Nước trôi hoa rụng.
Nước trôi hoa rụng đã yên,
Kiều chưa chết nhưng với chàng Thúc thì Kiều đã chết rồi. Nước đã trôi,hoa đã rụng! Và mình chấp nhận sự thật đó. Con người vô minh chưa! Ngườita chưa chết mà mình cứ nghĩ rằng người ta đã chết rồi và đành lòng chấpnhận sự chết. Nếu có quán chiếu chúng ta sẽ thấy câu rất thật. Người kiacó thể là chưa chết nhưng cách sống của mình và cách đối xử của mình chứngtỏ là người đó đã chết rồi. Dầu người kia đã chết, đã làm giấy khai tử,chính mắt mình thấy người đó đã được hỏa thiêu, nhưng chưa chắc người đóđã không còn. Người đó có thể đang còn có mặt trong nhiều cách thức. Đangcòn trong tự thân mình, và đang còn trong thế giới. Trong Kinh Bụt dạy sựvật vô thường nhưng sự vật không đoạn diệt. Chấp về thường là một tháicực. Chấp về đoạn là một thái cực khác. Chấp rằng con người sẽ như vậy chođến vô biên, không thay đổi trong tương lai là chấp thường. Chấp rằng khicon người chết là không còn gì nữa là chấp đoạn. Con đường Bụt dạy làTrung Đạo. Thực tại không phải thường (permannence) mà cũng phải đoạn(annihilation). Trước khi chết cũng vậy. Sau khi chết cũng vậy. Chúng taphải có trí huệ trong cách đối xử để có thể sống phù hợp với chân lý đó.Khi người kia đang sống, ta phải nhìn người kia với con mặt không thườngkhông đoạn. Sau khi người kia chết rồi mình cũng phải nhìn người kia vớicon mắt không thường không đoạn. Tuệ giác đó sẽ đem lại cho chúng ta bìnhan, hạnh phúc, không tiếc nuối.
Nước trôi hoa rụng đã yên,
Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian.
Địa ngục Thúy Kiều đang đi qua không phải ở dưới cửu tuyền mà ở ngay bêncạnh Thúc Sinh. 'Địa ngục ở miền nhân gian' là một sự thật. Chiếntranh, nghèo khổ, áp bức, tham lam, giận dữ, si mê... là địa ngục ởmiền nhân gian. Nếu không khéo thì nội trong nửa giờ đồng hồi nữa mìnhđã có thể đi vào địa ngục. Người ta nói một câu làm cho mình nổi sân nổisi lên. Đó là địa ngục chứ gì nữa! Đừng nghĩ rằng địa ngục là cái mình sẽchứng nghiệm sau khi chết. Địa ngục là cái mình có thể chứng nghiệm ngaybây giờ. Địa ngục ở khắp nơi trên trái đấy và ngay trong lòng mình.
Khuyển Ưng đã đắt mưu gian,
Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Buồm cao lèo thẳng cánh suyền115
Đè chừng huyện Tích băng miền vượt sang.
Giã đò lên trước sảnh đường,
Khuyển Ưng hai đứa nộp nàng dâng công.
Kiều được mang đến nộp cho bà lớn, mẹ của Hoạn Thư.
Vực nàng tạm xuống môn phòng,
Hãy còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.
Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai,116
Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây?
Hoàng lương (giấc kê vàng) là giấc mộng trong đó thăng trầm, thay đổi củamột đời người xảy ra trong thời gian nấu chưa chín một nồi chè kê. Kê làmột loại ngũ cốc, nấu sôi đặc lại rồi lại loãng ra đến mấy lần mới chín.Ngày xưa có một chàng sinh viên họ Lư thi hỏng. Trên đường về, mệt nhọc vàbuồn bã chàng ghé vào một quán cơm. Một đạo sĩ trong quán nhường cái gốicủa mình cho Lư Sinh gối đầu nằm nghỉ trong khi chủ quán bắt đầu nấu mộtnồi kê cho khách. Sinh thiếp đi, thấy mình đi thi, đỗ tiến sĩ, được vua cửlàm quan, cưới một người vợ đẹp và giàu; vinh hiển trong hai mươi năm, convà rể đều làm quan to. Giật mình tỉnh dậy, thấy nồi kê của ông chủ quánvẫn chưa chín. Thời gian trong giấc mộng là hai mươi mấy năm. Thời gianthật của sự sống là chưa chín một nồi kê. Sinh bàng hoàng tự hỏi: 'Việcđó là chuyện mộng ư?' Đạo sĩ cười: 'Việc đời thì cũng như mộng vậythôi!'
