Trong muôn vàn sự cúng dường, có hai sự cúng dường rất đơn sơ, bình dị nhưng đã đi vào lịch sử và được chính đức Phật khẳng định là có nhiều phước báu nhất và đầy kỷ niệm nhất trong cuộc đời của Ngài. Đó là hai sự cúng dường của nàng Tu-xà-đa và người thợ rèn Thuần-đà (Cunda).
Bình bát cơm ngàn nhà
Thân chơi muôn dặm xa.
Mắt xanh nhìn người thế
Mây trắng hỏi đường qua.
Cuộc đời của đức Thế Tôn từ lúc giảtừ cung vàng điện ngọc, danh vọng và quyền uy... của một bậc vương giả đểdấn thân vào chốn rừng thiêng tuyết lãnh, của xứ Ấn trần lao để tầm đạogiải thoát cho muôn loài, cho đến lúc chứng thành Vô thượng Chánh đẳngChánh giác; với ba y một bình bát an nhiên tự tại giải thoát, thuyết pháp cứu khổ độ sanh, đó là một tấm gương xuất trần cao cả và vĩ đại nhất củatoàn nhân loại. Trên bước đường hoằng pháp ấy, đức Thế Tôn đã ứng thân làmphước điền cho cả chư Thiên và loài người. Có những sự cúng dường vi diệubằng những cung điện huy hoàng, tráng lệ với đủ loại hoa trời, nhạc trờicủa chư Thiên. Có những sự cúng dường vĩ đại bằng những tinh xá Trúc Lâm,Kỳ Hoàn... hay những buổi trai tăng hàng ngàn Tỳ-kheo của những vị vuaquan trưởng giả như vua Tần-bà-sa-la, trưởng giả Cấp-cô-độc, tín nữVisakka v.v... Trong muôn vàn sự cúng dường ấy, có hai sự cúng dường rất đơn sơ, bình dị nhưng đã đi vào lịch sử và được chính đức Phật khẳng địnhlà có nhiều phước báu nhất và đầy kỷ niệm nhất trong cuộc đời của Ngài. Đólà hai sự cúng dường của nàng Tu-xà-đa và người thợ rèn Thuần-đà (Cunda).
1. Sự cúng dường củanàng Tu-xà-đa:
Sau khi từ bỏ vương thành Ca-tỳ-la-vệ, từ bỏ những gì cao sang, sung sướng nhất của một bậcĐông cung thái tử, cho đến từ giã người hầu cận Xa-nặc trung thành và ngựaKiền Trắc thân yêu, thái tử Tất-đạt-đa đã thực sự dấn thân vào chốn rừngthiêng u tịch của xứ Ấn trầm hùng, quyết tâm tầm đạo giải thoát cho muônloài. Ban đầu, Ngài học đạo với hai vị đạo sư nổi tiếng nhất đương thời làAlàra Kàlama và Uddaka Ràmaputta. Sau một thời gian ngắn nỗ lực tu tập,Ngài đã chứng đắc được quả vị cao tột của hai vị Đạo sư này là Vô sở hữuxứ định và Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Cảm nhận được những quả chứng này chưa phải là cứu cánh của giải thoát, chưa đoạn tận được tất cả phiềnnão kiết sử để siêu thoát luân hồi, Ngài đã từ giã hai vị Đạo sư này đểtiếp tục lên đường đi tìm con đường đạt đến cứu cánh giải thoát. Từ đây,Ngài thật sự bước vào con đường gian nan nhất. Trải qua sáu năm ròng rã,nhịn ăn bỏ ngủ, thực tập những lối tu khổ hạnh khắc nghiệt, cho đến lúcchỉ còn da bọc xương, không còn sức lực nữa, không bước đi được nữa, Ngàibất tỉnh quỵ ngã ngay trong lúc tu tập. Một người chăn cừu thấy vậy đãdùng sữa mớm vào miệng Ngài, Ngài mới dần dần tỉnh lại. Từ đây, Ngài chợt tỉnh nhận ra rằng: "không thể có một tinh thần minh mẫn trong một thânxác tiều tụy" và Ngài đã rút ra được bài học Trung đạo của người tutập là phải tránh xa hai trạng thái cực đoan: "Hưởng thụ trong đam mêdục lạc và ép xác khổ hạnh cực đoan." Nhưng những giọt sữa dâng cúngtừ người chăn cừu chỉ làm cho Ngài tươi tỉnh, khỏe mạnh đôi phần chứ chưamang lại một tinh thần minh mẫn hay làm cho thân thể Ngài tráng kiện. Tinhthần minh mẫn và thân thể tráng kiện đã thật sự trở lại sau khi Ngài nhận sự cúng dường của nàng Tu-xà-đa.
