|
ÔN THI MÔN TRIẾT MÁC
(19/12/2012 – Hoa Thiện)
1.Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
3.Quy luật phủ định của phủ định.
4. Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.
5. Hai thuộc tính của hàng hóa và nguồn gốc của chúng.
Câu 1: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
TL:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
*Khái niệm về nhận xét về mối liên hệ phổ biến:
Mối liên hệ phổ biến là phạm trù triết học dùng để chỉ sự qui định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt của một sựu vật hiện tượng trong thế giới
Nhận xét:
-Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật và hiện tượng.
-Qua sự vận động, sự tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của bản thân chúng, chúng sẽ tồn tại và bộc lộ bản chất của chúng. Về vấn đề này ta có cặp phạm trù là hiện tượng và bản chất, qua nhiều hiện tượng thì bản chất sẽ được bộc lộ ra.
-Bản chất sẽ được bộc lộ qua nhiều hiện tượng. Có thể đánh giá bản chất của một con người cụ thể thông qua mối liên hệ, sự tác động của con người đó đối với người khác, đối với xã hội, tự nhiên, thông qua hoạt động của chính người ấy.
*Các tính chất của mối liên hệ phổ biến:
Tính khách quan:
-Mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là vốn có, nằm ngoài ý muốn của con người.
Ví dụ trong lĩnh vực kinh tế xã hội cấm dân nhập cư như thế là sai lầm, vì khó khăn nên người ta đổ vào trung tâm TP dễ kiếm sống hơn.
Con người luôn bị tác động bởi các sự vật, đối tượng trong xã hội (giữa cá nhân với tập thể, với xã hội) và bởi các đòi hỏi từ bản thân mình.
Vấn đề là con người phải hiểu biết các mối liên hệ, giải quyết chúng, vận dụng chúng vào hoạt động của mình nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của xã hội và của bản thân mình một cách đúng đắn.
Tính phổ biến của các mối liên hệ:
-Mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng là đa dạng, được thể hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo những điều kiện nhất định.
Ví dụ VN chuyển sang kinh tế thị trường, rồi ta thiết lập mối quan hệ với các nước, ta vẫn còn nhiều cái bỡ ngở
Tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển của bản thân sự vật và hiện tượng đã qui định tính đa dạng của mối liên hệ.
-Mối liên hệ chung và mối quan hệ riêng.
-Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài.
Ví dụ vốn bên trong quan trọng nhưng vốn bên ngoài quyết định.
-Mối liên hệ bên trong giữ vai trò quyết định, còn mối liên hệ bên ngoài giữ vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật.
-Ngoài ra, những dạng khác: mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên, mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp.
*Ý nghĩa phương pháp luận:
-Tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ cho thấy hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện.
-Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ cho thấy hoạt động nhận thức và thực tiễn bên cạnh quan điểm toàn diện còn cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử-cụ thể./.
Câu 2: Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
TL: XL
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập:
VI. Lê-nin viết “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập”.
+Khái niệm:
Mặt đối lập là những đặc điểm, thuộc tính, khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Sự thống nhất của các mặt đối lập của sự vật là sự tồn tại của chúng mà không tách rời nhau do chúng là những bộ phận trong tập thể không thể không thống nhất, làm tiền đề cho nhau.
Thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tư nhân, đó là 2 thành phần kinh tế, như vậy đối lập với nhau nhưng thống nhất với nhau tạo ra của cải tạo ra việc làm ổn định xã hội vì cả hai là bộ phận trong tổng thể.
+Nhận xét:
-Các mặt đối lập chứa đựng trong hay giữa các sự vật, hiện tượng, luôn liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành sự thống nhất biện chứng.
Ví dụ: trong thành phần kinh tế tư nhân cũng có đối lập nhau, và trong thành phần kinh tế nhà nước cũng có đối lập nhau.
-Các mặt đối lập ấy không chỉ thống nhất, mà còn luôn đấu tranh với nhau và phủ định lẫn nhau. Theo VI. Lê-nin, thống nhất là tương đối, đấu tranh là tuyệt đối.
-Quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyể hóa giữa chúng.