Bàng hoàng dở tỉnh dở say,
Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu
Ả hòan liền xuống giục mau,
Hãi hùng nàng mới theo sau một người.
Ngước trông tòa rộng dãy dài,
Thiên quan chủng tể có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.
Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra,
Sự tình nàng phải cứ mà gởi thưa.
Thúy Kiều trả lời những câu hỏi của bà lớn, mẹ của Hoạn Thư, một cách đànghoàng, có nhân cách. Dầu sao bây giờ Kiều cũng là vợ của một thương gia cóvai vế trong xã hội, nàng có thể nói rõ ràng nguồn gốc của mình mà khôngcó mặc cảm gì. thấy Thúy Kiều không sợ hãi, khúm núm, bà lớn nổi giận:
Bất tình nổi trận mây mưa,
Mắng rằng: 'Những giống bơ thờ quen thân.
'Con này chẳng phải thiện nhân,
'Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng.
'Ra phường mèo mả gà đồng,
'Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.
'Đã đem mình bán cửa tao,
'Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này!
'Nào là gia pháp nọ bay!
'Hãy cho ba chục biết tay một lần.'
Thật ra không phải vì Thúy Kiều không khúm núm với tư cách một nô lệ bịbán mà bà lớn nổi giận. Bà chỉ viện cớ để trả thù cho con gái. Con gáikhóc: 'Con khổ lắm! Ảnh thế này, thế kia... Con đàn bà kia nó cướp chồngcủa con...' Trong lòng bà chỉ có nỗi khổ của con gái. Niềm đau khổ củaKiều bà không thấu được. Dầu Kiều có kể hết ngọn nguồn của mình bà cũngkhông nghe lọt lỗ tai. Khi người ta đã đầy những ý kiến và cảm xúc rồi thìmình không thể nói vô thêm được gì nữa cả. Không nên nói gì lúc đó, vì nóicũng không ích gì. Phải đợi cho người kia lưng lại nửa túi (lưng túi) thìmới nói gì được. Đó là một bài học.
Ả hoàn trên dưới dạ rân,
Dẫu rằng trăm miệng khôn phân lẽ nào!
Trúc côn ra sức đập vào
Thịt nào chẳng nát da nào chẳng kinh.
Xót thay đào lý một cành,
Một cơn mưa gió tan tành một phen!
Đây là một trong những nỗi khổ nhục của kiếp người. Không phải chỉ riêngKiều gánh chịu. Khi người ta đồng nhất mình với một phe để biểu lộ tìnhcảm thương hay ghét của mình, khi người ta không muốn lắng nghe và tìmhiểu thì dù có một trăm cái miệng mình cũng không thể nào bày tỏ được nỗioan. Mình có cảm tưởng uất ức, nhục nhã như bị hải tặc hãm hiếp. Đàn ôngcũng như đàn bà, người trẻ cũng như người già, không ai tránh khỏi nhữngcơn ô nhục như vậy. Đó là chuyện rất người! Khác nhau là ở chỗ có tu haykhông tu. Nếu có tu thì mình sẽ đi qua giai đoạn đó một cách nhẹ nhàng, ítkhó khăn. Còn nếu không tu thì mình sẽ đau khổ bằng trăm bằng ngàn lần.
Thái độ ả hoàn là thái độ của người nô lệ, không có chủ quyền. Bị khốngchế bởi những cảm xúc, phẫn nộ, yêu và ghét của đám đông và của chínhmình, con người có thể trở thành công cụ của bạo hành. trước những nhụcnhã, bất công và bức bách mà xã hội đã dành phần sẵn cho mỗi chúng ta,chúng ta phải làm gì? Ta không thể cam lòng đánh mất mình. Thái độ củangười tu là thái độ dũng mãnh của người biết nắm lấy thân tâm đi trong cơnlốc của những cảm xúc, ghét, thương, phẫn nộ và mặc cảm bên trong hay bênngoài mình. thực tập chánh niệm và chánh kiến chúng ta sẽ có rất nhiều tựdo để đi qua những thăng trầm kia một cách nhẹ nhàng. Nếu không tu chúngta sẽ 'một phen mưa gió tan tành một phen'. Hai phen mưa gió tantành hai phen, ba phen mưa gió tan tành ba phen... Phải cẩn thận lắm mớiđược!
Hoa Nô truyền dạy đổi tên
Buồng the dạy ép vào phiên thị tì.
Ra vào theo lũ thanh y
Dãi dầu tóc rối da chì quán bao.
