Chưa bao giờ Giáo dục Phật giáo cần phải cải đổi và phát huy sức mạnh của mình một cách cấp thiết như ngày hôm nay. Song song với việc nâng cao cuộc sống vật chất thì vấn đề định hướng tương lai và nâng cao đời sống tinh thần quả là vô cùng cấp thiết.
Thế giới luôn biến động, cuộc sống luôn đổi mới, do đó, nhận thức về cuộc sống cũng như phương pháp tiếp cận, hóa giải các vấn đề lại cần phải luôn được làm mới và phải phù hợp với thời đại. Giáo dục không phải là bám lấy những tư duy, nhận thức cũ kỷ của xã hội đi trước để gán đặt lên cuộc sống hôm nay mà ngược lại giáo dục chỉ xem những kiến thức của tiền nhân như là một kinh nghiệm, như là nền tảng để từ đó bước đến tương lai. Do vậy, cuộc sống của tương lai được tập hợp từ những cái đã qua và cả những cái chưa đến. Trong đó, yếu tố truyền thống chính là cái đã qua cần phải được duy trì một cách liên tục để ổn định cuộc sống; và những cái chưa đến chính là những điều mới lạ, là những đòi hỏi của cuộc sống hiện đại để bảo đảm rằng ta không phải là một đáp số cố định của một công thức toán học được sắp đặt từ trước.
Đáp ứng được hai nhu cầu này, nền giáo dục đó được xem là đã hoàn thành một phần nào đó trách nhiệm của mình.
Nhìn vào nền Giáo dục Phật giáo hiện tại, nếu ai đó có cái nhìn lạc quan nhất chắc chắn cũng không khỏi chạnh lòng. Bởi lẽ ta đã thừa hưởng được một gia tài đồ sộ, một kho tàng kinh điển truyền thống mà không một nền văn hóa nào so sánh kịp, mãi cho đến bây giờ, mà giá trị của nó là “liên hệ đến mục đích, là căn bản cho đời sống thanh cao, đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn” (Kinh Lá Rừng Simsapà, VNCPHVN, Tương Ưng, tr.442), thế nhưng, khi đem ứng dụng vào cuộc sống hôm nay, chúng ta thấy sao mà khó khăn và mệt mõi quá. Giáo lý của đức Phật dạy quá “cổ lỗ xỉ” chỉ thích hợp cho những người sống cách đây một trăm năm hay hai ngàn năm trăm năm về trước hay là quá cao siêu nên không hợp với thời đại ngày nay? Chắc chắn tất cả đều không phải. Vậy thì tại cái gì nếu không phải là hệ thống giáo dục-cái mà được giao nhiệm vụ là giáo dục nhận thức, kích thích tư duy để nâng cao cuộc sống vật chất và đặc biệt là tinh thần. Do vậy, giáo dục Phật giáo cần nhìn lại chính mình. Chúng ta đã có cái cần có, bây giờ chỉ còn mỗi công việc là sắp xếp nó như thế nào, diễn tả nó ra làm sao và phương pháp nào chuyển tải, ứng dụng nó vào cuộc sống.
Nói như thế không phải là chúng ta không nhận thấy những công lao, những giá trị đóng góp của các bậc tiền bối, những cao tăng thạc đức từ quá khứ cho đến tận hôm nay; có rất nhiều vị không những làm rạng danh Phật giáo Việt Nam mà còn làm rạng ngời Phật giáo thế giới với những phương pháp diễn đạt, tiếp cận hoàn toàn mới, phù hợp với thời đại ngày nay, đặc biệt là phương Tây. Thế nhưng số lượng ấy quả thật không nhiều và chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định mà chưa được thống nhất, chuẩn hóa trong hệ thống học đường của Phật giáo Việt Nam chúng ta.
Một trong những cố gắng nỗ lực của HVPGVN tại TP.HCM trong việc cải cách phương pháp học tập và cách thức tổ chức, tuyển sinh được xem là có tầm nhìn mang tính chiến lược lâu dài, đã tiên phong và dám bước qua những thói quen cũ kỷ để xây dựng một đường lối giáo dục mới phù hợp với thời đại ngày nay. Qua ba năm hoạt động, bước đầu HV đã gặt hái được những thành công đáng khích lệ. Tuy nhiên, nếu bình tâm xem xét thì hệ thống ấy mới chỉ có “thay tên mà chưa đổi họ”, bởi hai lẽ:
1. Về hình thức giảng dạy
Tuy nhà trường đã xây dựng hệ thống học phần theo từng tín chỉ nhưng lại chưa xác định học phần nào quan trọng và học phần nào ít quan trọng hơn để phân bổ tín chỉ cho phù hợp; hiện tại tất cả học phần đều được phân bổ theo tiêu chuẩn là 3 tín chỉ, một kiểu “ăn đồng chia đều”. Chính kiểu phân chia như thế đã tạo cho sinh viên cảm giác xem thường, dẫn đến chai lì bởi họ đã không xác định được môn nào quan trọng hơn, ngay chính cả những môn chuyên ngành. Không xác định được môn nào là chuyên ngành, môn nào là quan trọng nên rốt cuộc việc học, mặc dù là tín chỉ, đối với đa số sinh viên chỉ là “cỡi ngựa xem hoa”, chỉ trừ một số trường hợp cá biệt sinh viên có năng lực và đam mê đặc biệt - mà giáo dục thì không phải chỉ dành để giảng dạy cho những trường hợp cá biệt như thế.