-Theo quan điểm biện chứng, mâu thuẫn là sự đấu tranh, thống nhất và chuyển hóa giữa các mặt đối lập, các sự vật vừa là nó vừa là cái khác do nó luôn thay đổi.
-Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng khác nhau tạo thành mâu thuẫn, qui định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật.
Do vậy, có thể nói các sự vật vừa là nó nhưng lại vừa là cái khác.
-Khi các mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và khi điều kiện đã chín muồi thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn sẽ được giải quyết.
-Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành và quá trình đấu tranh, thống nhất và chuyển hóa giữa hai mặt đối lập lại tiếp diễn làm cho sự vật luôn vận động và phát triển.
Khi CMXHCN hoàn thành thì có những mặt đối lập nào nhờ vậy nền sản xuất XHCN tiếp tục được
Cơ sở: chế độ công hữu, sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của Đảng, nền kinh tế nhà nước, muốn nền kinh tế XHCN phát triển thì phải tìm ra sự mâu thuẫn và đối lập thì nền kinh tế mới phát triển.
Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải phát hiện mâu thuẫn, không sợ mâu thuẫn.
Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú nên khi nhận thức (phân loại, đánh giá) và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử, cụ thể./.
Câu 3: Qui luật phủ định của phủ định.
TL:
Qui luật phủ định của phủ định:
*Khái niệm:
Sự phủ định là sự thay thế hình thái tồn tại của một sự vật bằng hình thái tồn tại khác trong quá trình vận động và phát triển của nó.
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định dẫn tới sự phát triển - sự ra đời cái mới, tiến bộ hơn cái cũ.
+ Phủ định biện chứng có hai đặc điểm cơ bản là tính khách quan và tính kế thừa.
Tính khách quan: nguyên nhân của sự phủ định nằm trong chính bản thân sự vật – phủ định tự thân; nó là quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật.
Tính kế thừa có phê phán: kế thừa những nhân tố hợp qui luật và loại bỏ những nhân tố trái qui luật.
Phủ định biện chứng không phải là phá bỏ cái cũ – không phải là phủ định sạch trơn mà trái lại cái mới ra đời từ những hạt nhân hợp lý của cái cũ, tạo nên tính liên tục của sự phát triển.
* Nội dung của qui luật.
Qui luật phủ định của phủ định phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa cái phủ định và cái khẳng định, phản ánh xu hướng phát triển tất yếu của sự vật, từ trình độ thấp đến trình độ cao.
VI. Lê-nin: “Sự phát triển dường như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn, theo đường xoáy ốc (tính kế thừa, tính chu kỳ) chứ không theo đường thẳng”.
*Ý nghĩa phương pháp luận.
Qui luật phủ định của phủ định là cơ sở để chúng ta nhận thức một cách đúng đắn về xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Quá trình đó không diễn ra theo đường thẳng mà theo con đường quanh co, phức tạp; nhưng xu hướng tất yếu là sự phát triển của cái mới tiến bộ.
Trong đời sống xã hội, cái mới tiến bộ ra đời còn do nhân tố chủ quan – ý thức tự giác, sáng tạo của con người. Vì vậy, cần phát huy tính tích cực của nhân tố chủ quan.
Câu 4: Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.
TL:
Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.
* Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất.
Tư liệu sản xuất và lực lượng lao động trong cùng một nền sản xuất xã hội được cấu thành lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất, bao gồm các yếu tố vật chất và con người trong sản xuất, là nội dung vật chất của nền sản xuất xã hội, biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất.
Để tiến hành sản xuất con người không chỉ tác động đến tự nhiên mà còn quan hệ, tác động lẫn nhau, tức là cần phải có quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và phân phối của cải vật chất. Quan hệ sản xuất được xem là điều kiện xã hội của sản xuất.
Nếu lực lượng sản xuất là nội dung vật chất thì quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nền sản xuất.
Phương thức sản xuất:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt không thể tách rời của mọi nền sản xuất xã hội và được hợp nhất thành phương thức sản xuất, tức là phương thức kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất.
Phương thức sản xuấtlà những cách thức mà con ngườisử dụng để tiến hành quá trình sản xuất của xã hội.
* Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng.
Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng bởi vì các thành phần của nó luôn tương ứng và tương tác với nhau, trong đó lực lượng lao động là thành phần quyết định.
Người lao động luôn tìm cách sáng chế cải tiến những công cụ lao động, giúp giảm nhẹ sự nặng nhọc trong lao động, làm cho năng suất lao động tăng lên cũng như cải biến các đối tượng lao động. Qua đó, họ sẽ tích lũy được kinh nghiệm, hiểu biết và lại tiếp tục công việc ấy với trình độ cao hơn. Từ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển.
Khi các nhà khoa học - kỹ thuật cũng tham gia vào quá trình ấy thì lực lượng sản xuất sẽ được phát triển nhanh chóng.
K. Marx nói rằng ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Khoa học thể hiện ra là lao động khoa học cũng là một bộ phận của lực lượng lao động, trước kia nó là lực lượng sản xuất gián tiếp. Kỹ thuật, công nghệ cũng chỉ là kết quả của lực lượng sản xuất mà thôi.
Lực lượng sản xuất không ngừng phát triển làm cho quan hệ sản xuất và phương thức sản xuất phải chuyển đổi.
*Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuấtvà quan hệ sản xuất.
Lực lượng sản xuất luôn có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất, bởi vì nội dung quyết định hình thức. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi theo.
Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật do K. Marx tìm ra, giúp giải thích sự chuyển đổi của các phương thức sản xuất.
Không nên lựa chọn quan hệ sản xuất một cách chủ quan, mà phải tùy thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất.
Mặt khác, quan hệ sản xuất cũng tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, nó có thể thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất nếu nó phù hợp hay không phù hợp với lực lượng sản xuất và nhất là nó đảm bảo hay không đảm bảo sự hài hòa về lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế./.
Câu 5: Hai thuộc tính của hàng hóa và nguồn gốc của chúng.
TL:
Hai thuộc tính của hàng hóa và nguồn gốc của chúng:
*Giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng của một vật phẩm hay dịch vụ là khả năng thỏa mãn nhu cầu con người, là tính có ích hay công dụng của nó.
Giá trị sử dụng ngày càng được tìm tòi, được phát hiện do sự phát triển của sản xuất và đời sống, cũng như của khoa học - kỹ thuật.
Giá trị sử dụng phổ biến giúp thỏa mãn nhu cầu con người, nên là thuộc tính tự nhiên, mang tính phổ biến khách quan của bất cứ một vật phẩm nào, dù nó có là hàng hóa hay không.
Giá trị sử dụng của hàng hóa không phải là dành cho người sản xuất ra nó mà
là dành cho người mua nó. Do vậy, nó tùy thuộc vào sự đánh giá của người mua, tùy theo nhu cầu, thị hiếu, quan niệm của họ.
*Giá trị trao đổi:
Giá trị trao đổi của một hàng hóa là khả năng trao đổi của hàng hóa ấy với một hàng hóa khác, được thể hiện qua tỷ lệ trao đổi giữa chúng với nhau.
Ví dụ: Giá trị trao đổi của vải so với gạo là: 1 m vải tương đương 10 kg gạo.
Vải và gạo là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau, nhưng được trao đổi với nhau vì chúng thuộc hai chủ sở hữu khác nhau, cần đến sản phẩm của nhau và chỉ cần điều chỉnh tỷ lệ hợp lý là có thể đi đến thống nhất trao đổi.
Theo Marx, chúng được trao đổi với nhau vì chúng đều là sản phẩm của lao động và đều kết tinh một lượng lao động hao phí như nhau, tức là lượng lao động hao phí để làm ra 1 m vải tương đương với lượng lao động hao phí để làm ra 10 kg gạo.
K. Marx đã xây dựng khái niệm giá trị: Cái kết tinh của lao động vào trong hàng hóa, được gọi là giá trị của nó.
Như vậy, giá trị là cơ sở, là nội dung bên trong của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị.
Đây là thuộc tính đặc trưng của hàng hóa, bởi vì một vật phẩm là hàng hóa phải được dùng để trao đổi, phải so sánh với hàng hóa khác.
*Quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá.