Thế đứng của Thúy Kiều bây giờ là con ở. Chịu đựng những khổ nhục và vấtvả của giới thị tì. Chúng ta nên biết con ở của thời xưa không phải làngười giúp việc ngày hôm nay nói nặng tới họ thì hoặc họ gọi cảnh sát,hoặc la mắng lại hay không chịu làm nữa. Họ có quyền bình đẳng. Nhưng thânphận người ở ngày xưa là thân phận người nô lệ. Họ phải chịu đánh đập vàhành hạ mà không có quyền lên tiếng đòi nhân quyền.
Quản gia có một mụ nào,
Thấy người thấy nết ra vào mà thương.
Khi chè chén khi thuốc thang,
Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh.
Bà quản gia nhà họ Hoạn thấy dáng điệu và nết na của Thúy Kiều thì đặcbiệt đem lòng thương. Bà đã săn sóc, thuốc thang, an ủi và khuyên nhủKiều. Trong nguyên lục Kiều chỉ bị đánh hai chục roi, thay vì ba chục roi.Khiêng xuống, bà quản gia lấy rượu trắng hâm nóng, khuấy vào vài muỗngđường cho Kiều uống. Kiều nói: 'Con không uống được. Tim con đang tức,uống vô không nổi.' - 'Con uống đi nếu không sẽ chết đó! Uống cái này chomáu huyết lưu thông thì con sẽ sống được.' Kiều ráng uống được nửa bátrượu đó thì máu huyết chảy lại đàng hoàng, tim bớt tức. Kiều lại muốnchết. Bà quản gia khuyên: 'Con đừng chết ở đây. Con chết ở đây thìkhông có nghĩa lý gì cả, bất quá chỉ như con chó hay con gà chết thôi.Không ai để ý, không ai thương xót. Nhìn con thím biết con là con nhà đànghoàng, sau này sẽ có tương lai. con nên giữ lấy thân con, đợi có cơ hộithoát ra khỏi cái cũi, cái lồng này.' 'Đem lời phương tiện mở đường hiếusinh.' Bà quản gia này có Phật tâm trong lòng. Phương tiện và hiếusinh là hai từ nhà Phật. Dùng pháp môn phương tiện, lựa lời khuyên nhủ. Mởđường hiếu sinh là bảo vệ sự sống, là biết thương lấy con người và mọiloài.
Dạy rằng: 'May rủi đã đành,
'Liễu bồ mình giữ lấy mình cho hay.
'Cũng là oan nghiệt chi đây,
'Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng.
Phải có những oan nghiệp trong quá khứ nên ta mới phải trả cái quả ngàyhôm nay. Không phải tự nhiên mà mình lại gánh chịu những oan khổ này. Nếuhôm nay mình bị khổ là vì trong quá khứ mình đã có gây những nghiệp khônglành. Vì vậy mình phải biết chấp nhận cái khổ đó và tìm cách chuyển hóa.Trốn chạy không giải quyết được vấn đề. Chẳng dưng nghĩa là khôngphải tự nhiên mà xảy ra như vậy. Cái gì cũng có nguyên do. Nếu quý vị cóđau đầu, nhức mỏi hay bị người la mắng... thì đều có nguyên do hết, khôngphải tự nhiên mà xảy ra như vậy.
'Ở đây tai vách mạch rừng,
'Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi.
'Kẻo khi sấm sét bất kỳ,
'Con ong cái kiến kêu gì được oan!'
Hình như bà quản gia biết chuyện. Bà khuyên Kiều phải cẩn thận, có gặpngười quen cũ (cố nhân) thì cũng đừng nhìn. Bà là một người có lòng thươngđối với Thúy Kiều. Lâu lâu ở trên đời mình được gặp một người như vậy vàmình biết mình có may mắn. Có những người đi suốt cuộc đời không bao giờgặp một người biết thương mình như vậy. Bà quản gia là một vị Bồ-tát.
Nàng càng giọt ngọc như chan,
Nỗi lòng luống những bàn hoàn117niềm tây:
'Phong trần kiếp chịu đã đầy,
'Lầm than lại có thứ này bằng hai.
'Phận sao bạc chẳng vừa thôi,
'Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan.
Bạc tức là mỏng. Người có hạnh phúc, may mắn thì gọi là có đức dày (đônhậu) Ăn ở cho đôn hậu và cho có tình thì số phận mình sẽ không bạc (mỏng).Ngày xưa Kiều đã nói thân phận mình mỏng như cánh con chuồn chuồn (Nghĩmình phận mỏng cánh chuồn.) Phận Kiều mỏng là vì Kiều không có đức.Đức có là do chuyện tu hành. Thương người nhiều thì tự nhiên có đức dày.Phận mình sẽ từ từ dày thêm lên.
