyên của sự trọng đại duy nhất cho nên xuất hiệnra đời? Các đức Phật Thế Tôn vì muốn khiến chúng sanh mở trí kiếnPhật, khiến được thanh tịnh, cho nên xuất hiện ở đời; muốn chỉ thị chochúng sanh tri kiến Phật, cho nên xuất hiện ở đời; muốn khiến chúngsanh ngộ được tri kiến Phật, cho nên xuất hiện ở đời; muốn khiến chúngsanh chứng nhập tri kiến đạo của Phật, cho nên xuất hiện ở đời.

Xá-lợi-phất, ấy là chưPhật vì nhân duyên của sự trọng đại duy nhất cho nên xuất hiện ở đời.

Giải thích: Đoạn nàylà một đoạn chủ yếu trong kinh Pháp Hoa. Trước Phật tán thán hai trícủa Phật, kế tiếp tán thán thật tướng Phật chứng ngộ. Đến đoạn này,Phật "tán thán chủ đích Phật ra đời" Nói chủ đích Phật ra đời tức lànói đến bản hoài đức Phật ra đời cốt để làm gì? Đức Phật có trí tuệsâu xa, chứng ngộ được pháp thậm thâm vi diệu, bây giờ Phật xuất hiệnở đời để làm gì?

Chủ đích đức Phật xuấthiện ra đời là "Vị nhất đại sự nhân duyên". Nhất đại sự tức chỉ trikiến Phật. Vì bởi chỉ có tri kiến Phật mới là đại sự duy nhất mà cũngchính vì nhân duyên đó Phật ra đời. Nhân duyên duy nhất đó là Khai,Thị, Ngộ, Nhập cho chúng sanh Phật tri kiến.

Chữ "Khai thị ngộnhập" có tầng bậc: Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến (hay phá vọng, hiểnchơn, trí giải, hạnh chứng).

Phật tri kiến: Tri tứctrí tri, kiến tức nhãn kiến. Phật có tứ và ngũ nhãn. Tri kiến là baogồm cả Tứ trí và ngũ nhãn. Tri kiến là bao gồm cả Tứ trí và ngũ nhãncủa Phật. Chữ "tri" cũng chỉ cho căn bản trí, căn bản trí là trí chứngnhập thật tánh các pháp. Chữ "kiến" chỉ cho hậu đắc trí tức là trí saibiệt, vận dụng để thuyết pháp độ sanh.

Tri kiến Phật nói bằngcách khác tức là Phật tánh. Như đã biết, tất cả chúng sanh đều có Phậttánh, tức có nghĩa là, tất cả chúng sanh đều có trí kiến Phật. Tất cảchúng sanh đều có tri kiến Phật nhưng vì còn bị phiền não chướng, sởtri chướng che lấp cho nên tri kiến Phật nơi chúng sanh chưa hiển lộra được nên không dùng chữ tri kiến Phật nơi chúng sanh. Như vậy, trikiến Phật giữa Phật và chúng sanh đồng thể, bình đẳng như nhau nhưngvì bị vô minh che lấp, bây giờ Phật cần khai thị cho chúng sanh ngộnhập được tri kiến Phật ấy.

Nói cho dễ hiểu làchúng ta có nhận được Phật tính hay tri kiến Phật không, nếu như Phậtkhông khai thị cho chúng ta thấy. Cho nên, bao nhiêu lời Phật dạy,Phật nói: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh". Đó là Khai. Nhưng Phậtnói mà chúng ta chưa thấy Phật tánh của mình ra sao, cho nên Phật chỉrõ cho thấy Phật tánh, đó là Thị. Có chỉ rõ mới ngộ được, đó là Ngộ:Nhờ ngộ mới tu chứng, đó là Nhập. Bốn tầng lớp tầng lớp Khai, Thị,Ngộ, Nhập này có thể dựa vào kinh Lăng Nghiêm để phân biệt giảng giảinhư sau:

Trong kinh Lăng Nghiêmkhông dùng hai chữ tri kiến Phật, Phật tánh, mà gọi là Như Lai tạngtâm, thanh tịnh diệu tâm, thường trú chơn tâm. Trong kinh cóđoạn:"Nhất thiết chúng sanh tùng vô thủy lai, giai do bất tri thườngtrú chơn tâm, tánh tịnh minh thể, nhận chư vọng tưởng, thử tưởng bấtchơn, cố hữu lưu chuyển." (Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, đềuvì không nhận biết được thường trú chơn tâm, tánh của nó là thanhtịnh, là thể sáng suốt, lại cứ nhận lầm các vọng tưởng cho là mình, mànhững vọng tưởng thì không chơn thật, cho nên phải luân hồi sanh tử).Kinh Lăng Nghiêm không nói Phật tri kiến nhưng thường trú chơn tâm làPhật tri kiến. Cũng như chỗ khác gọi Phật tánh cũng chính là Phật trikiến của kinh Pháp Hoa vậy.

Trong kinh Lăng NghiêmPhật Khai, Thị, Ngộ, Nhập như thế nào?

Mở đầu kinh LăngNghiêm, đức Phật hỏi Tôn giả A-nan rằng, Ông vì thấy gì, muốn gì ởtrong giáo pháp Ta mà đi tu?

A-nan thưa rằng, convì thấy thân đủ ba mươi hai tướng tốt của Như Lai, con biết thân đókhông phải do ái dục sanh mà là do vô lượng công đức sanh, cho nên consanh lòng mong muốn mà đi tu.

Ở đây, câu hỏi củaPhật là câu hỏi gây sự để A-nan nói ra rồi Ngài nắm lấy đó mà giảibày.

Phật gạn hỏi, Ông lấycái gì ưa muốn và lấy cái gì trông thấy?

Tôn giả A-nan thưarằng, con lấy con mắt trông thấy và lấy cái tâm ưa muốn. Đức Phật liềnhỏi, tâm Ông ở đâu?

Thường tình, ta nghĩtâm ở trong thân, chớ có ai để ý tâm ở chỗ nào, chẳng ai hỏi câu hỏiđó làm gì, nhưng đức Phật lại hỏi, Tôn giả A-nan đã cứ theo thườngtình mà trả lời.

Tôn giả A-nan nói: Tâmở trong thân, bị Phật bác; tâm ở ngoài thân, Phật cũng bác. Ngoài thânbị bác thì Ngài nói tâm núp sau mắt; tâm ở chặng giữa; hễ khi căn trầnlợp lại thì có tâm sanh ra...; Phật cũng đều bác hết. Bảy lần Tôn giảA-nan chỉ chỗ tâm ở đều bị Phật bác. Chính lúc Phật bác đó là "khai".Phật khai các mê lầm của Tôn giả A-nan, từ trước đến nay chấp lầm cáitâm tư lường phân biệt phan duyên hằng ngày chạy theo ngã tướng, nhântướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng của chúng sanh làm tâm. Chấpnhững cái đó làm tâm thì chẳng khác nào chấp thằng giặc làm con. Khôngbiết nó là giặc là một tầng sai lầm, không biết con để nhận giặc làmcon là hai tầng sai lầm, mà khi nhận giặc làm con thì dù gặp đứa conthật cũng không nhận nó là con nữa. Nếu như đức Phật không khai, khôngchỉ cho biết đó là vọng tưởng, vọng tâm, đó chẳng phải là chơn tâm thìTôn giả A-nan sẽ nhận lấy vọng tưởng làm tâm mà không bao giờ nhận rachơn tâm thường trú hay Phật tri kiến. Cho nên, trong kinh Lăngnghiêm, đoạn bảy chỗ hỏi tâm có thể tương đương với kinh Pháp Hoa làkhai Phật tri kiến.

Hằng ngày, chúng tanói, làm việc, suy nghĩ... trong đó, chúng ta đem tâm gì để biết, tâmgì để hiểu, tâm gì để suy tư, tâm gì để nói, tâm gì để đọc kinh, cúngPhật, lạy Phật... Chơn tâm hay vọng tâm? Phật tri kiến hay phiền não?Nếu Phật không khai thì luôn luôn ta cho đó là tâm ta, ta nhận như vậylà tâm ta nói, tâm ta tu... Và sẽ nhận cái đó là tâm chơn thật của ta.Nếu không nhờ Phật chỉ cho, trong đó chơn vọng lẫn lộn, không làm saophân ra được, cho nên bảy chỗ hỏi tâm trong kinh Lăng Nghiêm chính làđoạn Phật "Khai" Phật tri kiến. Phật khai cho để biết rằng cái gì làphiền não, cái gì là sở tri chướng mà loại nó ra, cũng như loại ra tấtcả cát, đá, sỏi, sạn để chỉ còn lại viên ngọc.

Nhưng, khai như vậy màchúng sanh đã thấy Phật tri kiến chưa? Chưa. Chẳng qua không còn nhậnlầm vọng tưởng là chơn tâm, không còn nhận lầm phiền não làm Phật trikiến mà thôi, phải qua tầng thứ hai là "thị", chỉ cho thấy Phật trikiến. Nhưng Phật tri kiến thậm thâm vi diệu thì làm sao bằng ngôn từcó thể chỉ bày cho thấy được? Chỉ có thể phương tiện chỉ bày qua nhữngcái hiện hành của nó trên kiến văn giác tri của chúng ta hằng ngày màthôi, còn bề sâu thực thể, thực tánh của Phật tri kiến chỉ có chứngngộ mới biết rõ được.

Trong kinh LăngNghiêm, sau bảy chỗ hỏi tâm, đức Phật 10 phen chỉ bày tánh thấy, đứcPhật hỏi A-nan rằng, khi mở mắt gọi là thấy, vậy khi nhắm mắt có thấykhông? A-nan thưa không thấy. Theo như thông thường, người đời nóinhắm mắt thì không thấy. Đức Phật hỏi, vậy thì khi nhắm mắt có thấytối không? A-nan nói, thấy có tối. Đức Phật nói, nếu không thấy thìlàm sao thấy tối. Như vậy, mở mắt thấy sáng gọi là thấy, nhắm mắt thấytối cũng gọi là thấy, sáng tối khác nhau, chứ tánh thấy không khác.Như vậy, cái thấy vẫn dựa nơi căn mà phát hiện, nhưng cái thấy khôngbị căn chi phối, cái thấy không phải là căn.

Tiếp tới, Phật bảoLa-hầu-la đánh chuông, khi có tiếng chuông Phật hỏi A-nan có nghekhông? A-nan thưa có nghe, khi chuông dứt, Phật hỏi A-nan có nghekhông? A-nan thưa không nghe. Đức Phật bảo La-hầu-la đánh chuông lạirồi hỏi A-nan có nghe không? A-nan thưa có nghe. Khi tiếng chuông dứtPhật lại hỏi A-nan có nghe không? A-nan thưa không nghe.

Đức Phật bảo A-nan, cótiếng chuông nói là có nghe, không tiếng chuông gọi là không nghe. Vậycó nghe được cái không tiếng chuông không? A-nan thưa, có. Đức Phậtbảo, này A-nan, như vậy ông đã lầm lấy cảnh làm tâm, lấy vật làm mình.Có tiếng chuông gọi là có nghe, không tiếng chuông gọi là không nghe,đó là lầm lấy vật làm mình, chớ có tiếng chuông hay không tiếngchuông, đó là của tiếng chuông, thuộc tiền trần cảnh vật, còn cái ngheluôn luôn đều có. Khi có tiếng chuông thì nghe tiếng chuông, khi khôngcó tiếng chuông thì nghe không tiếng chuông, dầu tiếng chuông có haykhông vần nghe, cái nghe đó thường trú đâu có bị tiếng chuông có haykhông làm thay đổi. Cái nghe đó vẫn là cái nghe. Như thế, bên trongđối với căn, tánh nghe, tánh thấy dựa vào căn mà phát hiện nhưng khôngbị lệ thuộc vào căn, bên ngoài tánh nghe, tánh thấy dựa vào trần màphát hiện nhưng không bị lệ thuộc vào trần.

Tóm lại, kiến tánh đólại là siêu thế. Vì lẽ tại thế mà siêu thế, cho nên, chúng sanh rấtkhó nhận mà Phật phải chỉ thị cho. Khi Phật chỉ cho như vậy rồi thìngay chúng ta cũng nhận biết được, thấy được mình có tánh thấy, tánhnghe rất thường. Nhắm mắt, mở mắt, có tiếng, không tiếng cũng thấycũng nghe, không bị lệ thuộc vào trần vào cảnh, mặc dù nó không lytrần, ly cảnh, ly căn nhưng nó siêu việt lên trần lên cảnh lên căn.Nhờ có Phật chỉ thị như vậy ta mới thấy được, đó là "thị" Phật trikiến.

Nói một cách thôngthường, lòng tham lam không phải là Phật tri kiến, ích kỶ không phảilà Phật tri kiến. Vậy thì bố thí, hỶ xả là Phật tri kiến. Bởi vì tánhvô tham, vô sân, vô si trong luận gọi là tam thiện căn, ba gốc lành,tức là mọi điều lành đều từ đó mà ra, mà nó đã là gốc lành thì nó tứclà Phật tri kiến, chứ như phiền não vọng tâm làm sao là căn bản của sựlành. Cho nên vô tham, vô sân, vô si là Phật tri kiến. Hiểu sai lệchthật tướng vạn pháp, chấp vô nhơn vô quả, tà nhơn tà quả đó là trikiến chúng sanh. Ngược lại, hiểu đúng thật tánh vạn pháp là vô thường,vô ngã, đó là tri kiến Phật.

