Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ tồn tại, phát triển trên 25 thế kỷ nay và lan rộng khắp thế giới với mục đích duy nhất là giúp cho con người nhận ra giá trị nhân bản đích thực của chính mình. Đó là Phật tánh vốn sẵn có trong mỗi con người mà không phân biệt sắc tộc, màu da hay giới tính. Đây quả là một khoảng thời gian khẳng định rất hùng hồn chân lý bình đẳng bất diệt của Phật giáo. Tuy nhiên, trước khi giác ngộ ra chân lý ấy thì con người vẫn phải quằn quại đau khổ bởi sự chấp trước, phân biệt về căn cơ, trình độ, địa vị, giới tính khác nhau nhưng cho dù là Nam hay Nữ thì nhu cầu giải thoát tâm linh là không thể thiếu và đều bình đẳng như nhau. Bằng chứng là thời đức Thế Tôn còn tại thế đã xuất hiện một bậc Nữ lưu xuất chúng tu hành chứng đắc quả A la hán, trở thành vị tổ Ni - Đại Ái Đạo; Người khơi nguồn, dẫn dắt cho Nữ giới tiếp cận và chứng ngộ chân lý giải thoát trên 2.500 năm qua.
THỰC TRẠNG
Khi nói đến sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của chư Tổ Ni, chúng ta cần phải nhớ rõ ràng rằng Ngài đã đắc quả A la hán cho nên sự tiếp độ Nữ giới đối với Ngài là không có gì trở ngại. Ngài có đầy đủ trí tuệ vô lậu và lòng từ vô ngã, vị tha. Còn chúng ta đây cũng đang tiếp nối con đường sự nghiệp tiếp độ Nữ giới mà Ngài để lại nhưng chưa thật sự giống Ngài. Đây là vấn đề nan giải mà chúng ta cần phải thấy rõ và liễu tri. Mỗi vị Ni hãy tự nhìn lại chính mình xem đã đạt đến quả vị nào trong tứ Thánh quả: Dự lưu, Bất lai, Nhất lai và A la hán?
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chúng ta nổi tiếng là vùng đất “địa linh nhân kiệt” hiện có khoảng hơn 2.000 vị Ni đang tu học, một số lượng Ni chúng đứng vào hàng nhất, nhì so với các tỉnh, thành trong cả nước. Thế nhưng số lượng bậc Ni tài đức xuất chúng vẫn còn khá khiêm tốn. Chẳng hạn như phải thắp đuốt thêm mà đi tìm giữa ban ngày hình ảnh chư Ni dấn thân vào đời hóa độ cũng như đứng trên pháp tòa tuyên giảng Phật pháp cho giới Nữ. Phải chăng “tre đã già” mà “măng chưa mọc”? Chúng tôi đã gặp một số vị Ni tốt nghiệp Tiến sĩ, Cử nhân, Cao cấp giảng sư Phật học nhưng hình như họ chưa được sử dụng đúng với vị trí đã được đào tạo. Học rồi chỉ để biết tu chứ chưa có cơ hội tham gia phục vụ Giáo hội và làm lợi ích cho Nữ giới nói riêng, cho nhân loại nói chung. Thậm chí, nhiều vị Ni có hai bằng giảng sư trong tay nhưng chưa hề một lần giảng pháp! Nhiều vị Ni trẻ đang học Đại học, sau Đại học, Cao cấp giảng sư Phật học v.v… nhưng hình như họ không có kế hoạch, mục đích rõ ràng. Họ trở nên rất thụ động, bi quan và không đủ mạnh mẽ, tự tin để vươn tới sự nghiệp tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.
Đức phật dạy “học hạnh tương ưng” vậy mà chúng ta có buông bỏ chưa cái nhìn Hệ phái, Tông phái và Giáo phái? “Vào cửa đạo như con một nhà” mà vẫn còn đây đó cách hành xử phân biệt, đối đãi để rồi không ít giới trẻ Ni “Bồ đề gai” nổi lên thay thế cho “Bồ đề tâm”. Tu thì chưa quả vị, học không kế hoạch và mục đích rõ ràng, thế thì con đường “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa Chúng sanh” xem như mờ mờ, mịt mịt, đâu là lối thoát?