'Đã đành túc trái tiền oan,
'Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi!'
Đó là giai đoạn Kiều làm đầy tớ trong dinh quan Lại Bộ.
Một hôm Hoạn Thư về thăm mẹ.
Những là nương náu qua thì,
Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia.
Mẹ con trò chuyện lân la,
Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời:
'Tiểu thư dưới trướng thiếu người,
'Cho về bên ấy theo đòi lầu trang.
Lĩnh lời nàng mới theo sang,
Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu!
Kiều vâng lời theo Hoạn Thư về. Kiều vẫn chưa biết là mình đang đi về đâu.Mờ mờ, mịt mịt đi trong cõi mơ hồ. Trong Qui Sơn Cảnh Sách, ThầyQuy Sơn nói: 'Tiền lộ mang mang bất tri hà vãng': đường trước mờmờ, không biết về đâu. Đó đúng là tình trạng của Thúy Kiều. Mình khôngphải là mình. Minh hoàn toàn bị hoàn cảnh kéo đi. Không tự chủ được, mìnhkhông biết mình đang đi về đâu. Đó cũng là hoàn cảnh của nhân loại. Nhânloại bây giờ đang đi về đâu? Tiền lộ mang mang bất tri hà vãng. Trong cửathiền có câu truyện một anh chàng cưỡi ngựa. Con ngựa phóng rất mau. Mộtngười quen đứng bên đường hỏi vói theo: 'Anh đi đâu đó?' Anh tangoái cổ lại: 'Tôi không biết, anh hỏi con ngựa.' Con ngựa đưa anhta đi đâu thì anh đi đó. Con ngựa nắm chủ quyền. Anh không kiểm soát đượccon ngựa. ' Cũng liều đánh mắt đưa chân, Mà xem con tạo xoay vần đếnđâu.’ Là những câu cho thấy mình không nắm được chủ quyền cuộc đờimình. Sóng gió cuộc đời đẩy mình đi đâu thì mình theo đó thôi. Đây là mộttình trạng khổ đau của con người. Người tu phải nắm lấy vận của mình. Phảibiết mình đang đi về đâu. Đừng để thời thế, hoàn cảnh kéo đi. Trong hoàncảnh nào, thời thế nào, mình cũng phải nắm lấy vận mạng của mình. Bướctừng bước do ý chí của mình chứ không phải làm theo sự sai khiến của họ.Đó là nắm lấy chủ quyền của mình. Thúy Kiều sở dĩ khổ là vì Thúy Kiềukhông nắm lấy được chủ quyền của mình.
Sớm khuya khăn mặt lược đầu,
Phận con hầu giữ con hầu dám sai.
Một hôm Hoạn Thư hỏi về nghề đàn của Kiều:
Phải đêm êm ả chiều trời,
Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày.
Lĩnh lời nàng mới lựa dây.
Nỉ non thánh thót dễ say lòng người!
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.
Biết tài đàn của Kiều, Hoạn Thư cũng thương thương và bớt phần nghiêmkhắc.
Cửa người đày đọa chút thân,
Sớm năn nỉ bóng đêm ân hận lòng.
Lâm Truy chút nghĩa đèo bòng,
Nước non để chữ tương phùng kiếp sau!
Bốn phương mây trắng một màu,
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà?
Thui thủi. Gậm nhấm trong lòng với những nhớ thương, buồn tuổi. Đó là tìnhtrạng Kiều với tư cách con ở.
Bây giờ nói về tình trạng của Thúc Sinh:
Lần lần tháng trọn ngày qua,
Nỗi gần nào biết đường xa thế này.
Lâm truy từ thở uyên bay,
Phòng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
Mây xanh trăng mới in ngần,
Phấn thưa hương cũ bội phần xót xa.
Nhìn thấy vầng trăng non thì chàng nhớ lông mày của Thúy Kiều. Nhìn nhữnghộp phấn và những chai nước hoa của Kiều thì lại càng xót xa. Nhà đã cháyrồi, không biết tại sao lại còn phấn, còn hương? Chắc là thi sĩ tưởngtượng ra chứ làm gì có thiệt!
Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.
Tìm đâu cho thấy cố nhân?
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương.