- Chúng thống nhất với nhau: giá trị sử dụng cũng là một căn cứ của giá trị trao đổi, giá trị trao đổi là cái phản ánh gián tiếp của giá trị sử dụng.
- Đây là mối quan hệ giữa mặt chất và mặt lượng của hàng hóa.
Giá trị sử dụng nói lên mặt chất của hàng hoá, bởi vì nó giúp phân biệt các loại hàng hóa với nhau.
Giá trị trao đổi cho thấy mặt lượng của hàng hóa, bởi vì nó phản ánh chi phí lao động để sản xuất ra hàng hóa và còn là tỷ lệ trao đổi những lượng hàng hóa với nhau.
- Chúng cũng có mâu thuẫn với nhau.
Chúng là mục đích của đôi bên, mà đôi khi không đạt được.
Thực hiện giá trị và giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về không gian và về thời gian./.
Phần của Giảng Viên Soạn.
Gồm 4 câu
Câu 1: Trình bày hai thuộc tính của hàng hóa và làm rõ mối quan hệ giữa chúng. Phân tích nguồn gốc của hai thuộc tính hàng hóa. Cho ví dụ minh họa.
1- Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá.
Hàng hóa là một vật phẩm hay dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và được trao đổi với hàng hóa khác.
Từ định nghĩa trên, có thể thấy được hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.
a/ Giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng của vật phẩm là khả năng có thể thỏa mãn nhu cầu con người, là tính có ích hay công dụng của nó.
Đặc điểm của giá trị sử dụng:
. Giá trị sử dụng ngày càng được tìm tòi, phát hiện do sự phát triển của sản xuất và đời sống cũng như do khoa học kỹ thuật. Với ý nghĩa này, giá trị sử dụng có nhiều loại và được xem là có tính lịch sử cụ thể.
. Giá trị sử dụng cơ bản giúp thỏa mãn nhu cầu con người, nên là thuộc tính tự nhiên của bất cứ một vật phẩm nào, dù vật phẩm đó có là hàng hóa hay không, tức là không kể hình thức xã hội của nó là như thế nào. Với ý nghĩa này, giá trị sử dụng được xem là một phạm trù vĩnh viễn.
. Giá trị sử dụng của hàng hóa không phải dành cho người sản xuất ra nó mà là dành cho người mua nó. Do vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa tùy thuộc vào sự đánh giá của người mua, tùy theo nhu cầu, thị hiếu của họ. Sự đánh giá này vừa mang tính phổ biến khách quan, vừa mang tính đặc thù chủ quan.
. Giá trị sử dụng nói lên mặt chất của hàng hoá, bởi vì nó giúp phân biệt các loại hàng hóa khác nhau.
b/ Giá trị trao đổi và giá trị.
Giá trị trao đổi của một hàng hóa là khả năng trao đổi của nó, thể hiện qua tỷ lệ trao đổi giữa hàng hóa đó với một hàng hóa khác.
Ví dụ: Giá trị trao đổi của vải so với gạo là: 1 m vải ó10 kg gạo.
Vải và gạo là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau, nhưng được trao đổi với nhau vì chúng thuộc hai chủ sở hữu khác nhau, cần đến sản phẩm của nhau và chỉ cần điều chỉnh tỷ lệ hợp lý là có thể đi đến thống nhất trao đổi.
Theo K. Marx, chúng được trao đổi với nhau vì chúng đều là sản phẩm của lao động và đều kết tinh một lượng lao động hao phí như nhau, tức là lượng lao động hao phí để làm ra 1 m vải bằng với lượng lao động hao phí để làm ra 10 kg gạo.
K. Marx đã xây dựng khái niệm giá trị: Cái kết tinh của lao động vào trong hàng hóa (được xã hội thừa nhận), được gọi là giá trị của hàng hóa.
Giá trị là cơ sở, là nội dung bên trong của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị.
Đặc điểm của giá trị:
- Giá trị trao đổi hay giá trị là thuộc tính đặc trưng của hàng hóa, bởi vì một vật phẩm là hàng hóa phải được dùng để trao đổi, phải so sánh với hàng hóa khác.