Hiểu thật tướng vạnpháp theo vọng tướng phân biệt thị hiện, có, không, thường, đoạn làtri kiến chúng sanh. Ngược lại, ngộ được thật tánh vạn pháp nhất nhưbình đẳng, đó là tri kiến Phật. Vậy thì, muốn biết hằng ngày mình cóPhật tri kiến không? Nhận được Phật tri kiến không? Chúng ta có thểbằng vào tầng lớp đó mà biết được. Đây là đứng trên phương diện tamtánh (thiện, ác, vô ký) và tri kiến hằng ngày để phân biệt. Ác tánh làchúng sanh, không phải Phật tri kiến, vậy thiện tánh là Phật tri kiến,mà thiện bao gồm cả vô tham, vô sân, vô si, bố thí..., mặc dù thiện cóphân ra hữu lậu thiện, vô lậu thiện nhưng đều là thiện, mà đều làthiện thì đó chính là diệu dụng của Phật tri kiến, vả lại, tà tri,vọng kiến không phải Phật tri kiến, thì chánh tri, chánh kiến chính làPhật tri kiến, sự phát hiện của Phật tri kiến, chúng ta có thể hiểuqua tác dụng như thế, chúng ta không thể hiểu Phật tri kiến trên bảnthể, vì bản thể Phật tri kiến là ly ngôn tự chứng. Tất cả vạn pháp chỉthấy được "dụng", "tướng", chứ không thể thấy được "thể", huống chi làPhật tri kiến. Đó là "thị" Phật chi kiến. Đức Phật đã chỉ thị cho nhưvậy, về phần chúng sanh là phải "ngộ" Phật tri kiến. Ngộ là nhận biết,ngộ là giải ngộ, chứng ngộ. Nhưng chúng sanh nghe Phật chỉ thị cho nhưvậy là chúng sanh đã giải ngộ chứ chưa chứng ngộ. Nghĩa là ngộ đó bằngtâm tư phân biệt biện giải mà ngộ được. Nhờ giải ngộ đó rồi tu, nhờ tumà nhập được Phật chi kiến, đạt được vô phân biệt trí thật chứng màngộ.

Đến giai đoạn trựcchứng là ngộ, Ngộ đó như các Thiền sư, trực hạ thừa đương. Ngộ đókhông bằng biện giải, không bằng vào suy tư phân biệt. Một thiền sinhđến hỏi đạo, vị Thiền sư trả lời một câu vô nghĩa, ngay nơi đó mà trựcnhận thừa đương gọi là ngộ. Nếu lúc đó Thiền sinh dùng tâm tư phânbiệt để lý giải thì sai và không ngộ được. Trường hợp này rất khó vàhiếm, chúng ta chỉ giải ngộ được mà thôi. Sau khi nghe đức Phật dạyrồi phân biệt so sánh, hiểu rằng mình có Phật tri kiến, khác với phiềnnão nhiễm ô..., nhưng cũng chính nhờ biết, hiểu như vậy, đó cũng làmột bước đề đưa tới chứng ngộ và ngộ nhập. Giai đọan thứ tư là "nhập"Phật tri kiến, tức chứng nhập vào tri kiến Phật, thực dụng được Phậttri kiến đó gọi là chứng nhập. Cho nên đức Phật nhập tri kiến Phật rồithì tự phát ra cái khả năng, cái diệu dụng tùy cơ thuyết pháp giáo hóachúng sanh.

Đối chiếu ngộ Phật trikiến ngang giai đoạn sơ địa kiến đạo, từ kiến đạo trở lên dùng ngộ đómà tu (dĩ ngộ vi tu), tự ngộ mà tu (tự ngộ vi tu). Tu là tu theo chỗngộ chứ không tu theo chỗ giải, đó gọi là nhập.

Trong kinh Niết-bàn cóví dụ một người đàn bà nghèo có châu báu trong nhà nhưng không biết,để chôn vùi dưới bao nhiêu đất cát bụi dơ. Vì không biết mình có châubáu, cho nên sống một đời cực khổ thiếu thốn. Một hôm, có người bạnlành tới, thấy biết có châu báu nên vạch tất cả đất cát bụi dơ đó lênđể châu báu hiện ra. Đó là khai cho bà ta thấy châu báu, nhưng bà thấythì thấy mà vẫn không hiểu được sự quý giá như thế nào, như trong kinhLăng Nghiêm nói: "Khẩu năng thuyết dược, chơn dược hiện tiền bất năngphân biệt". Miệng thì nói vị thuốc này vị thuốc nọ nhưng khi để các vịthuốc trước mắt thì không phân biệt được. Người đàn bà nghe nói vàngbạc châu báu, vàng bạc để trước mắt mà không biết. Cho nên phải "thị",chỉ bày cho biết giá trị của châu báu như thế nào... Có chỉ cho biếtrồi mới ngộ. Khi ngộ rồi mới biết giá trị châu báu, mới quý trọng giữgìn, tìm cách sử dụng nó. Cũng như chúng sanh không biết Phật tri kiếncủa mình nên cứ bỏ lăn lóc trong phiền não nhiễm ô, trong sanh tử màkhông biết đến. Khi biết rồi mới giữ gìn và sử dụng, gọi là nhập. Hiểuđược tánh cách của châu báu là ngộ, sử dụng được châu báu là nhập.Nghĩa khai, thị, ngộ, nhập là vậy.

Trong kinh Lăng Nghiêmcòn hai đoạn ngộ và nhập, tức là sau khi Tôn giả A-nan được Phật khaithị (thất xứ trưng tâm, thập phương hiển kiến) cho Ngài thấy rồi, Tôngiả A-nan liền thưa: "Mong Phật Như Lai, vi diệu khai thị, liễu nhiêntụ tri, hoạch bổn diệu tâm, thường trú bất diệt". Nhờ đức Như Lai khaithị một cách vi diệu, cho nên con rõ biết được cái diệu tâm bổn laithường trú bất diệt. Khi Tôn giả A-nan ngộ được bồn diệu tâm đó rồi,Tôn giả đứng trên cái bản diệu tâm đó phát lời thệ nguyện tán thán TamBảo và độ sanh: "Diệu Trạm tổng trì bất động tôn..." đó tức là ngộ.

"Nhập" tức như trongLăng Nghiêm, về phần hai mươi lăm vị Thánh tu chứng viên thông. CóNgài từ nhãn căn mà ngộ nhập lý viên thông, có ngài từ nhĩ căn, tỶcăn, sắc trần, thanh trần,... mà ngộ nhập lý viên thông. Gồm tất cảhai mươi lăm vị, mỗi vị từ mỗi pháp môn mà chứng nhập lý viên thông.Lý viên thông tức Phật tri kiến, Phật tánh vậy. Bởi Phật tri kiến làcái lý chung nhất cùng dung thông hết tất cả cho nên gọi là viênthông. Có ngài từ nhĩ căn, có ngài từ nhãn căn..., quán nhãn căn, quánnhĩ căn. Bởi vì trong mỗi pháp, trên tướng dụng có sai khác nhưng trênthật tánh thì nhất thiết pháp bình đẳng, mà đã là bình đẳng thì thựctánh của một vi trần cũng như thực tánh của một núi tu di. Tùy theocăn cơ, có người quán núi tu di ngộ được thật tánh của vạn pháp, cóngười quán một vi trần mà ngộ được thật tánh của vi trần để ngộ nhậpthực tánh của vạn pháp. Trên phương tiện, pháp môn, dụng công tu tậpcó khác, nhưng chỗ chứng ngộ thì y như nhau.

Kinh văn: Phật bảoXá-lợi-phất, các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa hàng Bồ-tát. Phàm cólàm gì đều thường vì một việc là chỉ khai thị chúng sanh ngộ nhập trikiến Phật.

Xá-lợi-phất, Như Laichỉ đem nhất Phật thừa mà nói pháp cho chúng sanh, chứ không có thừanào khác hoặc hai, hoặc ba. Xá-lợi-phất, tất cả pháp của mười phươngchư Phật cũng đều như vậy.

Giải thích: Trước đứcThích Ca nói về Ngài, đoạn này cũng nói thêm rằng không phải một mìnhTa nói như vậy mà mười phương các đức Phật cũng nói như vậy. Lời nàyvừa để làm chứng lời mình (đức Thích Tôn) nói là đúng, vừa để tỏ lờimình nói cũng là quyền trí như các đức Phật mười phương mà cũng vừa đểtăng thêm lòng tin của đại chúng đối với lời nói của Ngài nữa.

Kinh văn: Xá-Lợi-Phất,các đức Phật quá khứ dùng vô lượng vô số phương tiện, các thứ nhânduyên, thí dụ ngôn từ, vì chúng sanh diễn nói các pháp, pháp đó đều lànhất Phật thừa. Các chúng sanh theo các đức Phật nghe pháp rốt ráo đềuđược nhất thiết chủng trí.

Giải thích: Nhất thiếttrí là Phật trí. Trí biết được tất cả vạn pháp và sự sai biệt của vạnpháp nên gọi nhất thiết trí hay nhất thiết chủng trí.

Kinh văn: Xá-lợi-phất,các đức Phật vị lai sẽ xuất hiện ở đời cũng dùng vô số phương tiện,các thứ nhơn duyên, thí dụ ngôn từ vì chúng sanh diễn nói các pháp,pháp ấy đều là nhất Phật thừa. Các chúng sanh theo Phật nghe pháp, rốtráo đều được chứng nhất thiết chủng trí.

Xá-lợi-phất, các đứcPhật hiện tại trong vô lượng trăm ngàn vạn ức Phật độ ở 10 phương, đemlại nhiều lợi ích an lạc cho chúng sanh. Các đức Phật ấy cũng dùng vôlượng vô số các thứ nhân duyên, thí dụ ngôn từ vì chúng sanh diễn nóicác pháp, pháp ấy cũng đều là nhất Phật thừa. Và các chúng sanh ấytheo Phật nghe pháp, rốt ráo đều chứng được nhất thiết chủng trí.

Này Xá-lợi-phất, cácđức Phật chỉ giáo hóa hàng Bồ-tát, muốn đem tri kiến Phật chỉ thị chochúng sanh, muốn đem tri kiến Phật cho chúng sanh tỏ ngộ, muốn khiếnchúng sanh nhập vào tri kiến Phật.

Này Xá-lợi-phất, Tanay cũng như vậy. Ta biết các chúng sanh có các thứ dục lạc khác nhau,thâm tâm đắm trước khác nhau, tùy theo bản tánh của họ, Ta dùng cácthứ nhân duyên, thí dụ ngôn từ và sức phương tiện để vì họ nói pháp.

Xá-lợi-phất, như thế,đều vì muốn khiến cho tất cả được nhất Phật thừa, nhất thiết trí màthôi.

Này Xá-lợi-phất, trong10 phương thế giới còn không có hai thừa huống chi có ba.

Giải thích: Đoạn kinhnày dẫn ba đời các đức Phật, quá khứ, vị lai, hiện tại để minh chứngrằng, chính ngày hôm nay đức Thích Tôn nói pháp cũng giống như ba đờicác đức Phật nói pháp không khác, chỉ vì duy nhất đại sự là "khai thịcho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến" mà thôi.

Kinh văn: Xá-lợi-phất,lúc các đức Phật ra đời nhằm vào thời ngũ trược ác thế, gọi là kiếptrược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược, mạng trược.

Như vậy, Xá-lợi-phất,trong thời kiếp trược rối loạn, chúng sanh cấu trọng, xan tham tật đố,thành tựu các bất thiện căn, cho nên các đức Phật dùng sức phương tiệntừ Nhất Phật thừa phân biệt nói thành ba.

Giải thích: Như đãbiết, trí tuệ của Phật là đồng nhất, thật tướng chư Phật chứng ngộ làđồng nhất, bản hoài chư Phật ra đời độ sanh cũng đồng nhất, chỉ vìkhai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, tức có nghĩa là đức Phậtchỉ nói về Nhất thừa pháp mà thôi. Bởi Phật tri kiến đó là thể củaNhất thừa pháp, thật tướng, thật trí, quyền trí cũng là thể của Nhấtthừa pháp. Nếu ly ba thứ đó ra thì Nhất thừa pháp không thể có. Bởinhất thừa pháp thuộc về giáo, còn trí tuệ, thật tướng và Phật tri kiếnthuộc về lý, thuộc về cảnh, thuộc về chơn như, mà nhất thừa giáo làgiáo từ lý được thành lập, có lý như vậy rồi thuyết lý đó ra thànhgiáo, gọi là Nhất thừa giáo. Một bên thuộc về sở thuyên, một bên thuộcvề năng thuyên, dù rằng sở thuyên, năng thuyên cũng đều đồng là nhấtthừa hết.

Thế tại sao đức Phậtlại không nói Nhất thừa giáo cho chúng sanh nghe ngay từ đầu và suốtcả thời thuyết giáo của Ngài mà Ngài lại phải nói Tam thừa làm gì?

Bởi vì, đức Phật rađời gặp thời ngũ trược ác thế, cho nên tùy theo cơ duyên từ Nhất thừapháp phương tiện nói ra Tam thừa để dắt dẫn chúng sanh, rồi từ đó đưavề nhất thừa. Nếu không phương tiện nói Tam thừa thì không thể đưa vềNhất thừa được.

Chỗ chứng ngộ của đứcPhật có thể ví dụ một cách thông thường như sau: Một học sinh học biếtbài toán cộng 2 + 2 = 4, khi biết được như vậy tức là học sinh ấy đãchứng được chân lý 2 + 2 = 4. Nhưng chứng được chân lý ấy là phải trảiqua một thời gian chớ không phải một hai ngày mà biết được 2 + 2 = 4.Nhưng, khi biết được rõ rồi thì đó là một sự thật, đối với học sinh đórất dễ dàng. Cái đó có thể gọi là thật trí. Nhưng khi đem chân lý thậtchứng 2 + 2 = 4 ấy dạy lại cho em bé ba tuổi thì phải nói cách nào choem hiểu ? Tức phải trãi qua một thời gian và dùng nhiều cách thức,hoặc phải tốn nhiều kẹo bánh dỗ dành, ví dụ ta đi từ 1 + 1 = 2 và vếhai cũng đi từ 1 + 1 = 2. Tức 1 kẹo + 1 kẹo + 1 kẹo + 1 kẹo + 4 kẹo.Rồi tiến lên 2 kẹo (vế 1) + 2 kẹo (vế 2) = 4 kẹo vậy. Nghĩa là phải đitừ dễ đến khó mới dạy cho em biết được 2 + 2 = 4.