Nàng Tu-xà-đa là một thiếu phụ sinh trưởng tại làng Senani, một miền sơn cước thuộc dãy Hy-mã-lạp-sơn, gần dãy rừng Ưu-lâu-tần-loa và dòng sông Ni-liên-thiền, nơithái tử Tất-đat-đa đang tu tập khổ hạnh. Chồng nàng là một điền chủ giàunhất làng tên là Senani, nhờ giàu sang, danh vọng, và uy tín nên tên củachồng nàng được dùng để đặt tên làng. Nàng Tu-xà-đa rất đẹp người, có lòngbao dung tốt bụng, đặc biệt tánh tình của nàng "hiền lành như bồ câu vàđức hạnh như thánh nữ", vì thế nàng được chồng mình mến yêu và dânlàng ngưỡng mộ. Cũng như bao người thiếu phụ khác, nàng luôn ước mong cómột người con trai, do vậy ngày đêm nàng thường cầu nguyện dâng lễ và đinhiễu xung quanh tượng đá Lanh-gam (tượng hình tròn và dài tượng trưng cho sự sinh sản) để cầu mong sanh được một hoàng nam. Sau những tháng ngày cầunguyện, cuối cùng nàng cũng đã thụ thai và sinh được một cậu con trai nhưý.
Để tạ ơn các vị thần nơi miền tuyết sơn huyền bí, nàng đã bỏ ra rất nhiều công sức để nấu bìnhĐề-hồ bằng những loại nếp thơm đặc biệt và những tinh chất từ sữa củanhững con bò khỏe mạnh nhất và sắm sữa một khay hoa quả thật đầy để dângcúng. Nàng chọn một ngày đẹp trời, sai thị nữ Radha đội mâm hoa quả vàmang bình Đề-hồ, còn nàng bồng đứa con cùng nhau vào rừng tạ ơn các vịthần linh thiêng cao cả đã ban cho nàng cuộc sống sung sướng, dân làng ấmno và đặc biệt là đứa con trai như lòng mong ước.
Thị nữ Radha đi trước tìm nơi thích hợp để làm lễ, nhìn thấy thái tử Tất-đat-đa đang ngồi kiếtgià bất động dưới cội cây Bồ-đề hùng vĩ với dáng dấp uy nghiêm, từ bi lantỏa, thị nữ Radha giật mình sửng sốt vừa mừng vừa sợ. Nàng vội vã trở lạibáo tin cho nàng Tu-xà-đa rằng thần núi đang hiện ra uy nghiêm dưới cộicây Bồ-đề. Nàng Tu-xà-đa đã cùng với thị nữ vui mừng tiến đến dưới cội câyBồ-đề cúi đầu sát đất, hai tay kính cẩn thành tâm dâng lên hoa quả và bìnhthực phẩm Đề-hồ để cúng dường: "Lạy Ngài cao cả đã ban phước cho chúng con, xin Ngài hãy nhận lễ mọn này tự tay làm lấy với tất cả lòng thànhkính và biết ơn của con."
Bấy giờ đã đúng ngọ, thái tử Tất-đạt-đa yên lặng nhận bình bát Đề-hồ và thọ trai, trong lúcnàng Tu-xà-đa và thị nữ Radha lòng tràn đầy hạnh phúc. Quả là thực phẩmthượng diệu, sau khi thọ trai xong, Ngài cảm giác như mọi sinh lực đã hồiphục, tinh thần đã minh mẫn trở lại: "Ngài nghe trong người tỉnh táo lạthường, sức lực đã trở lại trong Ngài, nguồn sống chạy rần rần trong huyếtquản, Ngài cảm nghe như những đêm quên ngủ, những ngày quên ăn chỉ là mộtgiấc mơ mà bát Đề-hồ đã đuổi tan trong chốc lát. Trí não của Ngài trở nênsáng suốt như gương, nhẹ nhàng như có cánh, mạnh mẽ như Hy-mã-lạp-sơn."
