1. Hành Trang: Chữ tài, chữ mệnh, chữ tâm
Trăm năm trong cõi ngườita
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Bắt đầutruyện Kiều, tác giả nêu lên tư tưởng tài mệnh tương đố, tài năngvà số mệnh đố kỵ nhau. Cố nhiên, qua truyện Kiều, ta có thể thấy tác giảlà một thi sĩ đại tài. Nguyễn Du nói tới kinh nghiệm trực tiếp của mìnhchứ không phải nói tới một sự thực ở ngoài.
Nhữngngười có tài và có sắc được thi sĩ cho đứng về phía màu hồng. Màu hồng kỵvới màu xanh, đại diện cho ông trời, tạo hóa. Ông trời sẽ đi theo ‘đánhghen’, đày đọa những người có tài, có sắc bằng cách phó cho họ một số phậntrớ trêu. ‘Má hồng’ không phải chỉ là đàn bà. Ðàn ông có tài sắcthì cũng là một thứ ‘má hồng’, bị số phận làm cho điêu đứng. Ðó làquan niệm của Nguyễn Du.
Kết thúctruyện Kiều, câu 3247, cụ Nguyễn Du trở lại ý niệm về tài và mệnh. Cụtrình bày quan niệm luân lý của mình như sau:
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Cụkhuyên chúng ta không nên cậy vào tài mình. Bởi vì khi có tài mà không cóđức, không tu, không biết giấu tài của mình đi mà cứ khoe khoang, hợmhỉnh, cho mình là giỏi, thì tai nạn sẽ đến với mình và mình sẽ đau khổ rấtnhiều. ‘chữ tài liền với chữ tai một vần’ là một câu chơi chữ rấtkhéo. Và mầm mống của những tai nạn, khổ đau kia đến từ đầu? Cụ Nguyễn Dunói đừng đổ lỗi cho ai hết. ‘Ðã mang lấy nghiệp vào thân’: khi mìnhđã có những tham, giận, kiêu căng trong người rồi, thì: ‘Cũng đừngtrách lẫn trời gần trời xa’: đừng đổ lỗi cho ai hế, đừng trách trời.Tại sao mình đau khổ? Mình nói: tại trời, tại xã hội, tại người này, ngườikia... Kỳ thực mình chịu trách nhiệm lớn về những đau khổ của mình. Vì vậymình phải quay về tu sửa tâm mình, vun bồi gốc rẽ của cái thiện trong tâmmình. Ðó là vấn đề tu tâm (citta bhavana). Thiện căn (kusalamula) là mộtdanh từ Phật học, có nghĩa là gốc rễ của cái thiện. Cụ Nguyễn Du thấy tutâm là điều quá trình phải làm. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kiamới bằng ba chữ tài: một người có tâm lành, biết tu học thì sẽ có hạnhphúc và mang lại hạnh phúc cho người khác nhiều hơn (bằng ba) những ngườicó tài mà không có tâm lành.
Gửi gắm rất nhiều kinh nghiệm hạnh phúc và khổ đau của mình cho chúng tarồi, thi sĩ kết thúc truyện Kiều bằng hai câu khiêm nhượng như cụ từngkhuyên chúng ta:
Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.
Và cũng thật đẹp khi một tác phẩm lớn như truyện Kiều lại được kết thúcbằng hai cau giản dị và khiêm nhượng như vậy.
Sau khiviết xong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du có cơ hội được học Phật thêm rấtnhiều. Kiến thức về đạo Phật của Nguyễn Du sau truyện Kiều sâu sắc hơn. Cóvài danh từ Phật học trong truyện Kiều chưa được hoàn toàn chính xác (Vídụ như chữ nghiệp và tâm trong đoạn vừa trích dẫn). Chúng tasẽ thấy ở phần sau.