Cứ vào việc thôngthường này để hiểu sự chứng ngộ thật tướng các pháp của Phật, Ngàimuốn đem chỗ chứng ngộ ấy nói cho chúng sanh nghe, nhưng vì căn cơchúng sanh chưa nhận thức được lý Nhất thừa nên đức Phật từ bản hoàira đời để nói Nhất thừa giáo, Ngài lại phải phương tiện nói ra Tamthừa giáo.

Đời ngũ trược ác thếlà thế nào ? Trược là khổ thống, tạp nhiễm xấu xa, độc ác. Chúng sanhbị mắc vào năm thứ này cho nên gọi là ngũ trược. Trong năm trược thìphiền não trược và kiến trược làm tự thể cho các trược khác.

Phiền não trược: Chỉcho ngũ độn sử. Tất cả phiền não của chúng sanh không ngoài 10 thứ làngũ độn sử và ngũ lợi sử. Ngũ độn sử là: tham, sân, si, mạn, nghi. Nămthứ này đần độn không thể dùng lý, dùng sự hiểu biết để dứt trừ đượcmà cần phải thực hành kiên cố mới dứt trừ được nên gọi là độn sử. Haynói cách khác là tu sở đoạn hoặc, là những lậu hoặc không thể hiểu lýsuông mà cần phải tu, phải thực hành mới đoạn trừ được.

Kiến trược: Chỉ chongũ lợi sử. Ngũ lợi sử là: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ vàgiới cấm thủ. Thân kiến tức là chấp sắc thân tứ đại, ngũ uẩn này làthật ngã, không biết rằng sắc thân tứ đại là do hòa hợp hư giả, khôngcó cá thể riêng biệt tồn tại ngoài các duyên. Do chấp thân kiến nênsanh ra biên kiến. Biên kiến là chấp rằng thân tứ đại này, ngã này tồntại mãi, con người chết rồi vẫn là con người, linh hồn không bao giờthay đổi, đó thuộc về thường kiến. Ngược lại hoặc cho rằng con ngườisống mấy mươi năm đến khi nhắm mắt tắt thở là hết, đó thuộc về đoạnkiến. Không hiểu rằng, chấp lệch về thường kiến, hay về đoạn kiến cũngđều không đúng với tánh cách của sự vật, cũng không đúng với tánh cáchcủa con người, nên gọi đó là biên kiến. Do biên kiến sanh ra tà kiến.Tà kiến là hoặc chấp đoạn, chấp thường, hoặc chấp hữu, chấp vô. Nóirộng ra là chấp tất cả các pháp và vũ trụ theo một tánh cách thiênlệch, gọi là tà kiến. Khi chấp tà kiến như vậy rồi cứ giữ chặt kiếnchấp ấy và cho là độc tôn, là đúng thật, là chân lý tuyệt diệu màkhông chịu thay đổi, gọi là kiến thủ kiến. Từ những tà kiến, kiến thủkiến mà có những hành động, phương pháp tu hành không phải nhân đưađến giải thoát mà cho đó là nhân đưa đến đạo giải thoát, như nhịn ănhay các lối khổ hạnh của ngoại đạo ở Ấn Độ. Gọi đó là giới cấm thủ,tức là giữ chặt những điều răn cấm hay những pháp môn tu sai lệchkhông đưa đến đạo giải thoát chân thật.

Năm thứ này gọi là lợisử hay kiến hoặc. Lợi là mảnh lợi, không có căn bản sâu xa chắc chắn,chẳng qua là vì tà sư ác hữu, vì suy tư sai lệch mà có ra. Đến khithấy được lý Tứ đế của Phật thì năm kiến chấp này tiêu trừ. Năm thứkiến này đứng trên quả vị thì lên đến kiến đạo Tu-đà-hoàn là đoạn trừ.Do đó cũng có tên là kiến sử đoạn hoặc, tức hoặc lậu, kiến được đế lýchân thật là đoạn trừ. Đây không cần dụng công tu hành mà chỉ cần cósự thấy biết đứng đắn, tin tưởng chính đáng là đoạn trừ năm hoặc này,nên gọi là kiến hoặc.

Tóm lại, đứng về mặtnhận thức (kiến) sai lệch thì nó trở thành kiến trược, mà đứng về mặttình cảm nhiễm ô, phiền não thì gọi là phiền não trược.

Hai thứ trược này lànguồn gốc, là căn bản, là nguyên nhân chính vì hai thứ đó kết hợp lại,chúng sanh dựa vào đó tạo nghiệp thọ sanh, làm thân chúng sanh lăn lộntrong luân hồi sanh tử.

Chúng sanh có hainghĩa: Kết hợp chúng duyên mà thành và chúng đa sanh tử, chịu nhiều sựsanh tử luân hồi nên gọi là chúng sanh. Khi chấm dứt sanh tử luân hồi,phá bỏ các duyên thì không gọi là chúng sanh nữa.

Chúng sanh trược: Dotừ phiền não trược và kiến trược mà ra, cho nên phiền não trược, kiếntrược là gốc, là nhân mà chúng sanh trược là quả.

Mạng trược: Có chúngsanh tức nhiên có đời sống, quả báo của chúng sanh, có sức mạnh để làmcho chúng sanh đó sống trong 10 năm, 20 năm... hay mới lọi lòng ra đãchết. Cái mạng mạch mỗi người không chừng đổi gì hết, chúng sanh muốnkéo dài đời sống đó cũng không thể kéo dài ra được, muốn sống lâu màkhông sống lâu, muốn đừng chết mà nó vẫn chết, không tự tại với chínhmình nên gọi là mạng trược.

Còn bị phiền não nhiễmô, còn chúng sanh luân hồi sanh tử. Như vậy, phiền não trược, kiếntrược là nhân, mạnh trược, chúng sanh trược là quả. Đồng kết phiền nãotrược, kiến trược, chúng sanh trược, mạng trược trong một khoảng thờigian nào đó thì gọi là Kiếp trược. Kiếp trược phụ thuộc vào bốn trượckia, nếu như không có 4 trược kia thì khoảng thời gian đó không có gìlà trược nên không thể gọi là thời kiếp trược được. Chúng sanh ở đờikiếp trược bị cấu trọng, xan tham tật đố, cấu là chỉ cho kiến trược.Xan là ôm giữ mãi những vật mình có mà không chịu chia xẻ, bố thí chongười khác. Tham là vật gì chưa có muốn cho có, muốn mãi không bao giờđủ. Tật đố là ai có điều chi hay hơn, tốt hơn... thì sanh lòng ganhghét, tỴ hiềm. Vì xan tham tật đố có những tánh cách như vậy, cho nênxan tham là nhơn của bần cùng, tật đố là nhơn của hạ tiện. Khi thấyngười hơn thì sanh lòng ganh tỴ, đó là tạo nhơn để thua người, làm kẻhạ tiện, từ đó thành tựu các bất thiện.

Đức Phật ra đời gặpthời như vậy, với chúng sanh như vậy thì làm sao Ngài đem đạo lý Nhấtthừa mà dạy được. Cho nên, Phật phương tiện từ Nhất thừa phân biệt nóithành ba. Vậy thì ba đó là ba giả thuyết chứ không phải chân thật, tuynó vẫn có công dụng rất lớn lao dẫn đến Nhất thừa.

Kinh văn: NàyXá-lợi-phất, nếu đệ tử của Ta, người nào tự gọi A-la-hán, Bích-chiPhật, mà không nghe không biết được việc các đức Như Lai là chỉ giáohóa hàng Bồ-tát thì những người đó không phải Phật đệ tử, không phảiA-la-hán, không phải Bích-chi Phật.

Giải thích: Đoạn kinhtrên đức Phật chỉ rõ như thế nào là tăng thượng mạn, như thế nào làkhông tăng thượng mạn, như thế nào là đệ tử Phật, là A-la-hán.

Đức Phật nói Tam thừalà nói chung cho tất cả, trong khi Ngài dùng phương tiện nói Tam thừathì dù có những người tin rằng, đó là pháp chân thật mà tu hành chứngquả hoặc A-la-hán, Bích-chi Phật..., nhưng ít nhất cũng phải hiểurằng, đại sự ra đời của đức Phật không phải nhằm chừng ấy, mà cốt giáohóa hàng Bồ-tát, có nghĩa là đức Phật ra đời cốt dạy đạo nhất thừa.Nói Bồ-tát tức nói hạng người đủ căn cơ trình độ lãnh thọ đạo lý nhấtthừa. Hoặc người nghe đạo lý nhất thừa, ít ra phải hiểu, phải biết, dùkhông chứng ngộ được, nhưng phải thấy được, tin được đại sự đức Phậtra đời, có như vậy mới gọi là A-la-hán, Bích-chi Phật, đệ tử Phậtđược.

Kinh văn: NàyXá-lợi-phất, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni tự cho mình đã đượcA-la-hán, ở vào thân tối hậu cứu cánh Niết-bàn, lại không còn có chínguyện cầu A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề thì nên biết, hạng này đềulà kẻ tăng thượng mạn. Sở dĩ làm sao ? Nếu có Tỳ-kheo thật chứng quảA-la-hán mà không tín được pháp này thì không có lẽ đó. Trừ sau khiđức Phật diệt độ, hiện tiền không có Phật. Vì sao ? Vì sau khi Phậtdiệt độ những kinh như thế mà hạng người thọ trì, đọc tụng, giải nghĩathì hạng người đó khó có được. Nếu gặp các đức Phật khác thì đối vớipháp này bèn được hiểu rõ.

Giải thích: Thân tốihậu, một vị đã tu chứng quả A-la-hán phải đủ bốn điều: Thử sanh dĩtận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu. Bốn điều nàyphối hợp với lý Tứ đế như sau:

Thử sanh dĩ tận, tươngxứng với Khổ đế, khổ được dứt trừ đoạn diệt, không còn tái sanh nữa.

Phạm hạnh dĩ lập,tương xứng với Đạo đế, tức pháp môn tu hành đã được kiến lập, đầy đủvà thành tựu phạm hạnh.

Sở tác dĩ biện, tươngxứng với Diệt đế. Niết-bàn đã chứng, điều cần làm đã làm xong.

Bất thọ hậu hữu, tươngxứng với Tập đế, Tập đế là nguyên nhân của hậu hữu (đời sau). Đã dứthết Tập đế tức không còn thọ hậu hữu nữa.

A-la-hán là gì ? Làngười đã thành tựu viên mãn đạo lý Tứ đế. Muốn thành tựu đạo lý Tứ đế,hành giả phải trãi qua ba giai đoạn, kiến đạo, tu đạo và vô học đạo.

Nhận thức rõ đạo lý Tứđế, như biết cuộc đời là khổ, tuy vẫn biết nếu đứng trên bình diệntương đối, cuộc đời vẫn vui, nhưng đó là cái vui của thế gian, nếuđứng trên bình diện tuyệt đối thì thế gian chưa vui, thế gian còn khổ,bởi chúng sanh còn đang chịu sanh tử luân hồi, chịu luật vô thường chiphối. Muốn sống mà cứ chết, muốn không bệnh mà cứ bệnh..., cho nênbiết thế gian là khổ. Nói cho cùng, thế gian vẫn còn khổ, hiểu rõ đượcnhư vậy gọi là biết được Khổ đế.

Biết được khổ đó vàcũng biết chắc rằng khổ đó do ái dục vô minh sanh ra, chứ không do mộtnguyên nhân nào khác. Như thế là biết được Tập đế. Và biết rõ rằng hễdứt trừ được khổ nhơn và khổ quả thì được tịch tịnh an lạc Niết-bàn,đó gọi là Diệt đế. Và cũng biết rằng giáo lý Bát chánh đạo, Tam thậpthất Bồ-đề là con đường chân chánh, là pháp môn đứng đắn đưa đến Nhấtthừa đạo. Như vậy là biết được Đạo đế.

Khi tìm hiểu lý Tứ đếchân chánh như vậy gọi là kiến đạo. Kiến đạo mới trừ được ngũ lợi sử,kiến hoặc mà thôi. Phải đợi bước qua địa vị tu đạo, tức từ nhị quảTư-đà-hàm đến A-la-hán hướng, thời gian đó gọi là tu đạo. Thời giannày là thật hành theo lý Tứ đế, đoạn trừ ngũ độn sử. Khi đã đoạn trừngũ độn sử tức dứt hết Tập đế, dứt Tập đế tức dứt Khổ đế, chứngNiết-bàn, bước lên quả vị A-la-hán gọi là Vô học đạo. Đến quả vịA-la-hán là thân cuối cùng không còn tái sanh nữa. Nhưng, nếu đến đórồi tự cho là đủ mà không có chí nguyện cầu vô thượng Bồ-đề thì nhữngngười như vậy gọi là tăng thượng mạn. Tăng thượng mạn là chấp chặt nơiquả vị Hữu dư y, Vô dư y Niết-bàn, cho là cứu cánh rồi, trên A-la-hánkhông còn gì nữa nên không chịu cầu vô thượng Bồ-đề.

Trên là nói không biếtbản nguyện của Phật ra đời... thì không phải là A-la-hán,... chứ chưathuộc loại tăng thượng mạn, những người chấp chặt quả vị mới gọi làtăng thượng mạn.

