|
Bài có tính chất tham khảo, Quý thầy cô xem và làm thêm ý của mình, chúc Quý thầy cô thi tốt.
MÔN THẨM MỸ HỌC
1. Phân biệt khái niệm thẩm mĩ và cái đẹp
- Cái đẹp: Cái đẹp là cái có hình thức, hoặc phẩm chất đem lại sự hứng thú đặc biệt, đem lại sự rung động khi chúng ta chiêm ngưỡng nó.
Như vậy cái đẹp là cái chúng ta có khoái cảm với nó:
+ Đầu tiên là những cái có tính vật chật tác động vào các giác quan con người: một bông hoa đẹp, một tiếng sáo hay, một mùi hương thơm, một món ăn ngon, một chiếc khăn mềm mại... Các vật mà chúng ta cảm thấy vừa ý, khoái thích, cho tinh thần chúng ta một cảm giác hưng phấn thăng hoa đều là cái đẹp.
+Sau đó là những ý tưởng, tư tưởng, tinh thần, tình cảm,... làm rúng động tâm hồn tình cảm sâu sắc: một lý tưởng hay, một bài thơ hay, một truyện hấp dẫn...
+ Cái đẹp trước hết là cái cao cả, cái thiêng liêng, rồi đến cái bi thương hài hước...
Tóm lại cái đẹp là tất cả các đối tượng của những rung động thẩm mỹ trong tâm hồn con người. Rung động thẩm mỹ chỉ có ở tâm hồn con người mà thôi.
- Thẩm mĩ: Thẩm mĩ là sự cảm nhận, cảm thụ, sự hiểu biết của con người về cái đẹp
+Thẩm mỹ thuộc phạm trù chủ quan của con người, chỉ có ở con người. Mỗi người có cảm quan thẩm mỹ riêng.
+ Thẩm mĩ tồn tại khách quan với cái đẹp, là những rung động bên trong tâm hồn con người.
Tóm lại thẩm mĩ là tất cả những rung động, cảm xúc trong tâm hồn con người trước cái đẹp, cái cao cả.
2. Phân biệt cái đẹp với nghệ thuật
- Cái đẹp: (trên đã nói)
- Nghệ thuật: Là hình thái cao nhất của sự đồng hóa, chiếm lĩnh, thẩm mĩ của con người đối với cái đẹp
+ Là hoạt động tài năng đặc biệt của con người, để con người tự thể hiện, bày tỏ, bộc lộ thái độ của mình với cái đẹp, với đời sống.
+ Nghệ thuật là tiếng nói trân thành từ rung động tâm hồn của con người trước cái đẹp.
+ Ngoài cái đẹp, nghệ thuật còn có nhiều mục đích khác: mục đích nhận thức xã hội, mục đích văn hóa lịch sử, mục đích giáo dục ...
+Nghệ thuật là nơi thể hiện cái đẹp tập trung, điển hình. Nghệ thuật có vai trò sáng tạo ra cái đẹp
Tóm lại cái đẹp, thẩm mỹ và nghệ thuật có mối tương quan mật thiết lẫn nhau. Trình độ thẩm mĩ của con người ngày càng cao thì nghệ thuật càng phát triển, nhưng nếu không có cái đẹp thì không thể có thẩm mĩ.
3. Đặc điểm của cái đẹp trong nghệ thuật
- Cái đẹp trong nghệ thuật là sự sáng tạo tinh túy từ cái đẹp cuộc sống của ngưới nghệ sĩ.
+ Cái đẹp trong nghệ thuật là một sáng tạo mới của con người. Nó là một công trình phức tap tinh vi, được sáng tạo bởi tài năng, trình độ thẩm mĩ của người nghệ sĩ.
+Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp tinh luyện, trau chuốt , hoàn thiện theo ước mơ của người nghệ sĩ.
+ Cái đẹp này do chính người nghệ sĩ tìm tòi, khám phá và thể hiện. Đó là cái đẹp điển hình. Vẫn là những vẻ đẹp có trong đời sống nhưng được thể hiện bằng cảm quan và tài năng chủ quan của người nghệ sĩ, nên không đồng nhất với cái đẹp ngoài cuộc sống.
+ Cái đẹp trong nghệ thuật là một tiêu chí đánh giá thái độ tình cảm của con người đối với đời sống xã hội. Người ta sáng tạo nghệ thuật để bày tỏ ước mở, nhận thức của mình.