- Giá trị trao đổi hay giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa, bởi vì nó biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa.
- Giá trị trao đổi cho thấy mặt lượng của hàng hóa, bởi vì nó là tỷ lệ các lượng hàng hóa, phản ánh chi phí lao động để sản xuất ra hàng hóa. Nhờ giá trị trao đổi thích hợp mà có thể so sánh các hàng hóa khác nhau và bù lại sự khác biệt về giá trị sử dụng của chúng.
- Giá trị trao đổi hay giá trị chỉ được xét đến trong điều kiện kinh tế hàng hóa, do vậy nó được xem là một phạm trù lịch sử.
c/ Quan hệ giữa các thuộc tính của hàng hoá.
- Đây là mối quan hệ giữa mặt chất và mặt lượng của hàng hóa.
- Sự thống nhất và mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị.
Đây là là hai thuộc tính đồng thời tồn tại và thống nhất trong một hàng hóa. Giá trị sử dụng cũng là một căn cứ của giá trị trao đổi, giá trị trao đổi là cái phản ánh của giá trị sử dụng.
Nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập, bởi vì:
. Chúng là mục đích của đôi bên, nhưng đôi khi không đạt được. Mục đích của người sản xuất là giá trị chứ không phải là giá trị sử dụng. Nếu họ có quan tâm đến giá trị sử dụng cũng chỉ nhằm đạt mục đích giá trị mà thôi. Ngược lại, người mua lại chỉ cần giá trị sử dụng của hàng hóa, nhưng muốn vậy thì trước hết phải thực hiện giá trị mới chi phối được giá trị sử dụng.
. Thực hiện giá trị và giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về không gian và về thời gian. Nói chung, quá trình thực hiện giá trị được tiến hành trước, trên thị trường; còn quá trình thực hiện giá trị sử dụng được tiến hành sau, vào lúc tiêu dùng.
2. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.
Theo Karl Marx, sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị, vì lao động sản xuất ra hàng hóa có tính chất hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
Lao động cụ thể là lao động theo chuyên môn nghề nghiệp nhất định, có mục đích, đối tượng cụ thể, với công cụ lao động riêng và kết quả là tạo ra các giá trị sử dụng của hàng hóa.
Lao động cụ thể có thể được xem là cơ sở của sự phân công lao động xã hội.
Lao động trừu tượng là lao động được hiểu theo nghĩa chung nhất, là sự hao phí sức lực một cách phổ biến, khách quan không kể đến công việc cụ thể của nó như thế nào và kết quả là tạo ra giá trị của hàng hóa.
Chỉ có lao động sản xuất hàng hóa mới có tính chất trừu tượng, bởi vì trong điều kiện đó các loại lao động cụ thể khác nhau mới được so sánh với nhau.
Lao động trừu tượng được biểu hiện ra là lao động cá biệt và lao động xã hội. Lao động xã hội có thể được phân biệt thành lao động ngành và lao động xã hội cần thiết.
1. Tích lũy tư bản, tích tụ tư bản và tập trung tư bản.
Câu 2: Phân tích thực chất và động cơ của tích lũy tư bản. Trình bày mối quan hệ và sự khác nhau giữa tích lũy tư bản và tập trung tư bản. Vai trò của tập trung tư bản trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
1- Khái niệm và nhận xét về tích lũy tư bản.
a/ Khái niệm về tích lũy tư bản:
Tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư, tái đầu tư, tức là chuyển một phần giá trị thặng dư thành tư bản bổ sung.
Để thực hiện tích lũy, nhà tư bản không sử dụng hết giá trị thặng dư cho tiêu dùng cá nhân mà phải chuyển một phần thành tư bản bổ sung.
Ví dụ :
+ Năm 2006, kết quả sản xuất (doanh thu) là: 70 (C) + 30 (V) + 60 (M) = 160 triệu USD
+ Năm 2009, nhà tư bản thực hiện tích lũy 50% (M), tức là chuyển 30 triệu USD thành tư bản phụ thêm và đưa vào sản xuất với C/V và m’ không đổi thì quy mô sản xuất với C, V, M đều tăng lên là : 91 (C) + 39 (V) + 78 (M) = 208 triệu USD
b/ Nhận xét về tích lũy tư bản:
- Điều kiện của tích lũy tư bản là khối lượng giá trị thặng dư.