Nhưng, có trường hợpnào một vị A-la-hán chấp chặt quả vị mà không thuộc loại tăng thượngmạn không ? Có. Ngoại trừ "sau khi Phật diệt độ, hiện tiền không cóPhật". Bởi vì khi đức Phật diệt độ rồi không có người nói pháp Nhấtthừa khai quyền, hiển thật cho nghe thì làm sao biết được ngoài quả vịA-la-hán còn có quả vị vô thượng Bồ-đề nữa, trường hợp này không gọilà tăng thượng mạn.

Như vậy thì những vịA-la-hán luôn ở quả vị đó chứ không thể chứng quả vị vô thượng Bồ-đềhay sao? Trừ trường hợp gặp được các đức Phật khác ra đời thì sẽ đượcđức Phật đó giải rõ pháp khai quyền hiển thật và bấy giờ vị A-la-hánđó sẽ vượt lên cầu chứng quả vị vô thượng Bồ-đề.

Kinh văn: NàyXá-lợi-phất, các Ông hãy nên nhất tâm tín giải thọ trì lời Phật. Cácđức Phật Như Lai nói không hư dối. Không có các thừa khác mà chỉ cónhất Phật thừa.

Giải thích: Đức Phậtnhắc đi nhắc lại "các đức Như Lai nói không hư dối" đức Phật lúc nóiTam thừa, Ngài không nói đây là Ta giả nói, cho nên khi Ngài nói Tamthừa thì mọi người đều tin rằng Tam thừa là chân thật. Đến hội PhápHoa đức Phật lại nói Nhất thừa mới là chân thật còn Tam thừa chỉ làphương tiện. Điều này sẽ khiến mọi người lầm nghĩ rằng, đức Thế Tônnói trước sau bất nhất, vậy thì lời Ngài có hư dối không ? -Không. Mặcdù trên ngôn từ kinh giáo trình bày trước sau khác nhau nhưng ý nghĩavà mục đích trước sau vẫn là một. Đại sự ra đời giáo hóa của chư Phậttrước sau cũng duy nhất, lời chư Phật nói không hư dối là vậy.

Kinh văn: Lúc bấy giờ,đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói bài kệ rằng:

Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,có những người ôm tâm tăng thượng mạn, còn Ưu-bà-tắc ngã mạn, Ưu-bà-dithì bất tín. Bốn chúng như vậy, số đó có năm ngàn. Họ không tự thấyđược lỗi của mình, đối với giới có thiếu, có lậu lọt, rồi cứ bảo vệche dấu chỗ tỳ vết, hàng tiểu trí đó đã ra đi rồi, cặn bả trong chúnghội, do oai đức của Phật đã lui ra. Những hạng kém ít phước đức đókhông kham chịu được giáo pháp này. Những cành lá trong chúng hội nàykhông còn nữa mà chỉ còn hạt chắc thôi.

Giải thích: Đây làđoạn kệ lặp lại năm ngàn người tăng thượng mạn ở đoạn kinh trước. Nămngàn này không phải chỉ hàng xuất gia mà cả tại gia. Tỳ-kheo,Tỳ-kheo-ni thì tăng thượng mạn, vì có tu, có chứng quả nhưng lại chấpchặt quả vị nên bị lỗi tăng thượng mạn. Ưu-bà-tắc thì ngã mạn, đây làbệnh chấp ngã cố hữu của chúng sanh. Còn Ưu-bà-di thì bất tín, bất tínhay ty liệt mạn. Mỗi hạng người có mỗi bệnh, gồm năm ngàn người, khôngtự thấy lỗi mình, đối với giới có khuyết có lậu. Khuyết là tu hànhkhông đầy đủ, thiếu sót, do khuyết cho nên phiền não lọt vào. Bởi vìngười xuất gia, giới như phao nỗi qua sông, phao nỗi bị lũng nước sẽtràn vào và bị chìm nên gọi là khuyết lậu.

Cũng có nghĩa nữa làđối với giới luật oai nghi thiếu sót, giữ gìn không chu đáo gọi làkhuyết; định cộng giới, đạo cộng giới không có nên gọi là lậu. Nhữnghạng như thế đã ra hết, chỉ còn lại hạt chắc thật. Bây giờ, chính lúcđức Phật nói pháp Nhất thừa vậy.

Kinh văn: Xá-lợi-phấthãy khéo nghe, pháp của các đức Phật chứng được, và vô lượng sứcphương tiện của Ngài đem ra vì chúng sanh mà nói. Đối với điều tưởngniệm trong tâm của chúng sanh, với các thứ hành đạo hoặc bao nhiêutánh dục của chúng sanh, hoặc các nghiệp thiện, nghiệp ác đời trướccủa chúng sanh, Phật đều biết rõ. Ngài dùng các nhân duyên thí dụ ngôntừ, các sức phương tiện khiến cho tất cả những người đó đều được hoanhỶ.

Giải thích: Chư Phậtsở đắc pháp là chỉ cho thật trí, vô lượng phương tiện lực là chỉ choquyền trí. Đức Phật do thật trí và quyền trí mà nói pháp cho chúngsanh. Đức Phật biết rõ từng căn tánh và dục của chúng sanh. Tánh lànhững điều căn để gắn chặt từ xưa, dục là những điều ham muốn hôm nay.

Kinh văn: Hoặc nóiTu-đa-la, Già-đà, Bổn sự, Bổn sanh, Vị-tằng-hữu, cũng nói về Nhânduyên, Thí dụ, Kỳ-dạ, Ưu-ba-đề-xá.

Giải thích: Đây làPhật nói 9 bộ kinh, thường nói 12 bộ, nhưng Tiểu thừa Phật mới nói 9bộ, chưa có Thọ ký, bởi Tiểu thừa Phật chưa Thọ ký, và Đại phươngquảng, vì Phật chưa nói đến kinh Đại thừa.

Tu-đa-la là khế kinh,Già-đà là trùng tụng, Bổn sự là nói về sự nghiệp tu hành trong đời quákhứ của đức Phật. Bổn sanh là nói về sự thọ sanh đời trước của đứcPhật. Đức Phật sanh ra tên gì, họ gì, ở đâu..., Vị tằng hữu, nhữngđiều chưa từng có. Nhân duyên, Thí dụ, Kỳ-dạ là Trùng tụng,Ưu-ba-đề-xá là luận nghị. Luận nghị tức là một lối hành văn trongkinh, lời lẽ đối đáp, phân tích, giảng giải những điều Phật đã nói.

Mười hai bộ kinh nàycó nghĩa là 12 bộ loại, phân theo thể tài và phân theo nội dung. NhưTu-đa-la là phân theo thể tài, văn trường hàng, văn xuôi. Kỳ-dạ, Trùngtụng là phân theo văn kệ, có lối kệ độc khởi thì gọi là Kỳ-dạ, kệ lặplại văn trường hàng thì gọi là trùng tụng. Bổn sanh, Bổn sự, Nhânduyên là phân theo nội dung, Luân nghị là phân theo thể tài.

Kinh văn: Những hàngđộn căn ưa thích pháp nhỏ, tham trước sanh tử, đối với vô lượng Phậtkhông hành được đạo thâm diệu, bị các khổ làm não loạn, đối với nhữngngười đó Ta nói pháp Niết-bàn cho.

Giải thích: Đây làpháp Tiểu thừa. Lúc bấy giờ đức Phật chỉ nói về Niết-bàn, giúp trừsanh tử, đoạn các lậu hoặc mà thôi chứ chưa nói sẽ thành Phật đạo,chứng Bồ-đề.

Kinh văn: Ta thiết lậpra phương tiện ấy, khiến họ được vào Phật huệ. Nhưng, Ta chưa từng nói(các ông sẽ được thành Phật đạo). Bởi vì sao mà chưa từng nói? Bởi vìthời gian nói chưa đến, hôm nay mới đúng lúc, Ta quyết định nói phápĐại thừa.

Giải thích: Nên hiểurằng, trước kia Ngài đã nói pháp Đại thừa rồi, nhưng Đại thừa trướcPháp Hoa Phật chỉ thọ ký cho hàng Bồ-tát thành Phật. Đến Pháp Hoa mớichung kết, tóm thâu cả hàng Thanh Văn hồi tâm hướng Đại đều được thọký thành Phật, nên Đại thừa trong Pháp Hoa có nghĩa trọn vẹn hơn. Dođó, gọi là Đại thừa Viên giáo.

Kinh văn: Ta nói 9 bộpháp này, tùy thuận theo chúng sanh cốt để đưa vào Đại thừa, cho nênnói kinh này.

Có những Phật tử tâmthanh tịnh, nhu nhuyến và lợi căn, đối với vô lượng các đức Phật cóthể tu hành đạo thâm diệu. Ta sẽ vì các hàng Phật tử đó, nói kinh Đạithừa này. Ta thọ ký cho những người như thế, tương lai thành Phật đạo.Do họ thâm tâm niệm Phật, tu trì giới luật thanh tịnh nên những hạngngười đó nghe mới được thành Phật thì sanh hoan hỶ lớn lao đầy khắp cảthân mình. Phật biết tâm hạnh của những người đó, cho nên nói kinh Đạithừa.

Hàng Thanh Văn hoặcBồ-tát nghe pháp Ta nói cho đến một câu kệ cũng đều thành Phật đạokhông có nghi.

Giải thích: Tâm thanhtịnh nhu nhuyến tức là có tâm tín thuận, lợi căn tức là có trí tuệ. Cótín và có tuệ.

Biết tâm hạnh tứcnhiên biết sở hành trong tâm. Sở hành trong tâm là đủ có tín có tuệ,thọ lãnh và nạp được giáo lý Đại thừa nên Phật nói kinh Đại thừa.

Nghe một câu kệ cũngthành Phật, bởi vì câu kệ đó nói lên đạo lý làm Phật, lẽ tất nhiênnghe câu kệ đó sẽ thành Phật.

Kinh văn: Trong 10phương Phật độ, chỉ có pháp Nhất thừa chứ không hai cũng không ba, trừPhật phương tiện nói ra, mà phương tiện nói cũng chỉ dùng danh tự giảđể dẫn đạo các chúng sanh.

Giải thích: Nói Nhịthừa, Tam thừa là danh tự giả để dẫn dắt chúng sanh, chứ đó cũng khôngphải thật.

Kinh văn: Vì nói trítuệ Phật, nên các đức Phật ra đời. Chỉ một việc đó là thật, còn nóihai thừa ba thừa thời chẳng phải chơn. Ta hoàn toàn không đem phápTiểu thừa để tế độ chúng sanh. Phật tử trú trong pháp Đại thừa, đúngnhư pháp Ngài chứng được, do sức định, tuệ và sức phương tiện trangnghiêm, đem pháp đó để hoá độ chúng sanh.

Giải thích: "Dư nhị"ngoài hai thừa... tức là ngoài nhất thật sự ra, dù nói cái gì khác nữathì đều chẳng phải. Tức ngoài nhất đại sự nhân duyên, tất cả cái khácđều là phương tiện để dẫn đạo chúng sanh. Định, Tuệ, Lực ở trên phảihiểu: Định để thành Phật, Tuệ để chứng ngộ chân lý và phương tiện lựcđể dắt dẫn chúng sanh. Ba thứ này thiếu một thì không thể trang nghiêmđược pháp Đại thừa. Và nhờ trang nghiêm pháp Đại thừa mà Phật luôn trútrong pháp Đại thừa. Chữ "tự trú" có nghĩa tự giác thánh trí luôn luôntự trú, chứng nhập pháp Đại thừa bình đẳng thật tướng.

Kinh văn: Tự chứngpháp vô thượng đạo Đại thừa bình đẳng. Nếu Ta dùng Tiểu thừa để giáohóa, dù giáo hóa chỉ một người thôi Ta cũng mắc vào xan tham đó làviệc không thể có.

Giải thích: Không baogiờ đức Phật chứng pháp bình đẳng Đại thừa mà Ngài lại đem pháp Tiểuthừa dạy cho chúng sanh, dù dạy cho một người Ngài cũng không dạy, nếulàm như vậy là mắc lỗi xan tham. Đây là một lối nói của đức Phật. Ngàithấy việc này chúng sanh khó tin khó hiểu, cho nên, Ngài luôn lập lạinhư vậy.

Kinh văn: "Nếu ngườicó lòng tin quy y Phật, họ sẽ biết Như Lai không luống dối, cũng khôngcó ý xan tham tật đố. Như Lai đã đoạn hết các điều ác, nhờ đó cho nên,ở trong mười phương chỉ riêng Phật có hiệu là vô sở úy (gồm cả tứ vôsử úy)" Ta có thân tướng trang nghiêm, có hào quang chiếu soi thếgian, được vô lượng chúng tôn kính, Ta nói pháp ứng hợp với thậttướng.

Giải thích: Đây cũnglà một lời minh chứng, đức Phật nhờ đoạn ác, nhờ không tật đố xantham, nhờ lòng cứu độ chúng sanh mới có được thân tướng trang nghiêm.Có hào quang chiếu khắp thế gian, được vô lượng chúng tôn kính. Vậy"cho nên Ta nói thật tướng ấn", thật tướng ấn là pháp Đại thừa, phápthật tướng ấn. Ấn có tam pháp ấn, có thật tướng ấn. Tam pháp ấn thuộcpháp Tiểu thừa. Đó là vô thường, khổ, vô ngã. Vì tất cả mọi hiện tượngở thế gian, thiên hình vạn trạng sai khác, nhưng tự mỗi pháp đều mangđủ ba tánh chất vô thường, khổ, vô ngã. Đức Phật đã tự chứng ngộ được,Phật nói lại cho chúng sanh nghe, điều đó như một dấu ấn. Nếu ở đâu,lời kinh, quyển luận nào diễn tả trong đó bao hàm cả ý nói về hiệntượng thế gian vô thường, khổ, vô ngã thì đó là dấu ấn của Phật, tinđó là lời Phật nói, gọi đó là ấn. Như một cái dấu đóng trên tờ giấy,ai thấy cái dấu đóng đều biết là văn thơ thuộc của ai nên gọi đó làấn.

