Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
22:08, Wednesday.June 10 2026
Triết học Phật giáo
Lược giải Kinh Pháp Hoa
Tác giả : Thích Thiện Siêu
Nhà xuất bản :
************************************************

Nhà Như Lai, Áo Như Lai, Tòa Như Lai

Pháp Hoa là một bộkinh rất cao quý, tóm thâu tất cả giáo lý mà Phật đã dạy cho đệ tửsuốt 45 năm. Trước khi thuyết kinh này, vì căn cơ các hàng đệ tử khôngđồng, Ngài đã dùng nhiều phương tiện để dẫn dắt họ dần dần đến Nhấtthừa đạo. Đến khi căn cơ chúng sanh đã thuần thục, Phật mới nói thẳngđạo Nhất thừa. Nhất thừa đạo không có nghĩa là phủ nhận tất cả nhữngpháp môn phương tiện mà Phật đã nói trước đây, mà chỉ muốn nói rằng,những pháp môn trước kia là những nấc thang, những phương tiện để giáohóa chúng sanh vào Nhất thừa. Như y sĩ sau khi đã hiểu rõ căn bệnh,hiểu rõ thuốc chữa bệnh, cách chữa bệnh, mới cho bệnh nhân dùng thuốcnày thuốc khác. Đức Phật cũng thế, với trí tuệ, Ngài chữa lành mọi cănbệnh của chúng sanh, tuỳ căn cơ mà dùng phương tiện này khác, chứkhông phải đem tất cả thuốc cho uống một lúc. Chẳng hạn khi người đaubụng, y sĩ bảo kiêng sữa và cho các thuốc trị đau bụng, sau đó khỏibệnh, y sĩ lại bảo uống sữa để thêm sức. Nếu bệnh nhân không biểubiết, thì sẽ bảo y sĩ trước sau bất nhất, trước bảo không uống sau lạibảo uống. Phật cũng thế, trước chỉ nói pháp Tứ đế, Nhân vô ngã... đểchúng sanh giải thoát sanh tử luân hồi. Khi ngã chấp đã được phá trừmà pháp chấp chưa trừ thì giác ngộ chưa được rốt ráo, do đó Phật lạidạy thêm, phá trừ pháp chấp để giải thoát hoàn toàn. Nhưng có hàng đệtử lại nghĩ, trước Phật đã dạy lý Tứ đế để tu chứng Niết-bàn, bây giờlại nói đó chỉ là phương tiện, còn có pháp Nhất thừa cao hơn nữa. Nhưvậy là Phật nói trước khác, sau khác, vì nghĩ thế nên trong hội PhápHoa, có 5000 Tỳ-kheo tăng thượng mạn bất tín đứng dậy đi ra. Nhân đấyđủ biết, kinh Pháp Hoa là một bộ kinh tối thượng thừa, Phật nói để đưađệ tử đến Nhất thừa đạo, để ngộ nhập Phật thừa, chỉ dành cho hạng căncơ đã thuần thục. Cho nên ai viết chép, thọ trì, giảng nói được kinhnày thì người ấy công đức vô lượng. Nếu không nhờ có lòng tin lớn, dotrồng căn lành từ vô lượng kiếp thì khó mà làm được việc này.