- Giá trị thặng dư tư bản hoá trở thành phương tiện để đạt mục đích là giá trị thặng dư mới.
- Tích lũy tư bản là tất yếu khách quan, mà động cơ thúc đẩy là quy luật giá trị thặng dư.
- Tích lũy tư bản là một điều kiện hay khả năng của tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa.
2- Các nhân tố làm tăng quy mô tích lũy.
Quy mô tích lũy tư bản tùy thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư và tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư cho tích lũy và cho tiêu dùng. Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia cho tích lũy và tiêu dùng của nhà tư bản. Nếu tỷ lệ phân chia đó cố định thì quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào các nhân tố làm tăng khối lượng giá trị thặng dư, đó là:
- Tăng cường độ lao động, độ dài ngày lao động, tăng ca sản xuất: m tuyệt đối.
- Tăng năng suất lao động: m tương đối và m siêu ngạch.
- Quy mô tư bản đầu tư, khả năng và hiệu quả của tập trung tư bản.
- Sử dụng tư bản tiềm tàng: sử dụng quỹ khấu hao (do sự chênh lệch giữa tư bản cố định sử dụng và tư bản cố định tiêu dùng) như là một khoản tư bản phụ thêm.
+ Kết quả của quá trình tích lũy tư bản chủ nghĩa:
- Về mặt kinh tế: Quá trình tích lũy tư bản làm cho qui mô tư bản và cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên, tạo điều kiện để thực hiện tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng cũng như theo chiều sâu.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản là tỷ lệ tương ứng giữa tư bản bất biến với tư bản khả biến dựa trên cơ sở tỷ lệ tương ứng giữa tư liệu sản xuất với sức lao động. Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị và do cấu tạo kỹ thuật quy định.
C/V tăng lên bởi vì C tăng nhanh hơn V, nhất là ở những ngành công nghiệp nặng. Về thực chất, nhà tư bản chú trọng tăng cường cho C là để tăng tích trữ tài sản cho mình.
- Về mặt xã hội: Sự gia tăng cấu tạo hữu cơ còn là một nguyên nhân của nạn thất nghiệp - nạn nhân khẩu thừa tương đối và sự bần cùng hoá giai cấp công nhân.
Vai trò của tập trung tư bản trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản:
Tập trung tư bản có vai trò quan trọng, nếu không có nó thì chủ nghĩa tư bản không thể xây dựng nên những công trình to lớn như đường sắt, bến cảng, sân bay...; nhà tư bản mới có thể thực hiện được những hợp đồng lớn. Tuy nhiên, tập trung tư bản có thể được thực hiện một cách tùy tiện, bất chấp hiệu quả gây lãng phí và khủng hoảng kinh tế.
Đối với nền kinh tế nước ta hiện nay – nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung tư bản được gọi là tập trung vốn cũng có những ý nghĩa như vậy nhưng những mặt tiêu cực sẽ được giảm thiểu và những mặt tích cực sẽ được phát huy dựa trên cơ sở của nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, tập trung vốn giúp tăng qui mô vốn mà không thực hiện tích lũy vốn trong tình hình kinh tế còn khó khăn, nhờ vậy mà có thể đảm bảo thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
2. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
Câu 3:Trình bày khái niệm, phân tích nguyên nhân xuất hiện và hình thức biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
1- Bản chất và nguyên nhân xuất hiện:
a/ Bản chất:
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là hệ thống những chính sách, hình thức mà Nhà nước tư bản sử dụng để quản lý, điều tiết nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và để đáp ứng lợi ích của các tổ chức tư bản độc quyền, nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước được thể hiện ở các điểm sau:
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước chính là một hình thức mới của sự vận động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Đây không phải là một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản mà chỉ là mức độ cao của giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền.
b/ Nguyên nhân xuất hiện chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:
- Do nền sản xuất ngày càng xã hội hóa cao, đòi hỏi phải có sự điều tiết xã hội đối với nền kinh tế.