Vẫn không ít người con Phật trong chúng ta thắc mắc rằng: Tại sao nàng Tu-xà-đa cúng dường đứcThế Tôn đơn giản như thế, với tấm lòng bình dị và đơn sơ như thế lại đượcđức Phật dạy rằng đó là một trong những sự cúng dường có công đức lớn nhấtvà nhiều kỷ niệm nhất, trong khi có những đại lễ cúng dường của vuaTần-bà-ta-la, vua A-xà-thế, trưởng giả Cấp Cô Độc v.v... lại không đượcđức Phật khẳng định tính quan trọng cao cả về hạnh cúng dường như nàng?Đọc qua kinh Tạng hay tìm hiểu về các kinh sách, những lời dạy của chưPhật, chư Tổ... chúng ta cũng thầm hiểu rằng, sự cúng dường của nàng Tu-xà-đa hội đủ ba tính chất cao cả nhất: khế thời, khế cơ và khế lý.
Khế thời: Thời điểm mà nàng Tu-xà-đa cúng dường là vô cùng thích hợp và đúng lúc. Sau sáu năm khổhạnh, thân thể của thái tử Tất-đạt-đa vô cùng tiều tụy, đây là lúc tốtnhất để cúng dường thực phẩm cho Ngài và cũng là thời điểm quan trọng màNgài sắp chứng ngộ Vô thượng Bồ-đề. Đây là tính khế thời cao cả nhất.
Khế cơ: Đứng về mặt đốitượng căn cơ. Người nhận cúng ở đây là Bồ-tát Tất-đạt-đa, Ngài đang cần sựminh mẫn của tinh thần cũng như sự tráng kiện của thân thể để chiến đấuvới ma vương phiền não, mang ánh sáng giác ngộ đến cho muôn loài, đây làmột cơ hội quí báu, một phước điền tối thượng để nàng Tu-xà-đa gieo trồngcông đức.
Khế lý: Xét về mặt lý lẽ thường tình của thế nhân thì đây chính là điều cha ông chúng ta thườngnói "một miếng khi đói bằng một gói khi no". Xét về mặt đạo lý xuất thếthì đây là một phước duyên to lớn, một trợ duyên vĩ đại giúp Bồ-tátTất-đạt-đa chứng đắc chân lý tối thượng, đạt đến giác ngộ hoàn toàn.
Một việc làm gì của người con Phật đối với mọi người nên hội đủ ba yếu tố: khế thời, khế cơ vàkhế lý. Nàng Tu-xà-đa với duyên lành tối thượng, vô tình cúng được bátĐề-hồ cho Bồ-tát Tất-đạt-đa đầy ý nghĩa, để rồi tên tuổi cũng như công đứccúng dường của nàng đã được muôn người ở ngàn năm sau còn nhắc mãi.
2 Sự cúng dường củaThuần-đà (Cunda):
Kể từ khi chứng ngộ Vô thượng Bồ-đề, đức Thế Tôn đã trải qua suốt bốn mươi chín năm ròng rã đikhắp nơi trên xứ Ấn bao la, hoằng pháp độ sanh bất quyện. Lúc bấy giờ,Ngài đã tám mươi tuổi, nhận thấy xác thân tứ đại như một cổ xe mục nát vàbiết được nhân duyên hoằng pháp ở cõi Ta-bà sắp viên mãn, Ngài gọi tôn giảAnan lại, bảo Anan thông báo cho các Tỳ-kheo biết trong ba tháng nữa Ngàisẽ nhập Niết-bàn. Trên đường đến thành Câu-thi-na để nhập Niết-bàn, đức Thế Tôn đã nhận sự cúng dường của người thợ rèn Thuần-đà, đây là sự cúng dường cuối cùng của chúng sanh trong cuộc đời của đức Thế Tôn.