Còn Đại thừa thì cóthêm thật tướng ấn hay nhất Phật thừa ấn. Đó là dấu ấn của Kinh luậnĐại thừa, chỉ về thật tướng bình đẳng của vạn pháp.

Kinh văn: "Xá-lợi-phấtnên biết, Ta vốn lập thệ nguyện, muốn khiến các chúng sanh đồng đượcnhư Ta không khác".

"Như sở nguyện của Taxưa thì nay đã được viên mãn đó là hóa độ tất cả chúng sanh đều khiếnvào Phật đạo."

Giải thích: Câu này đểnói rằng đức Phật không phải ngày hôm nay mà chính từ trong bảnnguyện, Ngài cũng đã lập thệ nguyện muốn cho chúng sanh đồng đượcthành Phật như mình, nghĩa là muốn đem pháp nhất thừa nói cho chúngsanh chớ không hai ba thừa gì hết.

Kinh văn: Nếu ta gặpchúng sanh, đều dạy cho họ Phật đạo, nhưng những người vô trí, bị lầmlỗi, rối loạn, mê hoặc, không lãnh thọ được lời dạy đó. Ta biết chúngsanh ấy chưa từng tu gốc thiện. Họ bị chấp chặt nơi 5 dục, bị si áinên sanh ra khổ não.

Giải thích: Đoạn kệnày là lập lại phần văn trường hàng ở trước nói về ngũ trược. Mấy câunày là nói về phiền não trược.

 

Kinh văn: "Do nhơnduyên của ái dục phải đọa vào tam đồ ác đạo. Sanh vào trong 6 thù luânhồi để chịu các khổ".

Giải thích: Đoạn nàylà nói về chúng sanh trược. Khi sanh chỗ này, khi sanh chỗ kia, chonên gọi là chúng sanh.

Kinh văn: "Rồi thọ lấythân hình mỏng manh trong thai bào, cứ đời đời tăng dồn lên mãi".

Giải thích: Đây là nóivề mạng trược.

Kinh văn: "Những ngườithiếu phước đức, bị các khổ bức bách, sa vào trong rừng tà kiến, hoặcchấp có chấp không, v.v... Dựa theo các tà kiến đó tăng lên đủ 62 tàkiến, rồi đắm chấp theo pháp hư vọng, giữ chặt không rời bỏ."

Giải thích: Đây là nóivề kiến trược. (62 tà kiến xem kinh Phạm võng hay Phạm động trongTrường A Hàm sẽ rõ)

Kinh văn: "Ngã mạn tựcống cao, tâm siểm, khúc không chân thật, trong ngàn vạn ức kiếp,không nghe được danh tự Phật, cũng không nghe được chánh pháp, nhữngngười như thế thật khó độ".

Giải thích: Đây là nóivề kiếp trược.

Kinh văn: "Cho nênXá-lợi-phất, Ta vì họ thiết lập phương tiện, nói đạo dứt khổ, chỉ thịNiết-bàn, Ta tuy nói Niết-bàn, nhưng có cũng chẳng phải chân thậtNiết-bàn. Các pháp từ xưa nay, tướng thường tự tịch diệt. Các Phật tửdựa theo đó hành đạo xong, tương lai sẽ được làm Phật. Ta có sứcphương tiện, khai thị ba thừa pháp".

Giải thích: Đức Phậtnói Niết-bàn là đối với hàng Thanh Văn. Trong khi nói Niết-bàn, Ngàichỉ cái khổ sanh tử, muốn dứt trừ khổ sanh tử phải đoạn trừ mê hoặc,mê hoặc được đoạn trừ thì sanh tử không còn, sanh tử không còn thìchứng được Niết-bàn. Như vậy, ở hàng Thanh văn, đức Phật nói tướngsanh tử rõ ràng, tướng Niết-bàn rõ ràng, đoạn cái này thì chứng quảkia, cho nên, đức Phật nói pháp Tứ đế cho Thanh Văn đó là sanh diệt Tứđế, tức là đứng trên tánh cách, tướng trạng có sanh có diệt, có tướngsanh tử, có tướng Niết-bàn rõ ràng... Niết-bàn đó là Niết-bàn tươngđối chưa phải là cứu cánh.

Niết-bàn cứu cánh làgì ? là chư pháp thật tướng. "Chư pháp tùng bản lai thường tự tịchdiệt tướng", các pháp từ xưa nay tướng của nó vẫn thường tự tịch diệt,hay là tướng của các pháp từ xưa nay tự tịch diệt, tự tịch diệt là tựvắng lặng. Sở dĩ nói pháp đó sanh, pháp đó diệt, pháp đó có, pháp đókhông... Đó chỉ là vọng kiến hư tưởng của chúng sanh mà thôi. Kỳ thật,pháp đó vốn tịch tịnh, vốn bất sanh bất diệt. Sanh tức bất sanh. Nóicái nhà sanh nhưng có phải thật sự có cái nhà sanh không - thật sựkhông có cái nhà sanh. Đã không có sanh thì lấy cái gì diệt ? Thànhra, thấy có cái tướng nhà giả dối sanh diệt, nhưng chính tự nó, chínhtừ bản thể của cái nhà đó vốn không sanh diệt, đó gọi là "tướng tịchdiệt". Tịch diệt tức Niết-bàn. Niết-bàn là bất sanh bất diệt thì tịchdiệt có nghĩa là bất sanh bất diệt. Đây mới là chân thật Niết-bàn vàđây là lý của Đại thừa, mà lý Đại thừa thì chính ngay trong đương thểcác pháp là bất sanh bất diệt, đó là Niết-bàn. Cho nên, trong Tiểuthừa không nói sanh tử tức Niết-bàn, phiền não tức Bồ-đề. Lên Đại thừathì chính ngay nơi dụng và tướng là thể, chính nơi thể là tướng làdụng bất tương ly.

Trung luận có cắtnghĩa: "Các pháp duyên sanh vô tánh, đó là tịch diệt, mà tịch diệt làvô tướng, vô thử, vô bỉ". Nói có cái nhà sanh mà kỳ thật không có cáinhà sanh, nhà bổn vô sanh, không có một cái gọi là có cái nhà cụ thểthật có sanh. Như vậy, nhà vốn vô sanh vô diệt là vô tướng thì làm saocó kia có đây, cho nên, gọi là tịch diệt. Và ở đó ngôn ngữ cùng hýluận đều bặt dứt, nói không nói có cũng hý luận, nói thường nóiđoạn... cũng hý luận.

Tóm lại, Trung luận cónêu lên 8 phạm trù chấp trước của chúng sanh: Đối với các pháp, một làchấp sanh, hai là chấp diệt, ba là chấp thường, bốn là chấp đoạn, nămlà chấp nhất, sáu là chấp khác, bảy là chấp từ ngoài đến, tám là từtrong sanh ra. Vì thế, nhà Trung luận, để phá những hý luận sai lầmđó, nên thêm vào chữ bất: Bất sanh, bất diệt, bất thường, bất đoạn,bất nhứt, bất dị, bất lai, bất xuất, để phủ nhận những điều chúng sanhchấp đó là giả dối, không thật, mà khi đã phủ nhận tám điều đó tứckhông có sanh diệt, đoạn, thường... thì như vậy, tự các pháp bản laitịch diệt tướng.

Cùng một chỗ kháctrong kinh luận nói, các pháp thực tướng thì ở đó tâm duyên cũng bặtdứt, ngôn ngữ cũng bặt dứt.

Khi nói chữ "bất" nàyrồi, thì giờ đây không thể dùng tâm mà tưởng đo lường được tánh cáchcủa thật tướng pháp, đó là tâm duyên bặt dứt. Chỉ có trực nhận chớ cònphân biệt tức là dùng ngôn ngữ mà phân biệt, tức đem tâm hành duyên lựthì cả hai đều không được. Dùng tâm hành duyên lự không khác nào đemlửa đom đóm đốt nhà thì không sao đốt được. Trung luận nói "vô sanhcũng vô diệt, tịch diệt như Niết-bàn". Cho nên, tịch diệt nhưNiết-bàn, tịch diệt là bất sanh, bất diệt. Niết-bàn là bất sanh bấtdiệt. Ngộ được lẽ đương sanh "bất sanh" của các pháp tức ngộ đượctướng tịch diệt của các pháp thì ngay trong đó đã là Niết-bàn, chớkhông phải chờ dứt hết sanh tử mới được Niết-bàn, mà chính ngay sanhtử tự tánh là Niết-bàn. Ngộ được tự tánh sanh tử là Niết-bàn thì đómới là chân thật Niết-bàn, chưa ngộ được thì là phi chơn diệt.

Kinh văn: "Tất cả cácđấng Thế Tôn đều nói nhất thừa đạo, nay đây các hàng đại chúng đều hãynên trừ nghi hoặc. Lời các đức Phật nói không khác, chỉ có một khônghai thừa."

Giải thích: Đoạn này ýrằng, lời đức Phật nói không hư dối hãy nên tin. Đây cũng là một nghĩatrong 6 nghĩa đã nói ở trước, bàn bạc trong các đoạn kinh. (Hoặc tánthán pháp nhất thừa, lời Phật không hư dối...)

Kinh văn: Quá khứ vôsố kiếp, vô lượng các đức Phật diệt độ, trăm ngàn vạn ức số không thểlường hết được, các đức Phật như vậy từng dùng các thứ nhơn duyên, cácthứ thí dụ, vô số phương tiện lực để diễn nói các pháp tướng (các phápthật tướng). Các đấng Thế Tôn ấy đều chỉ nói nhất thừa pháp để giáohóa vô lượng chúng sanh khiến họ vào Phật đạo.

Lại, các đấng đạithánh chúa, biết tất cả thế gian, các loài nhân thiên quần sanh, vềchỗ ưa muốn trong thâm tâm họ, rồi lại dùng dị phương tiện làm trợtiếp phát hiển nghĩa đệ nhất.

Giải thích: Thế nào là"dị phương tiện"? Thay vì đức Phật nói thẳng pháp nhất thừa thì chúngsanh không hiểu, cho nên, Ngài phải dùng phương tiện này, phương tiệnkhác để nói ra, nên gọi dị phương tiện. Như Phật phóng hào quang, Phậtnói phiền não ô nhiễm của chúng sanh để chúng sanh biết đó là nguồngốc sanh tử để trừ, Phật nói Niết-bàn Vô dư y v.v... tất cả đó là dịphương tiện. Vì sao gọi là dị phương tiện? Là những điều đó đối vớichúng sanh thì thấy là thật, nhưng đối với đức Phật, Ngài tự thấy rằngđó chỉ là phương tiện để dẫn dắt chúng sanh đi tới nhất thừa đạo màthôi. Cho nên gọi là dị phương tiện, mà có dị phương tiện đó mới giúpphát huy được nhất thừa đạo. Nếu như đức Phật không khai quyền thìchắc chắn không bao giờ chúng sanh nghe được nhất thừa đạo, cho nên,Ngài dùng dị phương tiện để khai quyền. Mặc dù là dị phương tiện nhưnglà pháp môn đưa đến nhất thừa đạo.

Kinh văn: Nếu có loạichúng sanh gặp được các đức Phật quá khứ, hoặc nghe pháp bố thí, hoặctrì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thuyền định, trí tuệ mà tu tập trí tuệphước đức đó. Những hạng người như vậy đều đã thành Phật đạo.

Giải thích: Đức Phậtnói về lục độ vạn hạnh, đó cũng là dị phương tiện. Vì sao nhất thừapháp mà lại chia ra lục độ? Đoạn này là nói về chúng sanh gặp Phật rađời, nghe pháp lục độ mà tu hành đều được thành Phật đạo. Còn sau khiPhật diệt độ thì sao?

Kinh văn: "Sau khi chưPhật diệt độ, hoặc có người tâm hiền lành nhu nhuyến, những hạng chúngsanh như vậy đều đã thành Phật đạo. Các đức Phật diệt độ rồi cúngdường Xá-lợi-phất, dựng lên vạn ức các thứ tháp, hoặc bằng vàng, bạc,pha lê, xa cừ, mã não, mai quỉ hoặc lưu ly rồi trang nghiêm thanhtịnh, trang nghiêm nơi các tháp".

Hoặc dựng miếu thờ,hoặc bằng đá, hoặc bằng gỗ chiên đàn, bằng trầm thủy, bằng cây tra, gỗmộc cùng các thứ gỗ khác. Hoặc bằng ngói gạch đất, hoặc ở giữa chỗđồng trống, đắp đất làm miếu thờ Phật. Cho đến đồng tử giỡn chơi, nhómcát lại làm tháp Phật. Những người như vậy đó, đều đã thành Phật đạo".

Giải thích: Cúng dườngXá-lợi, làm tháp, miếu, cho đến đồng tử giỡn chơi, nhóm cát làm thápPhật cũng đều thành Phật đạo. Đây là nói việc xây tháp miếu cúngdường.

Kinh văn: "Hoặc cóngười vì Phật mà kiến lập nên hình tượng Phật, hoặc chạm, hoặc khắc,thành các tướng, người đó đều đã thành Phật đạo.

Hoặc dùng bảy báu đểkết thành, hoặc bằng thiếc, bạc, đồng trắng, đồng đỏ, bạch lạp, bằngchì, bằng sắt, bằng cây, bằng đất, bằng sơn, bằng vải, để trang sứctượng Phật. Những người như vậy đều đã thành Phật đạo.