Hiện nay, đất nước cũng như nhân loại đang hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và tiến bộ. Tuy nhiên, cơ hội để Nữ giới phát triển nhất là trong lĩnh vực tâm linh vẫn còn rất hạn chế mặc dù ai cũng biết rằng vai trò và vị trí của Nữ giới trong xã hội rất lớn. Khi còn ở chung trong gia đình cha mẹ thì họ làm con, làm chị, làm em đã phải chịu rất nhiều cơ cực và áp lực gánh nặng gia đình đè lên đôi vai vốn dĩ mảnh mai và yếu đuối của một thân thể nữ lưu. Đến khi xuất giá, họ đã thay đổi hẳn số phận của mình trở thành vợ, thành mẹ rồi thành bà. Với thiêng chức thiêng liêng nhất là làm mẹ, họ vừa duy trì nòi giống vừa sản sinh và đào tạo con người cho nhân loại. Với những vai trò này trách nhiệm của họ dường như không hề giảm đi mà lại càng tăng thêm bởi áp lực của cuộc sống gia đình và công việc xã hội. Khi xuất gia tu học họ cũng chịu nhiều thiệt thòi bởi những quan niệm, truyền thống xã hội vẫn còn ảnh hưởng sâu nặng trong tư tưởng của người phương Đông. Tất cả những hình ảnh và vai trò này đều có trong mỗi chúng ta khi ra vào trong lục đạo luân hồi…
Cô Quảng Oanh, một Phật tử ở thành phố Đà Nẵng gặp chúng tôi trong ngày lễ Phật Đản tại TP. Vũng Tàu tâm sự một cách rất tha thiết, chúng tôi lấy làm cảm kích và trăn trở không ít: “Tôi đi rất nhiều nơi từ trong nước đến ngoài nước nhưng còn rất nhiều người Nữ đang đau khổ cho dù họ có địa vị và giàu sang đi nữa. Ni giới tu học cũng rất đông vậy mà hiếm khi nhìn thấy hình ảnh chư Ni thuyết pháp cho các đối tượng là Nữ giới. Cái mà họ cần không chỉ món ăn vật chất mà còn rất cần món ăn tinh thần và tâm linh. Đó là chánh pháp vì chính pháp Phật mới là những phương thuốc trị liệu các bệnh để họ lìa khổ, an vui vĩnh viễn.”
Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng, cả nước nói chung trong các lễ hội Phật giáo, công tác từ thiện, đến chùa làm công quả, tu tại gia và kể cả xuất gia, Nữ giới chiếm đại đa số. Thế nhưng họ đến với đạo Phật chủ yếu bằng niềm tin cho nên cũng rất dễ dàng rơi vào mê tín, dị đoan. Vì vậy, tuy là họ có tu đó nhưng vẫn chưa thoát được khổ. Nghiệp của mình chưa giải thoát hết lại cộng thêm nghiệp của người (mà nghiệp của chúng sanh thì rất nặng) cho nên việc hóa độ Nữ giới thật không dễ dàng và vô cùng phức tạp!
GIẢI PHÁP
Giờ đây các tỉnh, thành trong cả nước đều có Phân Ban Đặc trách Ni giới (ĐTNG). Chư Tôn đức Ni trong Phân Ban ĐTNG như những cánh chim đầu đàn gần gũi, dìu dắt, hướng dẫn, che chở và định hướng tư tưởng cho đàn chim non trước bão táp tham, sân, si cuộc đời. Phân Ban ĐTNG tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sau khi được thành lập đi vào hoạt động rất tích cực và đạt nhiều hiệu quả khả quan. Trước hết chư Tôn đức Ni lãnh đạo phải luôn là những bậc mô phạm cả tài lẫn đức, thông suốt Thế học lẫn Phật học, giác ngộ Phật pháp, chứng Thánh quả. Đây là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất đối với vai trò lãnh đạo Giáo hội; vì có vô ngã thì mới vị tha. Lấy thắng trí giải thoát làm sự nghiệp là yếu chỉ Phật, Tổ tương truyền, chúng ta không thể dễ duôi qua ngày tháng được. Phải lấy việc tự độ và độ tha làm bổn phận và nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả của mình. Bên cạnh đó, chư Tôn đức Ni lãnh đạo cần nên có những kế hoạch, kế sách, chiến lược đào tạo lâu dài và sử dụng đúng vị trí, vai trò chư Ni có khả năng phục vụ và phát triển Giáo hội tỉnh nhà nói riêng cũng như đem lại lợi ích thiết thực cho quê hương, đất nước và nhân loại nói chung.