Thuần-đà (Cunda) là mộtngười thợ rèn sống gần rừng cây Ta-la, thôn Pava, thuộc thành Câu-thi-na.Một hôm, ông vào thành Câu-thi-na tình cờ gặp đức Thế Tôn và chư Tỳ-kheo,chiêm ngưỡng được tôn nhan từ nghiêm, thanh thoát của Ngài và chư Tăngthanh tịnh, trong khi dân chúng thành Câu-thi-na đặt bát cúng dường với sựhoan hỷ thành kính trang nghiêm. Người thợ rèn Thuần-đà hay tin đức ThếTôn sắp nhập Niết-bàn tại rừng Ta-la gần làng mình. Với thiện tâm phátkhởi, lòng mong ước cúng dường cho đức Thế Tôn lần cuối cùng phát sinh, ông thu hết can đảm đến đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và dâng lên lời cầuthỉnh đầy cảm động: "Bạch Thế Tôn! Ngài sắp nhập Niết-bàn, chúng conthấy buồn đau quá và thưa Ngài chúng con nghèo cùng khốn khổ nhưng duyêngặp Ngài khó được, cúng dường Ngài lại khó hơn nên mong Ngài từ bi nhận lễcúng dường trai phạn nơi con ngày mai để con được những phước lộc ở kiếpvị lai. Ngưỡng mong Ngài xót thương nhận lãnh. Cúng phẩm của con tuy kém mọn nhưng cũng sẽ dâng lên Ngài và chư Tăng được dùng đầy đủ." Đức ThếTôn im lặng nhận lời, Thuần-đà vô cùng mừng rỡ vội vàng trở về báo tin chogia đình sửa soạn thực phẩm để cúng dường đức Phật và chư Tăng, đích thânông vào rừng tìm hái những loại nấm quý, nấm hương để dâng cúng đức Phật.Cả buổi chiều và tối hôm đó gia đình ông phải làm việc suốt không nghỉ,với lòng chí thành lo sửa soạn thức ăn để cúng dường, tạo phước. Sau mộtđêm trú tại thành Câu-thi-na, đức Thế Tôn cùng đại chúng tiếp tục cuộchành trình đến rừng Ta-la và đến nhà người thợ rèn Thuần-đà đúng ngọ. Mọi thức ăn trai tịnh đã được dâng sẵn, đức Thế Tôn cùng chư Tỳ-kheo bắt đầu thọ trai. Trong lúc đại chúng đang thọ trai, Thuần-đà dâng lên đức Phậtmột bát nấm hương mùi thơm ngào ngạt. Khi dùng qua bát nấm này, đức Phậtbảo: "Bát nấm này độc, các người hãy đổ đi không nên ăn." Thuần-đà nghe đức Phật dạy, kinh hãi nghĩ rằng, tất cả tâm thành kính của mình,phước báu to lớn được cúng dường đức Phật sẽ không còn mà thêm tội nữa,ông than khóc té xỉu trên đất. Đức Phật gọi Thuần-đà đến bên Ngài và dạy: "Người không nên than khóc cũng đừng nên hối hận, phải vui sướng lên vìngười đã được cúng dường bữa cơm cuối cùng cho ta. Có hai bữa ăn đáng kỷniệm nhất, và có nhiều phước báu nhất, đó là lần đầu tiên của nàngTu-xà-đa cúng dường cho ta trước khi thành đạo và bữa cơm này, trước khita vào Niết-bàn".
Nghe đức Phật dạy như thế, Thuần-đà và cả gia quyến hoan hỷ vô cùng, cúi đầu đảnh lễ đưa tiễnđức Phật và chư Tăng với tâm thành kính nhất.
Và cũng tại rừng Ta-la,đức Phật bảo Anan và đại chúng: "Có hai vật thực cúng dường đến Như Laimà phước báo bằng nhau, có quả bằng nhau và phước báu lớn hơn tất cả. Đólà vật thực cúng dường đến Bồ-tát ngay trước khi Người chứng đạo quả Vôthượng Chánh đẳng Chánh giác và vật thực cúng dường đến bậc Giác Ngộ trước khi Người nhập Niết-bàn. Hai vật thực ấy đem lại phước báu bằng nhau, quảbằng nhau và vô cùng quý báu hơn tất cả các sự cúng dường khác. Do thiệnnghiệp này mà người phát tâm tịnh tín cúng dường sẽ được phước báu. Saukhi mất sẽ được tái sinh vào các cõi trời, vào cảnh giới vua chúa, quyềnquý cao sang, được nhiều may mắn và danh vọng".
Nếu như sự thắc mắc về vấn đề cúng dường của nàng Tu-xà-đa đã được giải đáp thỏa đáng, thì ở đâysự thắc mắc về vấn đề cúng dường vẫn còn tiềm ẩn rất nhiều trong lòngngười con Phật: Tại sao Thuần-đà, một người nghèo khổ, cúng dường bữa cơmđơn sơ, lại có nấm độc gây tai hại cho đức Thế Tôn, thì lẽ ra ông chỉ đượcphước báu rất ít nếu không muốn nói là không có phước báu, đằng này lạiđược đức Thế Tôn khen ngợi là có phước báu to lớn như thế?