Thứ hai, cũng kiểu phân chia học phần và tín chỉ thế nhưng tất cả các trường đại học bên ngoài, ngay cả bên Mỹ, thì sinh viên đều có quyền đăng ký và chọn lựa bất cứ học phần nào thích hợp với thời gian sinh hoạt của mình trong năm học ấy. Trong khi đang học năm nhất họ vẫn có thể đăng ký học các học phần của năm thứ 2, 3…, miễn sao hoàn tất được các yêu cầu của nhà trường, tất nhiên thời gian đăng ký cũng vô cùng linh động, thoải mái. Điều đặc biệt là sinh viên có thể lựa chọn giảng viên mà mình thích đối với học phần nào đó, nếu không thích giảng viên đó thì họ có thể chuyển đến học kỳ sau.
Thứ ba là khi đăng ký học ngành nào, học viên đều được cung cấp chương trình về học phần đó trước một thời gian dài, kể cả danh sách giảng viên nào sẽ giảng dạy các học phần đó để học viên có thể sắp xếp và theo học. Hoàn toàn không có vấn đề đến ngày học rồi mà học viên không biết là học cái gì và do ai giảng dạy như HV hiện nay.
Thư tư là vấn đề giáo trình được sử dụng trong giảng dạy của các ngôi trường đều được thống nhất, nói khác hơn là họ có một bộ giáo án chuẩn để làm cơ sở cho tất cả các giảng viên giảng dạy. Có thể mỗi giảng viên có những phong cách và phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khác nhau nhưng nội dung thì cần phải thống nhất, và tất nhiên không có vấn đề ai giảng vấn đề nào thì tự soạn đề tài ấy theo cách hiểu của mình. Chính vì không thống nhất nội dung giảng dạy và quy cách nghiên cứu nên cùng một học phần nhưng mỗi giáo viên dạy mỗi lớp mỗi kiểu, đến khi làm những bài luận văn nghiên cứu thì học viên không biết làm theo kiểu nào, bởi vì đúng với vị này thì sai với vị kia. Đây là một nỗi khổ tâm của những học viên trong nghiên cứu.
Thứ năm là vấn đề nghiên cứu. Một khi đi theo con đường giáo dục tín chỉ thì đồng nghĩa học là nghiên cứu, sinh viên học ở trường một thì phải nghiên cứu ở nhà mười, có như thế mới thành công. Tuy nhiên, để đạt được như thế thì giảng viên phải có phương pháp và trình độ tương ứng để giảng dạy bởi mỗi học viên bây giờ vẫn còn đang trong quá trình học tập để nghiên cứu chứ chưa phải thực sự là nhà nghiên cứu. Nếu ngay những kiến thức ban đầu không được tiếp nhận vững vàng thì những vấn đề nghiên cứu về sau làm sao thông suốt. Thế cho nên, một mặt học viên cần phải nhận thức được công việc học tập của mình, một mặt giảng viên cần phải hoàn thiện kỷ năng và phương pháp giáo dục, đồng thời nhà trường cần phải có sự quan tâm trong công tác giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên. (Một giảng viên giảng bài không tốt, không đúng với chuyên môn thì không thể trình bày, lột tả hết vấn đề để học viên hiểu. Không hiểu thì làm bài sẽ không đạt kết quả, rớt tín chỉ và tất nhiên mọi thiệt thòi đều do chính học viên gánh chịu). Vậy để phương châm “học là nghiên cứu” đạt kết quả tốt thì mỗi học viên học ở lớp một làm việc ở nhà mười, tương ứng như vậy vị giảng viên dạy ở lớp một thì làm việc ở nhà một trăm. Có như thế, học viên không ỷ lại vào giảng viên và giảng viên cũng không phó mặc cho học viên.
2. Về Nội Dung Giảng Dạy
Hiện nay, ngoài một số môn ngoại điển bắt buộc theo chương trình của bộ Giáo dục và Đào tạo thì phần lớn các môn học đều được xây dựng đúng chuyên ngành của nó. Có thể nói là nội dung học đã phong phú hơn rất nhiều đối với những chương trình và các cấp học trước đó với rất nhiều học phần đã đặt ra.