+ Đó là cái đẹp chứa đựng tâm hồn, tình cảm của ngưới nghệ sĩ. Có những nghệ sĩ cống hiến cả đời cho một tác phẩm nghệ thuật. Nó thể hiện sâu sắc đời sống nội tâm của người sáng tạo.
+ Cái đẹp trong nghệ thuật là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ, chịu ảnh hưởng sâu sắc thế giới nội tâm của người nghệ sĩ, có kết cấu nội dung, hình thức chặt chẽ, rõ ràng.
MÔN VĂN HỌC HY LA TÂY ÂU.
Môn này còn thiếu, Quý thầy cô xem lại sường bài ôn tập và bổ sung.
Trọng tâm văn học Hy La Tây Âu và Mĩ là quan niệm hình thành thế giới và xã hội.
1. Quan niệm về sự hình thành thế giới:
- Thế giới hình thành theo cảm quan cổ xưa của mỗi dân tộc:
- Tư Tưởng Thần thoại Hy lạp: Đều là bắt đầu từ chỗ không thể lý giải, những người Hy Lạp cổ cũng như các dân tộc khác đều cho rằng thế giới bắt đầu từ hỗn mang. Thuở hỗn mang đất trời trộn lộn, đất nước nhập cục, nước lửa không khác gì nhau. Những dòng sông đen tối, những ngọn lửa dài ướt át. Thế giới được gọi là Chaos, là một sự lộn xộn, không phân định hình dạng, kích thước, màu sắc..., chỉ có âm thanh tự do nhảy nhót vang động tận cùng. (những tưởng tượng rất sinh động, linh hoạt)
- Tư tưởng thần thoại Việt Nam
Thuở ấy, chưa có muôn vật và loài người. Trời đất chỉ là một vùng hỗn độn, tối tăm. Bỗng xuất hiện một vị thần khổng lồ, cao lớn vô cùng, chân dài không sao tả xiết. Mỗi bước thần đi là băng từ vùng này qua vùng khác, vượt từ núi nọ sang núi kia.
Một hôm, thần vươn vai đứng dậy, ngẩng đầu đội trời lên. Thần đào đất, khuân đá, đắp thành một cái cột vừa to, vừa cao để chống trời. Cột đắp lên cao chừng nào thì trời như tấm màn mênh mông được nâng dần lên chừng ấy. Thần một mình hì hục đào, đắp, cột đá cứ cao dần, cao dần và đẩy vòm trời lên tận mây xanh.
Khi trời đã cao và khô cứng, thần liền phá tan cột đi, lấy đất đá ném tung ra khắp nơi. Mỗi hòn đá văng đi biến thành một hòn núi hay một hòn đảo, đất tung tóe ra mọi nơi thành gò, đống, thành những dải đồi cao. Vì thế, mặt đất ngày nay không còn bằng phẳng mà có chỗ lõm, chỗ lồi. Chỗ thần đào sâu để lấy đất đá đắp cột, ngày nay là biển cả mênh mông (Thần trụ trời)
Vũ trụ hỗn mang, mù mịt, bỗng một trận mưa to, nước ngập mênh mông. Nước rút, để lại đất - đó là đẻ đất. Lại một trận mưa lớn - đó là đẻ nước. Mưa tạnh, một cây si thần mọc lên, vươn đến tận trời. Ông trời cho sâu xuống đục thân cây; cây chết, tạo ra các mường - đó là đẻ mường. Cây si còn hoá ra mụ Dạ Dần, mụ Dạ Dần sinh ra chim Tùng, chim Tót. Chim đẻ trứng, trứng nở thành người đó là đẻ người. ( Đẻ đất đẻ nước) (là kiểu tư duy nông nghiệp, thuần hậu đơn giản, theo hệ tư tưởng Á Đông)
- Kinh khởi thế nhân bổn: Này Vàsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Ðất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh. (kiểu tư duy tôn giáo, khiết tịnh, có quy luật tuần hoàn, sự hình thành thế giới là sự bắt đầu lại khi thế giới hoàn toàn hư hoại.)
Người Hy Lạp cũng quan niệm bắt đầu hình thành thế giới từ sự hình thành đất, nhưng là đất mẹ Gaia, biểu tượng sự sinh sản. Đất mẹ đã đẻ ra con Trời gắn đầy sao Ouranos. Trời đất yêu nhau và ánh sáng xuất hiện. Trên cao trời lặng ngắm nhìn, yêu dấu đất, tạo ra những trận mưa êm ấm sinh ra cỏ cây hoa lá, chim muông cầm thú,.... Nước mưa tạo ra sông ngòi, biển cả, sự sống bắt đầu....