Hoặc là vẽ tượng Phật,đủ trăm phước trang nghiêm, hoặc tự mình làm, hoặc khiến người kháclàm, đều đã thành Phật đạo. Cho đến đồng tử giỡn chơi, hoặc dùng cỏcây và bút, dùng móng tay gạch vẽ tượng Phật, những người như vậy lầnlượt chứa công đức, đầu đủ tâm đại bi, đều đã thành Phật đạo, chỉ giáohóa hàng Bồ-tát, độ thoát vô lượng chúng sanh".

Giải thích: Đoạn nàynói về sự tạo tượng Phật mà được thành Phật đạo.

Kinh văn: "Hoặc cóngười đối với tháp miếu, đối với tượng báu, tượng vẽ, dùng hoa hương,phan lọng đem tâm cung kính để cúng dường.

Hoặc khiến người kháctrổi nhạc, đánh trống, thổi còi, thổi ốc, thổi ống tiêu, ống địch, đờncầm, đờn không hầu, đờn tỳ bà, não bạc. Các âm nhạc như vậy dùng đểcúng dường, hoặc với tâm hoan hỶ, ca ngâm khen ngợi công đức của Phật,cho đến một tiếng nhỏ, cũng đều đã thành Phật đạo.

Hoặc người tâm tánloạn, cho đến dùng một cành hoa cúng dường nơi tượng vẽ, cũng lần lượtthấy vô số Phật".

Giải thích: Đoạn nàynói về sự cúng dường tượng Phật mà được thành Phật đạo.

Kinh văn: "Hoặc cóngười lễ bái, hoặc chỉ chấp hai tay, cho đến đưa một tay, hoặc chỉ hơicúi đầu để cúng dường tượng Phật thì cũng lần lược thấy vô số Phật, tựthành vô thượng đạo, rộng độ vô số người mà vào Vô dư Niết-bàn, nhưcủi hết lửa tắt.

Giải thích: Đoạn nàynói về sự lễ bái, cung kinh tượng Phật mà được thành Phật đạo.

Kinh văn: "Hoặc ngườitâm tán loạn, đi vào trong tháp miếu, niệm lên một câu Nam Mô Phật,đều đã thành Phật đạo".

Giải thích: Đoạn nàynói về sự niệm Phật mà được thành Phật đạo.

Kinh văn: "Đối với cácđức Phật quá khứ, hoặc còn ở đời, hoặc sau khi diệt độ, nếu có ngườinghe được pháp này của các Ngài, đều đã thành Phật đạo."

Giải thích: Đoạn nàynói về việc chư Phật quá khứ ra đời thuyết pháp, các chúng sanh quákhứ nghe pháp tu hành đều được thành Phật đạo; tức chứng quả vô thượngbồ-đề. Tiếp đoạn sau nói về chư Phật vị lai và hiện tại ra đời thuyếtpháp, chúng sanh đời vị lai và hiện tại nghe pháp tu hành cũng đượclợi ích như vậy. Những sự việc tu hành, hành đạo đã nói trong kinh đểdiễn tả lên cái "dị phương tiện" như đã nói. Đó là những phương tiệnPhật khai ra để cho đủ hạng chúng sanh nương theo đó tu hành.

Trong kinh Phật dạy:"Hoặc có người chỉ lễ bái... chỉ hơi cúi đầu... hoặc có người tâm tánloạn đi vào trong tháp miếu niệm một câu "Nam Mô Phật" đều đã thànhPhật đạo..." sao mà dễ vậy? chúng ta tu đã lâu, niệm Phật cũng nhiều,nghe pháp đọc kinh cũng nhiều mà sao chẳng thành gì cả?

Phải hiểu rằng cáinhơn như vậy thì thành cái quả như vậy. Vẽ tượng Phật là đã có mầmmống Phật, dâng một cành hoa cúng Phật, làm một tháp Phật, niệm mộtdanh hiệu Phật là đã gieo chủng tử Phật vào tâm, mà khi đã gieo chủngtử Phật thì tự nó sẽ tiếp tục tăng lên để thành tựu vô lượng công đứcvà được thành Phật đạo.

Nên biết đây là nóinhơn thành Phật sẽ đưa đến quả thành Phật chứ không nói khoảng thờigian, mới gạch vẽ tượng Phật chơi dưới đất, đưa một cánh tay.... mà đãthành Phật liền. Dù một việc làm rất nhỏ, nhưng với tâm hướng về Phậttức là gieo chủng tử Phật vào trong tâm, khi chủng Phật đã có, hộtgiống Phật đã gieo tức nhiên sẽ mọc lên cây Phật. Cũng như, học đánhđàn thì sẽ biết đàn chứ không làm toán được. Đó là điều cần phải hiểurõ, đừng thấy trong kinh mới nói câu trên đưa cánh tay... câu dưới đãthành Phật đạo, rồi hiểu lầm rằng thời gian trong khoảng chốc lát làmsao thành được.

Như trước đã hiểu vềnghĩa quả và báo, đoạn này sẽ hiểu quả và báo ấy xuyên qua lời Phậtdạy trên. Đẳng lưu nhân quả và dị thục nhân quả hay gọi cách khác tậpnhơn, tập quả và báo nhơn, báo quả.

Về đẳng lưu nhân quảthì nhơn thiện đi đến quả thiện, nhơn ác đi đến quả ác. Ở đây nhơnPhật sẽ đi đến quả Phật chắc chắn. Mặc dù, với thời gian từ nhơn Phậtđi tới quả Phật có chìm nổi bao nhiêu trong vòng luân hồi sanh tử đinữa, nhưng đẳng lưu nhơn quả là hột giống thiện vẫn đi tới quả thiện.Nó chỉ chìm nổi về mặt dị thục nhơn quả mà thôi. Thay đổi trên mặt dịthục nhơn quả, khi làm trời, khi làm người, khi làm súc sanh.... Cònvề mặt đẳng lưu nhơn quả thì y như một dòng nước, ta cho vào một chấmmàu xanh trên đầu dòng nước, màu xanh đó sẽ trôi xuống cuối dòng nước,màu xanh đó vẫn là màu xanh. Đó là đẳng lưu nhơn quả. Màu xanh ấy từđầu dòng nước đến cuối dòng nước nó chìm nổi biết bao nhiêu khúc, khidội lên, khi chìm xuống, khi thành băng tuyết, sóng to sóng nhỏ, thayhình đổi dạng... Đó là dị thục nhơn quả. Những hình thái này, ta ví dụcho thân sanh tử luân hồi trong cõi trời, cõi người, địa ngục.... Tuyđổi khác trên hình thức thấy có thấp cao lên xuống, nhưng cái giốngPhật trên đầu dòng nước vẫn đi tới cuối dòng nước. Cũng như vậy gieonhơn làm Phật thì nhất định thành Phật, dù ở giữa khoảng từ nhơn tớiquả có lâu xa chìm nổi .

Dù trong đó có hữu lậuthiện, nhưng thiện này đã bị thế lực vô minh dẫn dắt, nên cũng đều làvô minh. Vậy quả báo 3 cõi đó là của vô minh chớ không phải của thiện.Hóa Địa Bộ cũng cho rằng: "Thiện chẳng phải là nhơn của quả báo 3 cõi(thiện phi hữu nhơn). Luận Nhiếp Đại thừa cuốn 11 nói: Tất cả việcthiện của chúng sanh đều là phương tiện đại thanh tịnh của Bồ-tát. Vìsao? Vì thanh tịnh đã là một, dù chưa đến địa vị đại thanh tịnh, bởinghĩa vô trụ mà tất cả đều quy hướng về đại đạo Bồ-tát. Để rõ thêm ýnghĩa này, Ngài Thiên Thai có chia ra 6 bậc kể từ hàng chúng sanh ôtrược, thấp thỏi hà tiện nhất cho đến Phật quả, gọi là "lục tức Phật".

1. Lý tức Phật: Tất cảchúng sanh đều có Phật tánh, như vậy chúng sanh đều là Phật. Cho đếnchúng sanh ở địa ngục cũng có Phật tánh, vậy thì đứng trên lý thể,chúng sanh địa ngục cũng tức là Phật, nhưng mà Phật đây là Phật trênlý nên gọi là lý tức Phật. Dù rằng, chúng sanh đó không hiểu gì vềPhật cũng là Phật. Bởi vì, dù không biết gì tới Phật nhưng tự bản tánhcủa chúng sanh vốn có trí giác ngộ thành Phật, đều có Phật tánh.

Có người thắc mắc nói,có ông đó hung dữ như thế mà Phật tánh chỗ nào? ai nói gì ông cũngchửi, gặp ai ông cũng đánh, giết, gặp đâu ăn cắp đó, Phật tánh chỗ nào? Vẫn có. Bởi vì hung dữ gì thì hung dữ nhưng tựu trung, ông ta vẫn cóđiều lành, ông ta vẫn ưa điều thiện, ghét điều ác. Chẳng hạn, tuy ăncắp nhưng ai nói ông ta ăn cắp thì ông không thích, thế tức nhiênchính trong thâm tâm ông ta vốn là ưa điều thiện, ghét điều ác chứ gì.Nếu như thích điều ác, thích việc ăn cắp thì khi nghe nói ông ăn cắpthì ông thích mới phải, chứ sao ông lại ghét, ngược lại, nghe người takhen ông đó tốt lắm, biết thương người cứu vật... thì ông lại thích.Thế cho biết, từ trong bản tâm ông ta vẫn ưa điều thiện, ghét điều ác.Các tính ưa lành ghét dữ đó là Phật tánh chứ gì. Có ai bảo rằng tôichỉ ưa điều ác mà rất ghét điều thiện không ? Ai mắng tôi đánh tôi tôithích, chớ khen tôi tôi giận không? chắc chắn là không, không ai chỉưa ác ghét thiện, trái lại ai cũng chỉ ưa thiện mà ghét ác, vậy biếtai cũng có Phật tánh. Và chính nhờ cái đó để có thể làm người, làmtrời, làm Phật. Nếu như không có tính ưa điều thiện ghét điều ác đóthì Phật cũng bó tay không làm sao cứu nổi. Vì nếu người chỉ ưa điềuác thôi, thì làm sao đem điều thiện nói cho nghe được. Cho nên, chínhđiểm ưa thiện ghét ác là Phật tánh, là Phật tri kiến mà Phật tánh đóai cũng có, cho nên, ai cũng là Phật. Ở trong mọi người, mọi chúngsanh đều có, cho đến con vật cũng có một chút niềm thương, nó thươngcon nó, thương tự thân nó, mà từ niềm thương đó nếu biết khai thác rathì nó thương con người khác, thương vật khác, nếu không biết khaithác thì nói chỉ thu gọn trong chỗ thương con nó thôi, nhưng nó cũngcó một niềm thương. Nhìn thấy chỗ đó là Phật vậy. Ngài Quy Sơn đến họcthiền với Tổ Bá Trượng, một hôm Tổ bảo Ngài đến bươi lò ấy lửa, Ngàiđến lò bươi tìm rồi đến thưa rằng không có lửa. Tổ đứng dậy đến bươisâu thêm một chút nữa rồi cầm lên một đóm lửa hỏi Ngài Quy Sơn rằng,ngươi nói không có lửa vậy cái này là gì? Ngài Quy Sơn liền ngộ. NgàiQuy Sơn ngộ cái gì? Ngộ Phật tánh, ngộ bản lai diện mục. Bản lai diệnmục đó, Phật tánh đó có sẳn trong chúng sanh nhưng vì chôn vùi dướiđám tro phiền não, ai biết bươi thì tìm thấy không biết bươi thì đànhchịu. Ngài Quy Sơn không biết cách bươi cho nên tìm không ra. Tổ BáTrượng biết cách bươi cho nên Ngài đưa lên được.

2. Danh tự tức Phật:Cao hơn một bậc, như người có biết đến Phật có nghe pháp, có quy y,giữ giới, có biết làm lành, tránh dữ theo lời Phật dạy đôi chút gọi làdanh tự tức Phật. Có mang danh Phật tử chớ không phải chỉ lý suông,như lý tức Phật. Nhưng nếu không có lý tức Phật thì không thể có danhtự Phật. Lý còn Phật hà huống danh tự Phật. Người không biết chi tớiPhật cũng là Phật, huống chi người đã biết Phật rồi.

3. Quán hạnh tức Phật:Người có tu, có biết suy tư đạo lý của Phật, biết thực hành lời dạycủa Phật gọi là quán hạnh tức Phật. Quán hạnh tức Phật này từ thậptín, thập trụ, thập hạnh đến thập hồi hướng.

4. Tương tợ tức Phật:Chỉ sơ địa kiến đạo. Đây là thấy rõ được Phật tánh của mình chớ khôngcó lầm, tức khai thị ngộ. Ngộ thấy rõ được Phật tánh của mình chớkhông mơ hồ, tương tợ nhưng cũng chỉ mới là thấy. Như người tìm chamình mà mới thấy tấm ảnh chứ chưa thấy cha bằng da thịt thật. Nhưngtấm ảnh đó cũng đầy đủ hình dạng bóng dáng của người cha, đem bóng đóso với cha mình thì giống y, còn đưa qua người khác thì không giốngnên gọi là tương tợ.

5. Phần chứng tứcPhật: Từ sơ địa trở lên, đã ngộ được Phật tánh rồi dựa theo lý Phậttánh mình ngộ đó mà thực hành theo từng Phần, từng phần phá trừ vôminh, từng phần thấy rõ Phật tánh, in như từng phần thấy được ông chamình bằng xương bằng thịt chớ không thấy bóng dáng nữa.

6. Cứu cánh tức Phật:Lên đến Diệu giác. Đây là đức Phật trọn vẹn không phải Phật ở trong lýmà đức Phật đây đủ trí đức, đoạn đức, ân đức, đầy đủ pháp thân, bátnhã, giải thoát.