Trong khi đọc tụnggiảng nói Pháp Hoa, người ấy ít nhất phải có hiểu biết, thực hành,theo lời kinh dạy thì mới được lợi ích cho người nghe, cũng như ngườinói, nếu không, sự thọ trì đọc tụng, giảng nói không có lợi nhiều. Nhưtrong pháp hội của đức Lục tổ Huệ Năng, có vị thầy Pháp Đạt một hômđến tham bái, đảnh lễ Tổ ba lạy mà đầu không sát đất, Tổ quở: Lạy làđể phá trừ kiêu mạn, tỏ lòng cung kính, lạy mà đầu không chấm đất chắctrong lòng còn ôm giữ một điều gì ? Pháp Đạt nói: Tụng kinh Pháp Hoađã được 3000 bộ mà chưa thấy đạo. Tổ dạy: Dù có tụng ba vạn bộ đi nữamà không hành thì cũng vô ích. Nếu hành được tinh thần Pháp Hoa thì sẽcùng tôi sánh vai mà đi. Kinh Pháp Hoa đã dạy một hạnh khiêm tốn nhẫnnhục qua điển hình ngài Bồ-tát Thường Bất Khinh, một vị Bồ-tát mà rađi gặp ai cũng cung kính cúi đầu nói: "Tôi rất kính trọng các ngài,không dám khinh mạn vì các ngài thực hành đạo Bồ-tát sau sẽ thànhPhật". Có người nghe thì hoan hỶ vì cho đó là lời chúc tụng. Có ngườinghe cũng dửng dưng vì không hiểu Ngài muốn nói gì. Nhưng có ngườinghe thì nổi sân vì cho rằng Ngài chọc tức mình, nên mắng nhiếc đánhđập, nhưng Ngài vẫn giữ một tâm niệm bình thản đối với tất cả mọingười vì Ngài biết rõ mọi người đều có Phật tánh, biết người nào ngheKinh Pháp Hoa đều sẽ thành Phật, vì kinh dạy: "Nhược hữu văn pháp giả,vô nhất bất thành Phật". Tất cả chúng sanh, hoặc trong hiện tại, hoặcở quá khứ, hoặc vị lai, thế nào cũng có lần nghe kinh Pháp Hoa, mà đãnghe được thì sẽ có ngài thành Phật. Vì biết rõ như vậy, nên Ngài cungkính tất cả. Lý do thứ hai khiến Ngài cung kính, kính họ là kính sựhiểu biết của mình, sự hiểu biết đó là mỗi chúng sanh đều có Phậttánh. Thứ ba cung kính họ tức là cung kính lời Phật dạy, phải khiêmcung với tất cả mọi người. Nếu mình khinh người, tức là khinh lời đứcPhật dạy, mà cũng khinh luôn cả sự hiểu biết của mình. Điển hìnhBồ-tát Thường Bất Khinh ấy đủ làm cho chúng ta từ bỏ tâm kiêu mạn, vàthay vì nói bậy, hí luận vô ích, thả tâm ý tán loạn quàng xiên, thìtụng Kinh, chừng ấy cũng được lợi lạc. Nhưng nếu không phá trừ kiêumạn, thực hành hạnh khiêm cung thì mất rất nhiều công đức của việctụng đọc. Tụng kinh mà còn cần chú ý học hỏi để thực hành tinh thầnKinh, huống chi giảng nói cho người. Tự tụng đã khó, đem nói cho ngườilại càng khó hơn. Cho nên đức Phật dạy, ai giảng nói Kinh này, ngườiấy đã trồng căn lành từ nhiều kiếp. Nhưng muốn cho sự giảng nói kinhnày viên mãn lợi ích cả mình lẫn người, thì người giảng nói cần hội đủba đức tính như phẩm Pháp sư trong kinh đã dạy. Đó là ở nhà Như Lai,mặc áo Như Lai và ngồi tòa Như Lai.

Chúng sanh ở trong tamgiới là một cái nhà do nghiệp mình tạo ra, đó là những nghiệp hữu lậu,tham sân si phiền não. Bây giờ người muốn nói kinh Pháp Hoa thì đừng ởtrong nhà đó, mà phải lấy tâm từ bi làm nhà. Từ là cho niềm vui, bi làcứu nạn khổ. Cho vui khi thấy chúng sanh yên lành, cứu khổ khi thấychúng sanh đau khổ. Như ba mẹ thấy con vui khỏe mạnh thì cho thêm áo,giầy... làm cho nó vui hơn, hay hoan hỶ với nó, đó là lòng từ. Nhưngkhi nó đau ốm thì săn sóc, cho thuốc men, cơm cháo là bi. Đức Phậtcũng vậy, đối với chúng sanh đã có nghiệp quả tốt, Ngài dùng Từ đểgiáo hóa, vì cái tốt trong tam giới chưa phải giải thoát, nên Ngài đemnhững thiện pháp xuất thế khiến cho họ tiến tu, đó là lòng Từ. Nhưngđối với những chúng sanh bị nghiệp chướng đau khổ trói buộc, thì Phậtdùng những pháp môn dạy chúng ta tu để trừ nghiệp chướng, để hết đaukhổ, đó là Bi. Nhưng thực hiện lòng từ bi đó không phải một ngày, haingày mà thành được. Kinh đã chia ra ba cấp bực từ bi là:

1. Chúng sanh duyên từ.

2. Pháp giới duyên từ, hay đồng thể đại bi.

3. Vô duyên từ hay Vô duyên đại từ.

Chúng sanh duyên từ:Là lòng từ bi còn tướng đối đãi, có duyên mới phát khởi, ví dụ có thấychúng sanh đau khổ mới phát lòng thương, khi cảnh khổ qua rồi thì tâmtừ bi cũng lặn mất. Lòng từ bi có sinh diệt đối đãi ấy, gọi là chúngsanh duyên từ.

Pháp giới duyên từ: LàPhật, Bồ-tát thấy rằng tất cả chúng sanh sinh tồn đều có tương quanmật thiết với nhau. Ví dụ: Một người đi buôn, một người làm ruộng, mộtthầy giáo, một học sinh, một người nội trợ... Những người này nếu nhìnmột cách phiến diện, chúng ta thấy họ không tương quan gì với nhau, vìmỗi người làm một công việc. Nhưng sự thật thì tất cả những người ấyđều có tương quan sinh tồn, giúp đỡ lẫn nhau. Hiểu được như vậy, thìkhông còn cái tánh bất chấp quyền lợi chung mà bảo vệ quyền lợi riêngrẽ. Cái biết của chúng ta hiện tại, chẳng hạn như biết làm toán, lànhờ những người trong quá khứ hoặc đã qua đời, hoặc đã đi chỗ khác.Đức Phật tuy đã diệt độ mà giáo lý của Ngài vẫn còn tác dụng giúpchúng sanh giác ngộ, vẫn là một duyên lành, một làn gió mát cho nhữngai thực hành theo. Như vậy, giữa Phật và chúng sanh, giữa những ngườitrong một quốc gia hay rộng hơn, nhân loại trên thế giới, suy cho cùngđều có tương quan với nhau, gọi là trùng trùng duyên khởi, hay phápgiới, tức là cái nguyên lý nương nhau mà thành tựu. Căn cứ trên lý"Pháp giới trùng trùng duyên khởi" đó mà phát lòng từ bi thì gọi làpháp giới duyên từ, hay đồng thể đại bi. Lý trùng trùng duyên khởi nàyluôn luôn hiện hữu nơi sự vật, chúng không bao giờ gián đoạn, hay cóhạn lượng, nên từ bi căn cứ trên đó cũng không có sinh diệt, hạnlượng, không phân biệt mình người, thân, sơ, loài người hay loài vật.Hoặc mình có Phật tánh, các người khác, chúng sanh khác cũng đều cóPhật tánh. Mình và người khác, chúng sanh khác tuy cách biệt sang hènnhưng Phật tánh thì vốn đồng nhất thể. Cũng như cánh tay mặt, cánh taytrái, tuy khác nhau nhưng đồng một thân thể. Vậy khi cánh tay trái bịthương, tay phải xức thuốc là dựa trên tính đồng nhất thân thể đó màlàm, chứ không phải phân biệt bỉ thử. Đồng thể đại bi cũng vậy.

Cao hơn tất cả là Vôduyên từ: Là lòng từ bi hoàn toàn không dựa vào một lý lẽ nào để phátkhởi, không chờ đợi đối tượng, vô điều kiện. Như mặt trời chiếu sáng,không tính toán lựa chọn chỗ này thì chiếu xuống, chỗ kia không chiếuxuống. Hai đức từ bi sau này bao la như vũ trụ của chư Bồ-tát và Phật,còn Phật tử chúng ta thì chỉ thực hành chúng sanh duyên từ, nhưng đấycũng là những mục tiêu mà chúng ta mong mỏi hướng đến, để sau này cũngsẽ có được pháp giới duyên từ và vô duyên từ như chư Phật và Bồ-tát.