Ngay từ thần thoại Hy Lạp đã có tư tưởng phồn thực và loạn luân. Người Phương tây có những tư tưởng duy lý rất rõ ràng. Con người luôn là phiên bản của cả cái tốt và cái xấu. Loạn luân cũng là một bản năng sâu xa của nhân loại. Nhưng với lý trí của mình, họ không chấp nhận con người sinh ra từ ý muốn đơn thuần của một vị thần tối cao, hay một thượng đế toàn năng. Họ lập cho các vị thần cả một gia phả. Dù là thần sinh sản cũng phải có sự giao phối. Đất mẹ có khả năng sinh sản tự nhiên, nhưng chỉ khi trời đất chưa phân định.
2. Sự hình thành tư tưởng nhân loại
- Đầu tiên Gaia và Ouranos sinh ra những đứa con khổng lồ, một mắt: Núi lửa, bão tố...(hình thù những quái thai). Chúng rất to lớn, khỏe mạnh nhưng quá kỳ dị khiến trời Ouranos buồn chán ném chúng xuống Tartare (vùng sâu nhất của lòng đất, là địa ngục). Sau đó Gaia sinh ra các Titan, những con người to lớn nhưng không quái thai. Chúng rất mạnh mẽ, chúng luôn muốn trả thù cho những ngưới anh em bị đày xuống địa ngục. (lòng hận thù cũng sinh ra như bản năng của con người. điều đáng nói là lòng hận thù ấy dành cho chính những ngưới thân của mình). Lòng hận thù sẽ có kết quả như thế nào. Nhân một buổi Trời ngủ Titan có tên Cronos đã dùng liềm cắt dương vật cha mình. Máu chày sanh ra 3 Erinye sinh đẹp có những bộ tóc là rắn độc, làm chết ngay những ai vướng phải họ. (Lòng hận thù chính là nọc độc của nhân loại.)
Sự hình thành phả hệ các vị thần như nguyên lý phủ định lẫn nhau một cách bình đẳng. Họ chiến đấu lẫn nhau để phát triển. Những đứa con sinh ra luôn luôn mạnh hơn cha nó, chúng luôn sống chiến đấu vì tình yêu hay hận thù. Thế giới của họ luôn vận động biến đổi, đầy tính bi kịch, rất khác với tư tưởng Phật giáo.
Kinh khởi thế nhân bổn: Có loài hữu tình, có tánh tham, nói: "Kìa xem, vật này là gì vậy?", lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Này Vàsettha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất. Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vàsettha, thế giới này bắt đầu thành trở lại. (Một sự sanh khởi từ lòng tham ái đắm nhiễm hơn là hận thù đấu tranh. Những hữu tình tiếp tục nghiệp sống của mình do chính những ham muốn của họ.)
3. Sự hình thành hình thái xã hội
- Theo Kinh Khởi thế nhân bổn xã hội loài người sẽ hình thành đúng theo tinh thần tham ái và đắm nhiễm: Các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta." Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất. (Có sự phân hóa con người về hình sắc, phong cách. Chính sự kiêu mạn, kiêu ngạo của họ làm thế giới suy giảm. Chính lòng tham đắm của họ khiến con người và xã hội phân chia sai biệt. )
... Này Vàsettha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện, về phái nam xuất hiện nam tánh... ( Khi đó dâm dục xuất hiện con người xấu hổ mới dùng đồ vật che thân và xây dựng nhà cửa để trốn núp. Con người tích chứa lúa gạo tài vật phân ra kẻ giầu người nghéo, rồi họ tranh chấp lẫn nhau và cộng đồng phải có người phân định xét xử... Cứ như thế hình thái xã hội hình thành và phát triển.