Tuy nhiên, hiện nay đa phần các môn giảng dạy đều không có giáo trình và nội dung không được chuẩn bị từ trước cho nên, nếu giảng viên làm việc nghiêm túc thì sinh viên có thể tiếp thu còn nếu như ngược lại thì phần lớn thời gian lên lớp chỉ là cho qua loa, bàn luận mông lung để giết chết thời gian. Có vào học những lớp không có giáo trình và không được chuẩn bị nội dung mới thấy ngán ngẫm cho hệ thống đào tạo của chúng ta. Chưa có giáo trình, giáo viên lại thiếu, đã thế, mỗi lần có giáo viên nào làm việc không nghiêm túc nhà trường lại thiếu sự quan tâm hoặc lại không dám lên tiếng bởi chỉ đơn giản là “sợ mất lòng”.
Như đã nói, giáo dục là phải biết tiếp nhận bảo trì giá trị truyền thống (cái đã qua) và đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi (những cái mới) của thời đại. Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại cũng như thế. Ngoài việc giảng dạy các nền tảng giáo lý, các luận bộ và các vấn đề liên quan đến văn hóa nghệ thuật Phật giáo cổ xưa một cách trung thành thì nội dung giảng dạy, thiết nghĩ, cần phải được mở rộng, đào sâu vào các vấn đề cuộc sống và cần phải thấy rằng những nội dung giảng dạy ấy là thiết thực, phù hợp với cuộc sống hôm nay chứ không chỉ đơn thuần là trùng tuyên lời Phật dạy một cách khô khan cứng nhắc.
Ngoài ra, cần phải đưa vào chương trình giảng dạy những môn đạo đức học ứng dụng để huấn luyện và trau dồi thân tâm cho tăng ni sinh. Chúng ta đều biết rằng những tăng ni chúng ta học là để giải thoát và đi hành hóa chứ không chỉ đơn thuần là đi công tác như những sinh viên bên ngoài. Do đó, ngoài việc giảng dạy những kiến thức cơ bản của Phật pháp thì vấn đề đạo đức và căn bản phạm hạnh của một tăng ni không thể nào không có.
Đã có những vị tăng ni học rất nhiều nhưng khi gặp vấn đề lại không thể giải quyết chỉ bởi vì “điều ấy chưa học”, hoặc không thể đem giáo lý cao siêu mầu nhiệm truyền bá cho chúng sinh bởi vì nó “khô khan quá”. “Chưa học”, ấy là bởi nội dung của giáo dục; “khô khan” ấy là bởi phương pháp giáo dục. Có nội dung, có phương pháp thì vấn đề không còn khó khăn và khô khan nữa.
3. Từ những vấn đề nêu trên, ở đây xin đưa mấy vấn đề góp ý:
Thứ nhất, cần phải xây dựng hệ thống tín chỉ của mỗi học phần tùy theo tính chất quan trọng của nó. Nếu là học phần quan trọng thì phải tăng thêm tín chỉ để nghiên cứu và đào sâu vào vấn đề giúp cho học viên hiểu rõ ràng, tránh sự đồng hóa giữa các môn học.
Thứ hai, phải có giờ học, lớp học phong phú để cho học viên lựa chọn, cũng như lựa chọn giảng viên.
Thứ ba, cần phải hoàn thiện các chương trình học và giáo trình để cung cấp cho học viên trước mỗi kỳ học ít nhất là ba tháng.
Thứ tư, cần có một bộ giáo trình chuẩn và thống nhất về quy cách nghiên cứu giữa các giảng viên để sinh viên không bỡ ngỡ và khó khăn khi làm các bài.
Thứ năm, cần phải làm mới các giáo trình cho phù hợp với thực tế, mạnh dạn nêu các vấn đề của cuộc sống ngày nay vào bài giảng, đưa những môn học đạo đức ứng dụng vào chương trình để tăng thêm phẩm hạnh cho tăng ni sinh.
Thứ sáu, những tăng ni sinh viên hôm nay có thể là giảng viên ngày mai cho nên tất cả sinh viên đều cần phải được đào tạo theo đúng quy cách sư phạm. Do đó, cần phải có những lớp bồi dưỡng nghiệp vụ để nâng cao nhận thức và nghiệp vụ chuyên môn đối với giảng viên cũng như tăng ni sinh viên.
Thứ bảy, nhà trường giảng viên và sinh viên cần phải có sự quan tâm, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác học tập cũng như giảng dạy để công tác giáo dục được hoàn thiện tốt đẹp.
Có như thế, công tác giáo dục của chúng ta mới có thể tiến triển tốt đẹp, đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thời đại cũng như thỏa chí ước mong của tăng ni phật tử chúng ta. Với những năng lực và oai đức của quý Ngài cùng với sự nhiệt tình và năng nỗ của tăng ni sinh trẻ ngày nay, mong sao trong một thời gian ngắn nhà trường sẽ vượt qua những khó khăn trong hiện tại để đem đến cho những học viên những chương trình và nội dung phong phú nhất như chính nhà trường và các học viên đã từng mong ước.
Tăng sinh Thích Nguyên Tuấn