Tâm từ bi là cái "NhàNhư Lai", trong đó người nói kinh Pháp Hoa phải ở mới nói kinh đượcviên mãn. Đó là điều kiện thứ nhất.

Điều kiện thứ hai, là"Mặc áo nhu hòa nhẫn nhục". Đã được tâm từ bi nhưng cần phải phô diễncách nào? Cần phải có đức tánh mềm mỏng, ái ngữ, chứ không phải chỉcần có tâm từ bi là được, rồi cứ việc nói lời khó chịu, thái độ gaygắt. Có những bà mẹ thương con, nhưng cũng chính vì lòng thương đó, màthường đánh mắng nó, không nói lời ôn tồn dạy dỗ, hay thầy giáo vìthương học trò mà đánh đập khi nó làm bài sai... Lòng từ bi thiếu mềmmỏng đó thường dễ gây đau khổ. Vậy ngoài đức từ bi cần phải có ái ngữlàm cho mọi người ưa mến thích nghe. Kinh Pháp Hoa là kinh tối thượngthừa, nan tín nan giải, nếu nói bằng lời thô bạo, cứng cỏi, thì chúngsanh làm sao nghe lọt lỗ tai được. Như viên thuốc chữa bệnh rất hay màquá đắng, thì phải bọc một lớp đường, mới cho trẻ uống được. Chúngsanh đối với Phật Pháp cũng như trẻ con vậy. Thuốc Pháp Hoa là thuốcđắng tối thượng thừa, nếu không bọc một lớp đường nhu hòa nhẫn nhụcthì khó mà đem cho chúng sanh uống được.

Suốt đời đức Phật luônluôn nhu hòa nhẫn nhục. Như có lần đi khất thực, Ngài gặp một người áccản chận lại mắng rủa. Ngài vẫn im lặng đứng lại để nghe ông ta nóixong, rồi ôn tồn hỏi: Ở nhà ngươi chắc cũng có khi bà con đến thămchứ? Người ấy đáp: Có chứ sao không. Ngài hỏi tiếp: Mỗi lần họ đếnthăm chắc cũng có khi ngươi dọn quà bánh mời ăn? Có. Và nếu họ khôngăn thì phần quà ấy về ai? Người kia đáp: Thì về tôi chứ ai. Khi ấy đứcPhật bảo: Cũng thế, nãy giờ ngươi dùng lời thô bỉ mắng Ta, mà Ta khôngnhận thì những lời ấy hẳn trở về ngươi. Vậy Ta khuyên ngươi đối với aicũng không nên dùng lời thô bỉ mà nên dùng lời hòa nhã. Nhờ nhu hòanhẫn nhục mà Phật đã khai hóa cho người ấy. Vì người mắng mình bao giờcũng mang một thành kiến, hoặc vì thấy bộ tịch mình mà họ không ưa,hoặc vì việc làm của mình động chạm đến quyền lợi của họ, hoặc vì họnghe lầm, nghe xuyên tạc về mình. Muốn thoát khỏi cảnh sân si, tật đố,cần phải nhu hòa nhẫn nhục mới bình tĩnh để đối phó, chứ mình nóng nảyđáp lại thì không khác gì đổ dầu thêm vào lửa. Nhưng nhẫn nhục của đứcPhật là nhẫn nhục trong trí tuệ sáng suốt, nhẫn để giáo hóa, như khiNgài hỏi lại kẻ đã mắng nhiếc mình. Đức nhẫn này rất cần để vượt mọikhó khăn.

Nhẫn có ba thứ:

1. Nại oán hại nhẫn:Nhẫn trước lời sỉ nhục thù hằn, chuyên gây khó khổ của loài người khácđối với mình.

2. Kham thọ khổ nhẫn:Nhẫn đối với những vật vô tình đem lại thọ khổ cho chúng ta như nóng,lạnh, đói, khát. Nếu người hành đạo nửa chừng bỏ tu vì không chịu nổinhững chướng duyên này, ấy là vì không kham nhẫn.