- Người Hy Lạp lại có quan niệm rất thiết thực về sự hình thành xã hội. Chỉ cần một yếu tố trong cộng đồng người thay đổi đều trở thành nguyên nhân hình thành hình thái xã hội. Trong cả một cộng đồng ăn trộm, chỉ cần xuất hiện một người trong sạch, hay ngược lại đều làm mất cân bằng cộng đồng. Một người không đi ăn trộm và thế là người đó mất hết của cải trở thành nghéo, người không mất của cải thì giầu lên, dẫn đến phân chia xã hôi thành kẻ giầu người nghèo. Khi người ta quá giầu họ không muốn mất trộm và ăn trộm nữa, họ đặt ra các quy định lập nên đội ngũ bảo vệ mình. Bắt đầu hình thái xã hội hình thành và ngày càng phức tap. Cho dù yếu tố khác biệt ban đầu không còn tồn tại nhưng ảnh hưởng của nó đối với cộng đồng xã hội còn lan tỏa mãi về sau như gợn sóng trong lòng hồ. Người trong sạch ấy vì không lấy của ai, nên không có gì ăn, anh ta đã chết nhưng xã hội vẫn loay hoay giải quyết vấn đề mà anh đã gây tạo nên cho đến bây giờ.
Tuy có những cách lý giải khác nhau nhưng người Hy La Tây Âu cũng như Phật giáo cùng có quan niệm về sự hình thành thế giới và xã hội theo ý thức chủ quan của con người. Cách lý giải của Phật giáo mang đậm tính tôn giáo, có kiểu tư duy tâm niệm tổng hợp. Cách lý giải của người Hy La Tây Âu đậm tính duy lý, theo kiểu diễu nhại. Nếu tôn giáo cho rằng do những suy thoái đạo đức của con người mà các hình thái xã hội phải lập nên để cân bằng, thì Cừu đen lại cho rằng chính cái thánh thiện của con người trong sạch kia khiến cho xã hội phải phân hóa...
MÔN PHONG CÁCH TIẾNG VIỆT
Quý thầy cô cho các ví dụ khác để bài làm phong phú hơn.
ĐỀ 1:
1. Trình bày những hiểu biết của anh (chị) về sự thể hiện của tính khách quan và tính khuôn mẫu trong các phong cách chức năng của tiếng Việt.
(4.0 điểm)
- Tính khách quan và tính khuôn mẫu thường đồng hành trong phong cách ngôn ngữ Tiếng Việt. Nó được sử dụng tuyệt đối trong phong cách ngôn ngữ hành chánh, và cũng rất cao trong phong cách ngôn ngữ khoa học, tương đối trong phong cách báo trí và văn chương, nhưng hầu như rất thấp trong phong cách chính luận và khẩu ngữ.
2. Xác định phép tu từ có trong các trường hợp sau và phân tích giá trị biểu đạt của chúng:
a/ Thơ : tình là gốc, lời là cành, thanh âm là lá, ý là quả.
(Bạch Cư Dị)
- Điệp cú pháp: ĐTSS- TNSS- HASS.
- So sánh cấu trúc bài thơ như một cái cây. Trong đó cái tình như gốc, lời như cánh.....
- Ẩn dụ Ý nói cái tình chính là mạch nguồn nuôi sống một bài thơ. Lời là khung sườn cho bài thơ đó. Âm thanh nhạc điệu tô đẹp cho nó, và ý mới là thành quả ngọt ngào. Một bài thơ phải có đầy đủ tình ý, ngôn từ và âm thanh màu sắc.
b/ Đặng Tiểu Bình không phải là Chu Ân Lai, tác phong của ông khác Chu Ân Lai, Chu Ân Lai chú ý sách lược, làm cho mình có thể dừng trên mặt nước, nhưng không thể thay đổi phương hướng chủ yếu của dòng nước chảy xiết. Đặng Tiểu Bình lại không thuận theo dòng nước xiết, mà là lập tức đắp đập ngăn dòng nước ấy lại.
- So sánh Đặng Tiểu Bình với Chu Ân Lai
- Tăng tiến: Nếu Chu AL chỉ có thể chỉ có thể dừng trên mặt nước thì Đặng TB còn chăn được dòng nước, làm đảo chiều dòng nước. Làm nổi bật con người và năng lực của Đặng TB
(Pa-ra-xi Đa-nây-si, Đặng Tiểu Bình)
(3.0 điểm)
3. Viết câu văn có sử dụng phép tu từ:
a/ Viết một câu văn có sử dụng phép chơi chữ (hoặc nói mỉa)
- Lạc cười lạt nói: Huê thơm bán một đồng mười, huê tàn nhị giữa bán đôi lạng vàng.
b/ Viết một câu văn có sử dụng phép đảo ngữ (hoặc uyển ngữ)
- Nghẹn bứ lại, miếng cơm trong cổ họng, nó không thể nuốt trôi.