Tóm lại, như vậy thìlý cũng Phật, danh tự cũng Phật, quán hạnh cũng Phật... thì làm saokhông thành Phật được. Không thành Phật lý thì thành Phật danh tự...cho nên trong kinh gọi "giai dĩ thành Phật đạo". Đây là một đạo lý vôcùng thâm thúy cao siêu, đức Phật đưa tất cả chúng sanh lên ngang địavị Phật. Ngài không nhìn chúng sanh là những kẻ nhỏ mọn thấp hèn. Khiđức phật nói chúng sanh bị đau khổ vì sanh già bệnh chết, không phảiNgài khinh khi mà là nói với một tình thương, thấy chúng sanh khổ,muốn cho chúng sanh lìa khổ mà nói. Khi nói như vậy nhưng Ngài vẫnthấy tất cả chúng sanh đều là Phật. Cho nên giáo thuyết, pháp môn củaPhật ôm tất cả chúng sanh vào lòng như người mẹ hiền không bỏ một đứacon nào với tinh thần bao la quảng đại.

Kinh văn: Các đức ThếTôn vị lai, số ấy nhiều vô lượng. Các đấng Như Lai đó cũng dùng phươngtiện thuyết pháp.

Tất cả các đức Như Laidùng vô số phương tiện, độ thoát các chúng sanh vào nơi trí tuệ vô lậu(tức nhập Phật tri kiến).

Hoặc người có nghePháp, không một ai không thành Phật. Bổn thệ nguyện của các đức Phậtlà, Ta tu hành Phật đạo và khắp muốn tất cả chúng sanh cùng đồng đượcđạo đó.

Các đức Thế Tôn ở đờivị lai tuy nói trăm ngàn ức vô số các pháp môn kỳ thật vì nhất thừa màthôi.

Giải thích: Đã dẫnmười phương các đức Phật quá khứ đến đây là nói đến các đức Phật vịlai và ngay đức Phật Thích Ca để luôn nhắc cho biết rằng Phật, Phậtđạo đồng, Phật, Phật pháp đồng và Phật Phật nguyện đồng. Cho nên, hễai có nghe được pháp của Phật thì thành Phật đạo.

Kinh văn: Các đức Phậtlưỡng túc tôn, biết pháp thường vô tánh, giống Phật theo duyên mà hiệnkhởi, cho nên mới nói pháp nhất thừa là pháp trụ pháp vị, tướng thếgian thường trú, đức Phật ở nơi đạo tràng chứng biết rồi, đấng Đạo sưphương tiện nói ra.

Giải thích: Tám câukệ: "Chư Phật lưỡng túc tôn, tri pháp thường vô tánh... Đạo sư phươngtiện thuyết". Tôi đã giảng rõ trong bài "Nhất thừa đạo". Ở đây, xingiảng thêm "Chư Phật lưỡng túc tôn". Chữ lưỡng túc tôn có hai nghĩa.

1. Đức Phật là bậc caoquý nhất trong loài hai chân. Bởi vì, chúng sanh có loại không chân,có loại nhiều chân, có loại 12 chân, 10 chân, 4 chân, 2 chân. Hai chânlà cao nhất, loài người, trời. Đức Phật là bậc cao nhất trong loài haichân cho nên gọi là lưỡng túc tôn.

2. Đức Phật là bậc đầyđủ phước và huệ, "phước huệ lưỡng toàn phương tác Phật". Phước đức vàtrí tuệ đầy đủ mới làm Phật. Đức Phật có đầy đủ hơn cả nên gọi làlưỡng túc tôn.

"Tri pháp thường vôtánh", Đức Phật biết rõ được các pháp thường vô tánh, tức các phápthường vô tự tánh, có nghĩa rằng chúng sanh chỉ biết các pháp trên mặtgiả tướng. Chúng sanh không biết được nghĩa thật tướng của các pháp làkhông, là giả, là trung đạo (không đế, giả đế, trung đạo đế). Bởi vì,bất cứ một pháp nào, tự nó cũng đủ ba cạnh khía gọi là ba sự thật haychân lý ba mặt là không, giả và trung. Biết các pháp thường vô tánhtức là biết các pháp trọn vẹn ở trong ba thật tướng là không, giả,trung của các pháp.

"Phật chủng tùng duyênkhởi", đồng thời cũng biết giống Phật phải theo cơ duyên mà hiện khởi.Nếu không có duyên thì giống Phật không khởi được. Giống Phật, chủngtử Phật, Phật tánh, tất cả chúng sanh đều có ; nhưng nếu không gặpduyên thì chủng tử Phật đó vẫn nằm yên dưới lớp bùn dơ phiền trược.Viên ngọc vẫn là viên ngọc, nhưng viên ngọc đó không có duyên để phátkhởi thì vẫn nằm yên trong khối đá. Cho nên, phải có duyên mới phátkhởi được. Phát khởi đây là Phát khởi tướng chớ không phát khởi tánh.Ngài Thiên Thai, do đó, cũng chia Phật tánh ra làm ba thứ: Chánh nhơnPhật tánh, duyên nhơn Phật tánh và liễu nhơn Phật tánh.

Bởi vì, từ Phật tánhtrong thể tánh, nó thành tựu được, cụ túc được thật tướng thì nó phảicó duyên mới thành tựu được và khi duyên đầy đủ thì nó hiển lộ mộtcách trọn vẹn cho nên gọi là Liễu.

Chánh nhơn Phật tánhtức là lý tức Phật, tất cả chúng sanh đều có chánh nhơn Phật tánh. Nếunhư không có Phật tánh ấy, cũng như gạo không có chất cơm, không cóchánh nhơn cơm thì dù có nấu mấy cũng không thành cơm được. Nhưng dùcó chánh nhơn cơm, mà phải có nấu mới thành cơm, chớ cứ để nguyên hộtgạo thì không thành cơm. Cũng vậy, có chánh nhơn Phật tánh lại phải códuyên nhơn Phật tánh, như gặp Phật, nghe được giáo lý nhất thừa thìchánh nhơn Phật tánh mới thành tựu được. Khi duyên nhơn Phật tánh đượcthành tựu đầy đủ thì chánh nhơn Phật tánh sẽ hiển lộ một cách trọnvẹn. Cũng như, cơm khi đã nấu, đầy đủ nước, đủ củi, đủ lửa, nấu chíntrọn vẹn, trở thành hột cơm ngon bùi gọi là liễu nhơn. Phật chủng phảicó đủ duyên mới hiển được. Cái duyên làm phát khởi Phật chủng này làgì ? Phải là nhất thừa giáo, cho nên, đức Phật nói lý nhất thừa.

"Thị Pháp trụ, phápvị". Pháp trụ pháp vị chỉ cho chơn như, đồng nghĩa với chơn như thậttướng. Thị pháp là chỉ cho chư pháp thường vô tánh, tức thật tướng,cái đó luôn luôn vẫn ở trong pháp thật tướng, vẫn ở trong bản vị củanó, mặc dù hiện hữu mà ở trong bản vị lý tánh. Tất cả mọi hiện tướngchỉ hiện lên trong lý tánh, lý thể của nó. Tướng lửa đỏ chỉ hiện lêntrong tánh lửa, chỉ hiện lên trong tánh nóng, chứ lửa không thể hiệnlên trong tánh ướt, sóng chỉ hiện lên trong nước, chứ sóng không thểhiện lên đất, nghĩa là, tất cả mọi hiện tướng đều hiện lên trên bảnthể của nó, trên tự tánh, lý tánh của nó gọi là pháp trụ pháp vị. Màđã là pháp trụ pháp vị như vậy thì tất cả những tướng thế gian, nhữnghiện tượng ta thấy đó cũng điều trụ pháp vị, cũng đều hiện lên trên tựthể bản vị của nó. Sóng chỉ hiện lên trên nước, lửa chỉ hiện lên trêntánh nóng, ngọn lửa không thể hiện lên trên đất, nghĩa là lửa với tánhnóng luôn luôn gắn chặt với nhau. Lý tức sự, sự tức lý, sóng tức nước,nước tức sóng. Mà nước là thường, sóng tức nước, như vậy, sóng cũngthường. Cho nên nói thế gian tướng thường trú. Quy tướng về tánh, quysóng về nước. Sóng là nước không thể ngoài nước tìm có sóng, không thểbỏ sóng đi để tìm nước. Còn mắt thông thường của chúng sanh hay trúvào tướng nên không thấy nước mà chỉ thấy sóng. Thử hỏi, có sóng nàongoài nước mà có ? Không cần sóng, múc sóng đổ đi để lấy nước có đượckhông ? Chắc chắn là không. Như vậy, nước là thường, sóng ở trong nướcsóng là thường. Đó là thế gian tướng thường trú. Đây là theo nghĩa củaHiển giáo. Theo Mật giáo thì tức tướng tức tánh, tướng tánh bất ly,như mặt trăng, mặt trời và ánh sáng. Mặt trăng, mặt trời là tánh làthể, mà ánh sáng là tướng là dụng. Thể, tướng, dụng đó bất tương ly.Ly mặt trăng mặt trời thì không có ánh sáng, ly ánh sáng không có mặttrăng mặt trời. Tánh tướng bất ly. Mà mặt trăng mặt trời là thường thìánh sáng mặt trăng mặt trời là thường. Vậy thì, những hiện tướng củathế gian cũng vẫn ở trong thực thể tự tánh của thế gian, bất tương lycho nên gọi thế gian tướng thường trú.

"Ư đạo tràng tri dĩ,đạo sư phương tiện thuyết". Đức Phật ở nơi đạo tràng, chứng ngộ đượclý thật tướng đó, nhưng Ngài không thể nói thẳng lý đó cho chúng sanhnghe mà đức Phật phải phương tiện giảng thuyết.

Kinh văn: Các đức Phậthiện tại trong mười phương được hàng nhơn thiên cúng dường. Số cácNgài nhiều như cát sông Hằng, xuất hiện ở thể gian, đem lại sự an ổncho chúng sanh, cũng nói pháp như vậy.

Biết được tịch diệt đệnhất ( tịch diệt đệ nhất tức là nhất thừa) mà dùng sức phương tiện,tuy nói chủng chủng đạo, (khi nói Thanh văn, khi nói Duyên giác...)Nhưng kỳ thật cũng cốt vì Phật thừa.

Đức Phật biết các hạnhnghiệp của chúng sanh, biết xu hương trong thâm tâm chúng sanh, biếttập nghiệp, dục, tánh, sức tinh tấn, lợi căn, độn căn quá khứ củachúng sanh mà dùng các thứ nhân duyên thí dụ, và ngôn từ, tùy theo chỗưa thích của chúng sanh mà phương tiện nói ra.

Nay Ta (đức Thích Ca)cũng như vậy. Vì an ổn chúng sanh mà dùng các pháp môn để khai thịPhật đạo.

Ta đem sức trí tuệ,biết tánh, dục của chúng sanh, rồi dùng sức phương tiện nói các pháp,khiến đều được hoan hỶ.

Xá-lợi-phất nên biết,Ta dùng Phật nhãn quán sát, thấy lục đạo chúng sanh bần cùng khôngphước huệ (vô phước mới bần cùng), bị sa vào trong đường hiểm sanh tử(vô huệ mới sanh vào hiểm đạo) tiếp tục chịu khổ không dứt (nói vềmạng trược), đắm sâu nơi ngũ dục, như con trâu đen ưa cái đuôi của nó(có loại trâu đuôi dài, xứ mình không có, nó ưa thích cái đuôi của nóthành cứ quay đầu nhìn theo cái đuôi mà đi, phải bị sa hầm. Do lòngtham ái ngăn che, mù mờ không thấy biết, không cầu đến Đại Thế Phật(tức đức Phật có đại oai lực) và cũng không chịu cầu pháp dứt khổ(không chịu cầu pháp đây nói về phiền não trược), thâm nhập vào tàkiến, muốn lấy khổ để dứt khổ (theo ngoại đạo là dĩ khổ diệt khổ. Đâylà kiến trược). Ta vì các chúng sanh ấy mà khởi lên tâm đại bi. Khi Tangồi chốn đạo tràng, hoặc xem cây, hoặc đi kinh hành, ở trong ba thấtđầu, tư duy việc như vầy ; Trí tuệ Ta chứng được, vi diệu tối đệ nhất.Còn các chúng sanh độn căn này bị đắm ưa dục lạc và bị các sự ngu siche lấp, cái loại như vậy làm sao mà độ được ? Lúc bấy giờ các PhạmThiên vương các Đế Thích thiên, Hộ thế tứ thiên vương, Đại tự tạithiên và các chư thiên khác, quyến thuộc trăm ngàn vạn, cung kính chắptay đảnh lễ xin Ta chuyển pháp luân. Ta liền tự suy nghĩ, nếu chỉ tánthán Phật thừa, thì chúng sanh chìm đắm trong sự khổ không làm sao tinnổi pháp đó. Mà không tin thì sẽ phá pháp; mang tội bị đọa vào bađường ác, vậy Ta thà không thuyết pháp, mau vào Niết-bàn.

Ta liền nghĩ tới cácđức Phật quá khứ đã thi hành sức phương tiện. Ta nay đã chứng được đạorồi cũng nên (dùng sức phương tiện như các đức Phật quá khứ) mà nóipháp tam thừa. Khi suy nghĩ như vậy, mười phương các đức Phật đều hiệnđến, với phạm âm vi diệu an ủi khuyến dụ Ta rằng: Lành thay Thích CaVăn, là bặc đạo sự bậc nhất, chứng được vô thượng pháp, hãy tùy theothông lệ của tất cả chư Phật mà dùng sức phương tiện (độ sanh). Nhưcác đức Phật, Ta cũng đều được tối diệu đệ nhất pháp, vì các loàichúng sanh phân biệt nói ba thừa.

Những hàng tiểu trí ưapháp nhỏ, không tự tin mình làm Phật được, cho nên, Ta dùng phươngtiện phân biệt nói các quả vị; tuy có nói tam thừa nhưng chỉ để giáohóa Bồ-tát.