3. Vô sanh pháp nhẫn:Cái nhẫn cao nhất. Vì biết các pháp vốn vô sanh. Đã vô sanh thì lờimắng nhiếc sỉ nhục của người ta nói với mình cũng vô sanh. Ví dụ câunói: "Anh là đồ ngu", mỗi đơn từ không phải lời mắng, chỉ vì chúng tađem tâm phân biệt so đo ráp nó lại, chấp cái vô sanh làm sanh, nên mớikhó chịu. Nếu biết rõ thực tính của nó là vô sanh, thì nó không thànhmột lời mắng, lấy đâu mà giận mà khổ. Mọi sự khác cũng vậy, đều vôsanh. Tin được điều đó thì không thấy có điều nhục đế mà nhẫn gọi làvô sanh pháp nhẫn.

Cuối cùng điều kiệnthứ ba của người giảng kinh là phải ngồi Toà Như Lai: Ngồi là an trú,tòa Như Lai là nhất thiết pháp không, "không" đây có nghĩa là vô tựtánh của các pháp. Tất cả các pháp đều vô tự tánh, vì vô tự tánh nênbất khả đắc chứ không phải hoàn toàn là trống không. Đức Phật an trútrong chân không đó nên gọi là ngồi tòa Như Lai. Kinh Kim Cương nói:"có bao nhiêu chúng sanh Ta đều độ cho nhập vô dư Niết-bàn, diệt độ vôsố vô biên chúng như vậy mà thật không thấy có chúng sanh nào đượcđộ". Trọn đời Ngài độ sinh mà không thấy có chúng sinh nào được độ,nên sự thuyết pháp độ sinh mới viên mãn. Vì nếu cứ trên mặt giả tướngmà nhìn, thì thấy chúng sanh nhiều vô cùng vô tận, biết đời nào độ chohết? Nhưng đức Phật ở trong vô tự tánh, trong vô sanh của các pháp mànhìn, nên không còn thấy tướng chúng sanh, lấy đâu có nhiều có ít? Chonên Ngài nói pháp cho một người nghe thì cũng như nói cho nhiều người,vì Ngài đem tâm giác ngộ tâm bình đẳng mà nói pháp. Đứng trên tâm niệmbình đẳng đó, thì dù chỉ có một người nghe, Ngài cũng không phiềnmuộn. Có nhiều người theo, Ngài cũng không hớn hở. Chúng sanh nghe màhoan hỶ phấn khởi, Ngài cũng không lấy đó làm mừng. Nghe mà uể oảinhác nhớm Ngài cũng không bực bội. Nghe mà dửng dưng Ngài cũng khôngchấp trước. Thái độ bình đẳng giải thoát đó của đức Phật đối với bahạng người nghe pháp như thế, gọi là ba niệm đại bi. Nhờ Ngài đã ngộnhất thiết pháp không, an trú trong đại bi tâm niệm đó, nên Ngài mớicó thể nói pháp độ sanh suốt 45 năm, nếu không, việc giáo hóa độ sanhsẽ bị những người biếng nhác giải đãi, người không ưa, làm cho Ngàichán nản.

Tóm lại, ở nhà NhưLai, mặc áo Như Lai và ngồi tòa Như Lai là ba đức tính, ba điều kiệnđể việc đọc tụng, giảng nói kinh Pháp Hoa được rốt ráo viên mãn.

Hòa thượng Thích TríThủ trì tụng kinh Pháp Hoa đã có lời nguyện như sau:

"Một lòng kính lạy Phật đà,

Ngàn đời con nguyện ở nhà Như Lai,

Con nguyền mặc áo Như Lai,

Con ngồi pháp tọa Như Lai muôn đời".

Phật tử chúng ta trìtụng kinh Pháp Hoa cũng nên noi gương Hòa thượng phát nguyện ở nhà NhưLai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, để cho việc đọc tụng biên chépthọ trì kinh Pháp Hoa được viên mãn lợi ích vậy.

CÁC SÁCH KHÁC
•   Nhân Quả Đồng Thời
•   Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng
•   Khái Luận Triết lý Kinh Hoa Nghiêm
•   Câu chuyện Triết học
•   Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học
•   Im lặng hố thẳm
•   Đại Cương Về Luận Câu Xá
•   Thành Duy Thức Luận
•   Đại Trí Độ Luận tập V
•   Đại Trí Độ Luận tập IV
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này