(3.0 điểm)
ĐỀ 2:
1. Tin tức báo chí có chân thực hay không? Nhận xét sau đây đúng hay sai: “Báo chí ở chế độ xã hội nào cũng bị sự chi phối chặt chẽ của hệ tư tưởng. Tất cả các tờ báo, dù ở phía nào, cũng chỉ đáng tin 50% vì trong bản thân loại hình truyền đạt này đã hàm chứa hiển nhiên tính chủ quan của sự nhìn nhận thông tin và mục đích thông tin.”
(4.0 điểm)
-Tính chính xác trong phong cách báo chí chỉ là tương đối. Báo chí còn chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan cho nên nhận xét trên là đúng.
2. Tự viết một bản tin ngắn với đề tài tự chọn hoặc một bản quảng cáo cho một sản phẩm theo đúng những yêu cầu của phong cách báo chí.
- Tiệm cơm chay CÁT TƯỜNG 46 Trần Khánh Dư. F 5. Q 3. Chuyên phục vụ các món ăn chay từ bình dân đến cao cấp. Khung cảnh yên tĩnh, lịch sự.
Nhận đặt tiệc chay, giao cơm phần, cơm hộp tận nơi. SĐT. 0168741334
(3.0 điểm)
3. Xác định phép tu từ có trong các trường hợp sau và phân tích giá trị biểu đạt của chúng:
a/ Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
(Chế Lan Viên, Tiếng hát con tàu)
- so sánh trừu tượng: niềm vui gặp lại với niềm vui: Nai về suối cũ; cỏ, chim én gặp mùa xuân...
- Nói lên nỗi niềm hân hoan, hạnh phúc, thân thương khi trở lại nơi trốn quen thuôc.
b/ Người đàn ông yêu bằng cái đầu, người đàn bà suy nghĩ bằng con tim.
(Tục ngữ Pháp)
- Phi lý, con tim làm sao có thể suy nghĩ
- Ẩn dụ ý nói người đàn ông sống bằng lý trí, người phụ nữ sống bằng con tim
(3.0 điểm)
ĐỀ 3
1. Phân tích các đặc trưng sau đây của phong cách báo chí:
a/ Tính thời sự
b/ Tính hấp dẫn
c/ Tính đại chúng
(4.0 điểm)
2. So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa phép tăng cấp và phép đột giáng . Minh hoạ bằng một số ví dụ cụ thể.
- Phép tăng cấp và đột giáng giống nhau vì cùng là trường hợp đặc biệt của phép liệt kê, nhưng khác nhau ở cấp độ liệt kê.
-Phép tăng cấp là liệt kê theo cấp độ tăng dần: Mây đen kéo đến.Gió. Mưa. Bão bùng.
- Phép đột giáng là phép liệt kê có thể ngang bằng hay tăng cấp, nhưng dột ngột giáng xuống ở cuối và trọng tâm nằm ở cuối cùng: Bầu trời âm u. Mây đen ùn ùn. Gió thổi ù ù. Nhưng không mưa, bầu trời quang trở lại.
(2.0 điểm)
3. Xác định và phân tích giá trị biểu đạt của phép tu từ có trong các trường hợp sau :
a/ Với nhiều bàn tay, thuyền sẽ được chèo lên núi.
(Tục ngữ Nhật Bản)
- Phúng dụ: nói lên kinh nghiệm sống đoàn kết tạo nên sức mạnh phi thường.
- Hoán dụ: Nhiều bàn tay ý nói nhiều người , chỉ sức mạnh đoàn kết.
b/ Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
- Ẩn dụ: Đóa trà mi chỉ cho Kiều; Con ong chỉ cho Mã GS. Ý nói sự trinh trắng của người con gái đã bị gã đàn ông ong bướm kia lấy mất.
c/ Tăm tăm tình bạn
Chếnh choáng tình đời
Líu lưỡi tình người
Nôn nao thân phận…
(Phùng Quán, Say)
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, cảm nhận tình bạn, tình đời, tình người, số phận cũng có hơi men chếnh choáng nôn nao.
- Sóng đôi cú pháp: tình bạn- tăm tăm, tình người- chếnh choáng,...