Xá-lợi-phất nên biết,Ta nghe âm thanh vi diệu thâm sâu thanh tịnh của các bậc Thánh Sư Tử,Ta liền xưng Nam Mô Chư Phật, Ta lại nghĩ như vầy: Ta ra đời vào thờinăm trược ác, hãy giống như các đức Phật khác nói, Ta cũng tùy hànhtheo như các Ngài. Tư duy việc đó rồi, liền đi đến rừng Ba-la-nại.(Chỗ 5 vị Tỳ-kheo, nhưng mà đến đó thì đến chứ). Các pháp tướng tịchdiệt không thể dùng lời nói để tuyên ra được nên mới dùng sức phươngtiện vì 5 Tỳ-kheo nói pháp. Ấy gọi Chuyển pháp luân, mới có âm thanhNiết-bàn và A-la-hán. Pháp và Tăng từ đây mới có danh xưng sai biệt.

Từ kiếp lâu xa đến naytán thán pháp Niết-bàn, dứt hết khổ sanh tử, Ta thường nói điều đó.

Xá-lợi-phất nên biết,Ta thấy các hàng Phật tử người có chí cầu Phật đạo, vô lượng trăm ngànức, đều đem tâm cung kính đến chỗ đức Phật, từng theo các đức Phậtnghe Ngài dùng phương tiện nói pháp, Ta liền nghĩ rằng: Đức Như Lai sởdĩ ra đời là vì nói trí tuệ Phật cho chúng sanh nghe thì hôm nay làđúng lúc.

Xá-lợi-phất nên biết,hàng độn căn tiểu trí, cứ trước tướng kiêu mạn không thể tin được phápnày, nhưng nay đây, Ta rất vui mừng không còn sợ hãi, ở trong hàngBồ-tát, đúng lúc thẳng thắn bỏ pháp phương tiện mà chỉ nói đạo nhấtthừa !"

Giải thích: Trước kia,đức Phật nói pháp còn sợ chúng sanh không hiểu rồi sanh phỉ báng sẽ bịđọa lạc. Bây giờ Ngài không còn lo sợ điều đó nữa nên gọi là vô úy.Thứ nữa là, trước kia Ngài chưa nói được điều Ngài muốn nói mà phảinói nương theo ý người khác, đến lúc này thì nói được điều muốn nóicho nên mừng. Trước Ngài nói phương tiện, bây giờ bỏ không nói phươngtiện nữa. Nói "bỏ" không phải vì pháp phương tiện vô dụng đâu. Bởi đólà bước đầu để đưa đến nhất thừa. Trước kia chưa nói ngay đạo nhấtthừa, nay thì nói ngay đạo nhất thừa.

Kinh văn: Hàng Bồ-tátnghe pháp này thì lưới nghi đều dứt, 1200 vị La-hán cũng đều biết mìnhsẽ làm Phật. Như nghi thức thuyết pháp của các đức Phật ba đời, Ta hômnay cũng giống như thế, nói pháp vô phân biệt.

Các đức Phật ra đờirất lâu xa khó gặp được. Chính ngay khi đức Phật ra đời nói pháp nàycòn khó hơn. Vô lượng vô số kiếp nghe được pháp này lại khó hơn nữa,và người đủ căn cơ nghe được pháp này lại càng khó hơn nữa.

Giống như hoa Ưu-đàmđược tất cả đều ưa mến, đó là thứ hoa hi hữu trong hàng nhơn thiên,lâu lâu mới xuất hiện một lần, người nghe pháp hoan hỶ tán thán, chođến phát lên một câu nói, người đó đã là cúng dường tam thế Phật.Người đó rất hy hữu, quá hơn hoa Ưu-đàm, các ông chớ có nghi. Ta làvua các pháp (đức Phật đối với các pháp Ngài tự tại nên gọi PhápVương) khắp bảo các đại chúng, chỉ dùng nhất thừa đạo giáo hóa cácBồ-tát, không có vì hàng đệ tử Thanh Văn. Các ông Xá-lợi-phất, ThanhVăn và Bồ-tát hãy biết pháp vi diệu này là pháp bí yếu của chư Phật, ởtrong đời ác 5 trược, chỉ ưa đắm các dục, những chúng sanh như thếtrọn không thể cầu Phật đạo. Các người ác trong đời sau nghe Phật nóinhất thừa, mê hoặc không tin thọ được, người đó phá pháp bị đọa vào ácđạo. Còn người có tâm tàm quí, có đức thanh tịnh, có chí cầu Phật đạo,thì hãy vì những người như vậy rộng tán dương đạo lý nhất thừa.

Xá-lợi-phất nên biết,pháp của chư Phật như vậy do vạn ức phương tiện tùy nghi mà nói ra,những người không tập học, không thể hiểu rõ được pháp đó. Các ông nayđã biết: Đức Phật là thầy của thế gian, việc tùy nghi phương tiện nóipháp, không còn các nghi hoặc, tâm sanh đại hoan hỶ, tự biết mình sẽlàm Phật.

(Hết phẩm Phương Tiện)

(Có người nói: Sáu Hoasen trước chỉ cho sáu đức Phật quá khứ. Hoa sen thứ bảy là đức PhậtThích Ca vậy.

Thám cang ảnh thảo làphương thức bắt cá. Thám cang là bó lông chim đề hô (tức chim bồ hồngở nước) vào đầu cây sào rồi cặm xuống nước, dò sâu cạn cho cá tụ lạirồi dùng lưới bắt. Ảnh thảo là trải cỏ trên mặt nước cho cá tụ lại núpbóng rồi dùng lưới bắt. Thiện tri thức dùng phương thức dò căn cơ đểkhai hóa trò cũng giống như thế.

Thiên Thai Trí Giả(538 - 97) là Tổ thứ 3 của tông Thiên Thai Trung Hoa.

2 Chỉ có Phật cùng vớiPhật mới hiểu thấu chân tướng của tất cả các Pháp, tức là mọi hiện hữucó hình thái như thế, bản tánh như thế, năng lực như thế, biểu hiệnnhư thế, năng lực như thế, hành tác như thế, nguyên nhân như thế,duyên cớ như thế, kết quả như thế, báo đáp như thế và toàn bộ rốt ráonhư thế.

Cưu-ma-la-thập sinhnăm 344 ở Kucha, một nước ở Trung Á, giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Năm 7tuổi La Thập đã vào ở tu viện và sau đó Ngài được gởi đi Ấn Độ để họcPhật giáo Đại Thừa.

Khi về lại quê nhà,Thầy Ngài là Suryasoma đã dạy Ngài Kinh Saddharma-pundarika-sùtra(Diệu Pháp Liên Hoa Kinh). Năm 401 Ngài đến Tràng An kinh đô của HậuTân theo lời mời của Vua. Lúc ấy Ngài đã 62 tuổi và được vua phongquốc sư, và mất năm 72 tuổi (431).

Ngài là người tinhthông Phạn và Hoa ngữ. Kinh Pháp Hoa và các Kinh do Ngài phiên dịch(có đến cả ngàn người phụ việc) do đó có thể kết luận rằng bản dịchKinh Pháp Hoa từ Phạn sang Hoa ngữ của Ngài hầu như không có sai lạc.Kinh Pháp Hoa sau đó đóng một vai trò rất quan trọng trong Phật giáoTrung Quốc. Trí Giả (538 - 97) sau đó đã nghiên cứu rốt ráo tất cả cácKinh điển của Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa và viết ra sớ luận tuyệtdiệu về Pháp Hoa như Pháp Hoa Huyền Nghĩa (Diệu Pháp Diên Hoa KinhHuyền Nghĩa), Pháp Hoa Văn Cú (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú) vớingài Quán Đảnh và Ma-ha Chỉ Quán. Như thế, Kinh Pháp Hoa đã phổ biếnsâu rộng khắp Trung Quốc, dù nhập vào Nhật xuyên qua Cao Ly. Việt Namchúng ta Kinh Pháp Hoa cũng được truyền rất sớm.

Trích trong Bài ca tâmPhật của Tuệ Trung Thượng sĩ:

"...Đi cũng thiền,ngồi cũng thiền

Trong lò lửa rực, mộthoa sen..."

Theo cách phán giảicủa ngài Thiên Thai trí giả. 

Nhằm nói đến Thậtgiáo, mà Thật giáo cao nhất là Nhất thừa đạo, nương lấy Nhất thừa đạolàm diệu nhân để chứng đắc diệu quả

Nhằm nói đến thật thântức là Pháp thân vô trụ của Phật, mà Pháp thân vô trụ cùng tột củadiệu quả

Hay: Ý nghĩa bài kệtrong kinh Pháp Hoa.

Hay: Ba đức cần có củangười thuyết giảng Pháp Hoa.

Liên quan vấn đề này,kinh Lăng Già nói có năm thứ ngôn thuyết:

-Tướng ngôn thuyết:Ngôn thuyết do chấp trước các tướng như sắc, hương... mà sanh ra.

-Mộng ngôn thuyết:Nương cảnh chiêm bao, phân biệt thọ dụng mà sanh ra.

-Chấp trước ngônthuyết: Do nghĩ nhớ những việc đã nghe đã làm mà sanh ra.

-Vô thủy ngôn thuyết:Do sự huân tập của chủng tử phiền não hỶ chấp trước từ vô thủy mà sanhra.

-Như nghĩa ngônthuyết: Thí như kinh Kim Cang Tam Muội nói: "Xá-lợi-phất thưa, tất cảpháp đều là lời nói, văn tự. Tướng là lời nói văn tự không phải lànghĩa, và nghĩa như thật thì không thể nói được. Vậy thì sao đức NhưLai hiện nay lại thuyết pháp? Phật dạy: Ta thuyết pháp là do chúngsanh các ông còn ở trong vòng phát sanh lời nói. Do muốn nói cái khôngthể nói nên Ta thuyết pháp. Cái chỗ Ta nói là nói cái nghĩa, chứ khôngphải nói văn tự, còn chỗ chúng sanh nói là nói văn tự, chứ không phảinói nghĩa. Lời nói phi nghĩa đều là rỗng không, lời nói rỗng khôngkhông nói được nghĩa và đã không nói được nghĩa thì đều là vọng ngữ.Còn lời nói như nghĩa thì thật không là bất không, không thật là bấtthật, rời cả hai tướng, cho đến tướng trung gian cũng không thành, chỉnhư lý như như mà nói.

Liên quan vấn đề này,kinh Bản Nghiệp Anh Lạc và phẩm Bản Nghiệp Phật mẫu nói: "Tất cả điềuthiện đều đưa đến Phật quả, còn vô minh chỉ đưa đến quả hữu vi sanhdiệt. Như thế quả lành do nhân lành, quả ác do nhân ác, nên gọi là"thiện không chịu quả báo sanh diệt, chỉ chịu thành Phật quả thôi".Tất cả điều thiện của phàm phu hoặc Thánh nhân đều gọi là vô lậu. PhápSư Hải Đông nó: "Tất cả thiện thọ Phật quả là sanh đắc thiện và tácđắc thiện, chúng đều là chánh nhơn đưa đến Phật quả. Tất cả thiện đềugọi là vô lậu, vì nó thuận với tánh tịch tịnh, nghịch với các lậu,Sanh đắc thiện tùy thuận bản giác, từ bản giác thanh tịnh mà sanh ra,rồi chuyển thành tác đắc thiện nên cũng thuận với bàn giác. Pháp sưTrúc Đạo Sinh đời Lu Tống viết luận: "Thiện bất thọ báo". Pháp sư PhổTịch (Nhật Bản) nói: "Tôn chỉ thiện bất thọ báo rất thâm huyền. Tất cảthiện khi chưa thành quả thì nó xu hướng Phật đạo, thành thứ thiệnthuận với phần giải thoát. Khi thành Phật quả mặc dù báo nhơn báo quảnhư đã tiêu tạ, nhưng tập nhơn tập quả vẫn tiếp tục tăng trưởng quy vềđại đạo. Thế của thiện vốn diệu, vì phàm tất cả thiện pháp đều từ chơnnhư không tánh phát khởi, tự nhiên nó xu hướng về Phật quả, chớ khônglàm cái nhơn cho quả hữu vi sanh diệt. Trái lại, quả báo trong ba cõiđều từ vô minh bất thiện phát khởi. Dù trong đó có hữu lậu thiện,nhưng thiện này đã bị thế lực vô minh dẫn dắt, nên cũng đều là vôminh. Vậy, quả báo ba cõi đó là của vô minh chớ không phải của thiện.Hóa Địa Bộ cũng cho rằng: "Thiện chẳng phải là nhơn của quả báo 3 cõi(thiện phi hữu nhơn). Luận Nhiếp Đại thừa cuốn 11 nói: Tất cả việcthiện của chúng sanh đều là phương tiện đại thanh tịnh của Bồ-tát. Vìsao? Vì thanh tịnh đã là một, dù chưa đến địa vị đại thanh tịnh, bởinghĩa vô trụ mà tất cả đều quy hướng về đại đạo Bồ-tát.

 

---o0o---

CÁC SÁCH KHÁC
•   Nhân Quả Đồng Thời
•   Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng
•   Khái Luận Triết lý Kinh Hoa Nghiêm
•   Câu chuyện Triết học
•   Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học
•   Im lặng hố thẳm
•   Đại Cương Về Luận Câu Xá
•   Thành Duy Thức Luận
•   Đại Trí Độ Luận tập V
•   Đại Trí Độ Luận tập IV
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Ước mong của Á khôi 1 ĐH KHXH&NV trong năm Nhâm Thìn
Việt Trinh: ‘Xin cảm ơn thói đời cay nghiệt’
Cảm nhận những Phật tích
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2014
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này