Sự xã hội hóa cao của sản xuất do quá trình tập trung, chuyên môn hóa nền sản xuất xã hội cùng với những thành tựu mới của tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển không đồng bộ, cơ cấu kinh tế thay đổi không hợp lý. Trong điều kiện đó, đòi hỏi phải có sự điều tiết của Nhà nước đối với các quá trình kinh tế, nhằm ổn định và phát triển kinh tế.
- Sự thống trị của các tổ chức độc quyền làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ngày càng sâu sắc, mâu thuẫn xã hội gay gắt... đã đòi hỏi Nhà nước tư bản phải can thiệp vào nền kinh tế, nhằm đáp ứng lợi ích của các tổ chức độc quyền cũng như lợi ích của xã hội.
Nhà nước tư bản có thể phải giới hạn sự tự do hoạt động của tư bản độc quyền, để làm mềm hóa những mâu thuẫn và hạn chế các hậu quả tiêu cực do sự thống trị của độc quyền sinh ra, nhằm bảo vệ và phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
- Xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế và sự bành trướng của các công ty độc quyền quốc tế làm tăng mâu thuẫn về lợi ích giữa các nước tư bản phát triển với nhau và với các nước đang phát triển. Điều này đòi hỏi Nhà nước tư bản cần có chính sách kinh tế đối ngoại thích hợp.
Như vậy, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước nảy sinh như một tất yếu kinh tế, phần nào đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa xã hội hóa cao độ trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhưng vẫn không giải quyết được những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản.
2- Những hình thức biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:
a/ Sở hữu và tài chính nhà nước được sử dụng như là một công cụ kinh tế trực tiếp:
Sở hữu nhà nước được hình thành từ ngân sách nhà nước, bằng cách phát hành trái phiếu,… Sở hữu nhà nước được sử dụng để đầu tư phát triển các ngành ít lợi nhuận, cần vốn lớn như xây dựng cơ sở hạ tầng, để nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật mà kết quả không chắc chắn, để mua lại những xí nghiệp tư bản bị phá sản, để trợ cấp xã hội,…
b/ Sự điều chỉnh và kiểm soát của Nhà nước tư bản đối với nền kinh tế thông qua việc sử dụng các công cụ kinh tế bao gồm hệ thống chính sách, hệ thống pháp luật và các công cụ kinh tế khác.
Các công cụ kinh tế rất đa dạng, thường được sử dụng cho nhiều chính sách kinh tế khác nhau và có thể phân biệt làm hai loại qua tác dụng của chúng là công cụ kích thích và công cụ điều tiết kinh tế.
c/ Sự kết hợp cá nhân giữa tổ chức độc quyền và Nhà nước tư bản:
Hội chủ xí nghiệp có mối quan hệ gắn bó với các đảng phái chính trị của giai cấp tư sản; cung cấp kinh phí cho các đảng phái và quyết định không chỉ số lượng mà cả thành phần nhân sự ứng cử vào Nghị viện và sau đó còn tham gia vào việc thành lập Chính phủ. Từ đó, các đại biểu của các tổ chức độc quyền tham gia vào bộ máy nhà nước với những cương vị khác nhau. Nhờ vậy, những quyết định, chính sách có lợi cho tư bản độc quyền sẽ được ban hành.
Ngoài ra, các quan chức và nhân viên chính phủ cũng tìm cách thâm nhập vào các ban quản trị của các tổ chức độc quyền, nắm giữ những vai trò trọng yếu.
3. Vấn đề dân tộc trong tiến trình xây dựng CNXH
- Nội dung cương lĩnh dân tộc của CNM-L
Liên hệ: Tình hình, đặc điểm dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay.
Câu 4:Chính sách DT của Đảng và Nhà nước ta hiện nay dựa trên những nguyên tắc cơ bản nào của chủ nghĩa M-L về vấn đề DT ?
Dựa trên những nguyên tắc cơ bản của CN M-L (được thể hiện trong cương lĩnh DT của Lê nin).
+ Các DT hoàn toàn bình đẳng
+ Các DT có quyền tự quyết
+ Liên hiệp CN các DT lại./.
|