Xét về vấn đề tội, phước thì đức Phật có dạy: "tội từ tâm khởi..." nghĩa là tội lỗi từ nơitâm mà sinh, thì phước báo cũng do tâm mà tạo. Ở đây, tâm của Thuần-đà rấttốt, rất chí thành thì tất nhiên là phải có phước báo lớn. Đứng về phươngdiện thường tình của thế nhân, chúng ta thường chấp có sống, chết; nhưngđối với một bậc Như Lai thì vấn đề sống chết không còn được đề cập đếnnữa, cho dù các Ngài đã nhập Niết-bàn, nhưng các Ngài vẫn có những "ứnghóa thân" để hóa độ vô lượng chúng sanh. Dùng con mắt phàm phu chưa hiểuvề Phật pháp thì ta cho rằng Thuần-đà là người có tội, do đức Phật ăn bát cháo ấy mà nhập Niết-bàn. Nhưng, với người đã học qua về Phật pháp thì sẽhiểu được rằng thân hiện tại của đức Thế Tôn là thân "hữu dư y Niết-bàn",nên Ngài vẫn còn chịu sự vô thường chi phối, vẫn còn sự già, bệnh... khiNgài thọ bát nấm của Thuần-đà, thì bát nấm này quả là một nhân duyên lớnđể Ngài đạt đến trạng thái "vô dư y Niết-bàn". Nghĩa là đạt đến cảnh giớiNiết-bàn cao tột nhất, an lạc nhất, không còn bị chi phối bởi già, bệnh,chết... đây là điều kiện chính để đức Phật khẳng định Thuần-đà có phướcbáu vô cùng lớn.
Đứng về phương diện thời gian (khế thời) thì nàng Tu-xà-đa và Thuần-đà cúng dường ở hai thờigian hy hữu nhất mà muôn triệu người con Phật không ai có được may mắn ấy.Đứng về phương diện đối cơ (khế cơ) thì đối tượng mà nàng Tu-xà-đa cúngdường là Bồ-tát Tất-đạt-đa, vì lúc này Ngài chưa thành Phật. Còn đối tượngmà Thuần-đà cúng dường là một đức Phật, một bậc đã đạt đến "hữu dư yNiết-bàn" và sắp đạt đến cảnh giới "vô dư y Niết-bàn". Ở phương diện này,ta thấy phước báu của Thuần-đà nhiều hơn của nàng Tu-xà-đa, như kinh Tứ Thập Nhị Chương, đức Phật dạy: "Cho một trăm kẻ ác ăn không bằng cho một người thiện ăn, cho một ngàn người thiện ăn không bằng cho một ngườithọ ngũ giới ăn... cúng dường cho một trăm vị Bích Chi Phật không bằngcúng dường cho một đức Phật ba đời...".
Đứng trên phương diện chân lý (khế lý) thì cả hai sự cúng dường đều hợp chân lý, đó là nhữngnhân duyên phước đức vô lượng vì ủng hộ một Bậc xuất trần đi từ địa vịphàm phu tiến dần đến quả vị cao tột nhất, chứng đắc cảnh giới Niết-bànrốt ráo nhất.
Thời gian như dòng nướclặng lẽ trôi, nó xóa mờ và cuốn trôi muôn vật vào dĩ vãng, xô vùi chôn lấpmọi sự việc dưới lớp sóng bạc của đại dương mù khơi. Hai sự cúng dường củanàng Tu-xà-đa và người thợ rèn Thuần-đà dù cách thời đại của chúng ta gầnba thiên niên kỉ nhưng cơn sóng thời gian vẫn không vùi lấp được, mà ngượclại, những phẩm hạnh cúng dường ấy, công đức to lớn ấy đã được các kinhsách ghi chép lại, lưu truyền vô tận theo dòng lịch sử. Và đây cũng chính là hai tấm gương cúng dường bất diệt để hàng Phật tử chúng ta noi theo đểgieo trồng cội phúc, xây dựng phước báu cho chính mình, cho những ngườithân mình và cho muôn vạn chúng sanh.
Thích Trí Lộc (Nguồn: daophatngaynay)