- Tăng cấp: Tăm tăm, chếnh choáng, lứu lưỡi, nôn nao
(4.0 điểm)
ĐỀ 4
1. Tính biểu cảm và tính chính xác về diễn đạt được thể hiện như thế nào trong các phong cách ngôn ngữ?
(3.0 điểm)
2. Trong các ví dụ sau đây có sử dụng phép tu từ gì? Viết một số câu bình cái hay, cái đẹp của việc sử dụng phép tu từ trong các ví dụ đó.
a) Nếu nói với một viên chức nhà nước thì bạn phải nói bằng đồng rúp.
(Tục ngữ Nga)
- Phúng dụ mang tính chất kinh nghiệm ứng xử trong tệ nạn hành chính.
b) Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi, cái tình chân thật, cái tình ảo mộng, cái tình ngây thơ, cái tình già dặn, cái tình giây phút, cái tình nghìn thu.
- Phép liệt kê các kiểu tình yêu trong đời sống được văn học thể hiện rất đa dạng
-Phép điệp từ: "Cái tình", theo kiểu sóng đôi cấu trúc "đắm say" với "thoáng qua", "gần gụi" với "xa xôi"..... cho thấy các cấp độ tình yêu rất đa dạng phong phú được cảm nhận ở nhiều khía cánh, nhiều chiều trong văn học mới.
(Lưu Trọng Lư)
c) Đừng nói tất cả những gì anh biết, đừng tin mọi điều anh nghe, và đừng làm tất cả những gì mà anh có thể.
(Ngạn ngữ Bồ Đào Nha)
- Lặp cấu trúc: ngữ động từ + lượng từ + tân ngữ. Nhấn mạnh việc phải cân nhắc từ lời nói, niềm tin đến việc làm sao cho có lợi ích có ý nghĩa.
(4.0 điểm)
3. Viết câu văn (đoạn văn) có sử dụng phép tu từ:
a/ Viết một câu văn có sử dụng phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (hoặc định ngữ nghệ thuật)
- Nó ném cái nhìn lạnh ngắt về phía tôi.
b/ Viết một đoạn văn có sử dụng phép dẫn ngữ
(3.0 điểm)
- Thế đấy "có ai hay hết chữ ngờ". Mới hôm qua hắn còn hiền khô đi sau lưng vợ. Hôm nay hắn đã chạy theo cô ả, quên cả đường về nhà.
ĐỀ 5
1. Nêu những điểm khác nhau giữa phong cách ngôn ngữ hành chính và phong cách ngôn ngữ chính luận.
(3.0 điểm)
2. Trong các câu sau đây có sử dụng phép tu từ gì? Phân tích các từ ngữ cần thiết để khẳng định ý kiến của anh chị:
a/ Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng
Ðến em thơ cũng hóa những anh hùng
Ðến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ
Và hoa trái cũng biến thành vũ khí!
- Liệt kê tăng cấp: em bé biết đánh giặc, con vật nhỏ bé như con ong cũng biết đánh giặc và hoa trái vô tri cũng biết đánh giặc
(Tố Hữu, Êmily, con ...)
b/ Những tàu chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên, hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước. Thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy lên đành đạch như là hứng tình.
(Nam Cao, Chí Phèo)
-Nhân hóa tàu lá chuối như người đàn bà đầy xuân tình,
c/ Chữ hiền với chữ hèn chỉ khác nhau một chữ I và dấu mũ mà thôi.
(Nam Cao, Sống mòn)
(4.0 điểm)
- Chơi chữ dùng từ gần âm để nói cái thiệt thòi, bất lực của những số phận nhỏ bé trong xã hội. Không làm gì được trước hiện thực cũng chính là hèn hạ.
3. Viết câu văn (đoạn văn) có sử dụng phép tu từ:
a/ Viết một câu văn có sử dụng phép tu từ tương phản (hoặc nghịch ngữ)
- Chính vì quá yêu mà hắn luôn dằn vặt nàng.
b/ Viết một đoạn văn có sử dụng câu hỏi tu từ
- Đó là tình yêu sao? Mỗi lần thấy chị đi cùng người đàn ông nào, nói chuyện về ai là hắn hằn học, tức tối, tìm cách mỉa mai, mắng chửi và cả đánh đập chị. Trong lòng chị rất thương hắn, nhưng lại cảm thấy sợ hắn nhiều hơn. Nếu hắn cứ đi xa thì chị nhớ hắn rất nhiều lắm. Nhưng mỗi lần về, chỉ có những lời chất vấn, mỉa mai, nghi kỵ. Chị thấy thật đau lòng.
(3.0 điểm)
|