Lực lượng Ni trẻ của tỉnh nhà còn rất đông, chỉ cần họ biết tự tin vào chính mình và tự phấn đấu nỗ lực vươn lên. Tu học phải có mục đích, kế hoạch rõ ràng. Phải có tinh thần dấn thân phụng sự đạo pháp và tha nhân. Phải biết nương tựa, đoàn kết và hỗ trợ chư Tôn đức Tăng, Ni cùng chung lo phát triển ngôi nhà Phật pháp.
Hàng Nữ lưu thì sớm giác ngộ cuộc đời này chỉ là tạm thời mà thôi hãy mau mau thức tỉnh tu hành thành tựu thắng trí giải thoát, trở về với Phật tánh mới là bộ mặt thật sự của chính mình. Thầy Bổn sư cũng như Nữ giới cần nên cung cấp và nuôi dưỡng Ni giới tu học thành tựu Thánh quả, bù lại Ni giới hết lòng dìu dắt, giúp đỡ Nữ giới phước huệ song tu. Phước và huệ là nhân quả đắp đổi cho nhau như hai cánh của một con chim. Nếu thiếu một cánh thì chim không thể bay được, cũng vậy người thiếu phước hay huệ cũng không thể tu hành thành đạo.
Để đem đạo vào đời chúng ta phải đẩy mạnh công tác giảng giải Phật pháp, tổ chức chương trình biểu diễn Văn nghệ Phật giáo phục vụ trong các môi trường: Lễ hội Phật giáo, trường học, bệnh viện, các tổ chức đoàn thể, vùng sâu, vùng xa, nhà tù, nhà chứa… trong đó, đặc biệt chú trọng các đối tượng là Nữ giới như Thanh thiếu niên, Phụ nữ, Cụ bà... Tất cả các chương trình đó đều làm ra đĩa VCD, DVD rồi tuyên truyền, nhân rộng bằng các phương tiện phát hành, Báo Đài, Truyền thông, mạng Internet v.v…
Đời người rất ngắn ngủi, vô thường không chờ đợi một ai, chúng ta không thể “tu qua ngày chờ qua đời” mà hãy nỗ lực tự tin vào chính mình, mạnh mẽ tự vươn lên: “Hãy tự cứu lấy mình trước khi người cứu”! Biết trân trọng và yêu thương người là trân trọng và yêu thương chính bản thân mình và ngược lại! Vả lại, mình không tự tôn trọng mình thì ai sẽ tôn trọng mình đây? Đức Phật dạy mỗi con người đều có tánh Phật bình đẳng như nhau vì thế chúng ta không nên tự cô phụ Phật tánh của chính mình. Trong Trưởng Lão Ni Kệ, Alahán Somà đã đối đáp với ác ma như sau:
Nữ tánh chướng ngại gì,
Khi tâm khéo thiền định,
Khi trí tuệ triển khai,
Chánh quán pháp vi diệu,
Ở tất cả mọi nơi,
Hỷ lạc được đoạn tận,
Khối tối tăm mù mịt,
Đã bị làm tan nát.
Dưới sự lãnh đạo và dìu dắt của Tổ Ni đã có rất nhiều bậc Nữ lưu tu hành chứng Thánh quả. Là đệ tử Ngài, chúng ta không thể không tiếp nối sự nghiệp mà Ngài đã tin tưởng và giao phó lại cho chúng ta. Hãy tự nỗ lực tinh tấn tu hành tỏ ngộ chân lý giải thoát, vô ngã vị tha và sử dụng mọi phương tiện mà chúng ta có được để tuyên truyền, nhân rộng chân lý ấy. Có như vậy thì Phật pháp mới thật sự đi vào cuộc đời, phổ độ rộng khắp chúng sanh mà nhất là Nữ giới; họ rất xứng đáng được hưởng pháp mầu, được hưởng hạnh phúc thật sự của một con người.
Như Chiếu