|
Đọc thơ xứ người
Không biết bây giờ đọc những vần thơ này có lỗi thời hay không.
Vào lúc tiện nghi là đỉnh cao, thì những bài thơ này nói lên ý nghĩa gì nhỉ.
Nhưng khi đọc đến những trang thơ này, tâm vẫn nghe cảm khái, âu là chút nhân duyên, xin lạm bàn đôi điều cùng ai là người tri âm vậy.
Tìm thức ăn tôi về phố thị,
trên đường tình cờ gặp bậc hiền nhân.
Người hỏi tôi: Bạn ơi, bạn làm gì mà sống trên những đỉnh mây trắng.
Tôi hỏi người: Bạn ơi, bạn làm gì để lớn lên giữa phố thị bụi mù.
Chúng tôi có câu trả lời, nhưng không ai mở miệng.
Đồng hồ điểm năm tiếng, thức tôi khỏi giấc mơ.
Tôi đặc biệt thích bài thơ này, và luôn muốn gởi nó đến bạn, để thay một lời giới thiệu khi chúng ta gặp nhau. Từ nhỏ lúc đọc truyện “tráng sĩ rừng xanh” đế đoạn “Du tử gặp nạn, chạy đến một cánh cửa. Hết đường chạy, thì cửa mở xuất hiện một ông già, hóa ra sau cánh cửa là một đường hầm, ông già đưa Du tử một cây đuốc chỉ vẻ đường đi trong hầm. Du tử vô cùng cảm kích, hỏi tên ông lão. Ông chỉ cười nói, gọi ta là ông già nơi dưới chân cầu thang, còn cậu là cậu bé nơi miệng hầm. Du tử xuống đường hầm, theo lời chỉ dẫn mà thoát nạn”.
bài học trên đỉnh núi Kaya[2]
Nước chảy tuôn qua ghềnh đá gầm thét trên đỉnh núi cao,
át hẳn tiếng người bên cạnh chuyện trò,
tôi sợ cuộc tranh luận đúng và sai,
và tiếng nước trên đỉnh núi kia, hóa giải mọi điều.
Đọc tiểu sử cuộc đời một vị học giả, cuối cùng sợ hai chữ “đúng-sai”, khi về ở ẩn tại núi Kaya này. Thật là thú vị, khi cuối đời ông giác ngộ lời chư tổ nhắc chúng ta hằng ngày, mỗi khi bàn luận đến thị phi: “Đôi lời phù phiếm tiêu chẳng nổi, nói gì đến ý tổ tây lai”
Để lại mẹ già nơi phố biển,
đường về phố thị một mình tôi.
Khi bước chân trở lại tìm quê cũ,
mây trắng tuôn tuôn che núi xanh.
Rồi tôi không biết tác giả có gặp lại mẹ già hay không, còn kịp gặp hay không.
Khi học Pháp Bảo Đàn Kinh, tâm tôi vương vấn một chút tình, không biết cuối cùng mẹ ngài Huệ Năng thế nào, ngài có về thăm lại không. May mắn đọc trong Phụ Giáo Biên bắt gặp một đoạn nói về mẹ ngài.
“Phụ giáo biên[6] ghi: “Buổi đầu Huệ Năng bán củi để nuôi mẹ. Khi sắp theo Thầy, Sư lo không ai thay thế nuôi mẹ, nên nhận lấy sự giúp đỡ.
Khi Sư trở về thì mẹ đã mất. Sư than thở không được toại ý về đạo làm con đối với gia đình mình. Cuối cùng về nơi đây thị tịch. Nên nói: “Lá rụng về cội”. Tổ Huệ Năng là bậc chí nhân, chúng ta đâu lường nổi cái đức kì lạ của ngài, là dạy cho mọi người chẳng quên gốc gác của mình”.
Mà dù cho có không về gặp được, người mẹ vẫn an lòng khi biết con mình đang trên đường giải thoát, tránh những khổ lụy như những tháng năm của người. Bởi quan tâm đến một người là thực sự mong người có hạnh phúc, huống nữa là hạnh phúc vượt trên những hạnh phúc đời thường. Tôi tin thế và luôn tin thế, khi nhớ lại ánh mắt mẹ tôi, khi tôi trở về thăm. Bà không thể tỏ thái độ như lúc tôi còn nhỏ đi học xa, thỉnh thoảng về nhà. Trước mặt bà là một dáng áo nâu nghiêm trang. Nhưng đôi mắt bà, đầy vui mừng và một sự vui mừng đặc biệt, có một chút hãnh diện. Ánh mắt đó đã giúp tôi vượt nhiều chướng ngại trên đường.
Quán Không
[1] Tìm chưa ra quyển sách để ghi tựa và tác giả, xin bổ sung sau.
[2] Kim Jong-Gil, Among The Flowing Reeds, p.32
[3] Nhà thơ sống vào cuối thời Silla 新羅 (57 BC – 935 AD), ông đến Trung Quốc vào năm 868 để học, đậu được cuộc thi, ông làm việc trong triều đại nhà Đường. Sau khi trở về Tân La, ông nghỉ hưu và cuối đời tại núi Kaya.
[4] Kim Jong-Gil,Among The Flowing Reeds, p.72
[5] Shin Saim-dang (1504-1551) là một nữ văn sĩ, thi sĩ và nhà viết thư pháp, sống vào Triều đại Chosun (Triều Tiên) [1392-1905].
[6] Phụ Giáo Biên 輔教編, do ngài Trí Tung soạn vào thời Bắc Tống, gồm ba quyển.
|