Cứ như vậy mà qua hết một năm. Bây giờ đến lúc Thúc Sinh nhớ vợ. Trở về VôTích:
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiêu thư đón cửa giã giề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Tiểu thư ra đón rất nồng nhiệt. Nói chuyện trên trời dưới biển, rồi cuốicùng gọi con đầy tớ mới chào chủ:
Nhà hương cao cuốn bức là,
Phòng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng,
Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
Mỗi bước đi ra là lại càng thấy rõ, Kiều nhận ra ông chủ của mình là ThúcSinh. Không thể lầm được. Càng bước càng sợ, không dám bước thêm nhưng vẫnphải bước vì bà chủ đã gọi. ‘Bước ra một bước một dừng. Trông xa nàngđã tỏ chừng nẻo xa.’ Nhiều cặp chữ lặp lại một cách khéo léo trong câunày chứng tỏ sự ngần ngại, giật tới, giật lui trong bước chân cũng nhưtrong tâm trạng Thúy Kiều.
‘Phải chăng nắng quái đèn lòa,
‘Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
‘Bây giờ tình mới tỏ tình,
‘Thôi thôi đã mắc vào vòng chẳng sai!
Bây giờ mới hiểu: Mình bị mắc mưu. Đây cũng là một sự giác ngộ.
‘Chước đâu có chước lạ đời,
‘Người đâu mà lại có người tinh ma!
‘Rõ ràng thật lứa đôi ta,
‘Làm cho con ở chúa nhà đôi nơi.
Một cặp vợ chồng vừa đôi phải lứa mà phải đóng vai một bên là con ở, mộtbên là chủ nhà. Con ở với chủ nhà là một trời một vực. Nên nhớ rằng chế độcủa người giúp việc ngày hôm nay. Không có sự bình đẳng. Giống như ở ẤnĐộ, giai cấp cùng đinh không thể nào nói chuyện, đối diện hay đụng vàogiai cấp Bà-la-môn. Khi đã bị liệt vào hàng nô lệ rồi thì chuyện nhậnngười kia là chồng cũ là không thể được. Nếu không hiểu bản chất của giaicấp thì không hiểu thấu chuyện này. Âm mưu của Hoạn Thư là làm cho mộtngười biến thành con ở để hai bên hoàn toàn bị xa cách, hoàn toàn viễn lynhau.
‘Bề ngoài thơn thớt nói cười,
‘Bề trong nham hiêm giết người không dao.
‘Bây giờ đất thấp trời cao,
‘Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?’
Cứng miệng. Không thể nói được. Đó là người thương của mình mà mình khôngcó quyền nhìn, quyền nói. Không làm gì được hết!
Càng trông mặt càng ngẩn ngơ,
Ruột tằm đôi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
‘Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
‘Nhân làm sao đến thế này?
‘Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi!’
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt nước sụt sùi nhỏ ra.
Tồi quá! Sợ quen có nghĩa là chuyện sợ vợ đã thành thói quen rồi. Khôngdám nói gì hết. Anh chàng chỉ biết khóc thôi.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
‘Mới về có việc chi mà động dong?’
Sinh rằng: ‘Hiếu phục vừa xong,
‘Sinh lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên!’
Khen rằng: ‘Hiếu tử đã nên,
‘Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu.’
- ‘Tại sao mới về mà đã khóc?’
- ‘Anh vừa mới mãn tang mẹ. Nhớ mẹ nên anh khóc.’
- ‘Cha! Anh có hiếu dữ ha!’
Toàn là giả dối ác độc với nhau!
Tẩy trần là tiệc rượu để rửa sạch những bụi bặm đường xa. Họ tẩy trần bằngrượu. Không giống với dương chi tinh thủy của chúng ta. Chúng ta tẩy trầnbằng sự thực tập chánh niệm.
Vợ chồng chén tạc chén thù,118
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.119
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
- Hoạn Thư bắt bẻ Kiều từng ly từng tý: ‘Rót rượu cho chàng thì phảiquỳ trước mặt chàng mà rót. Mời thì phải mời tận tay chứ không được đểtrên bàn.’ Chủ ý là để làm nhục cô gái kia. Càng bắt bẻ hành hạ Kiềuchừng nào thì anh chàng càng đau khổ chừng đó.
Sinh càng như dại như ngây,
Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã giạm bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: ‘Con Hoa!
‘Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn.!
Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Sợ người yêu bị đánh thành ra khi được mời chén nào anh chàng cũng phảiráng mà nuốt cho cạn chén ấy. Ngậm cái đắng nuốt vào. Thấy bi kịch xảy ranhư vậy, Hoạn Thư vẫn tỉnh bơ, giả bộ như không biết hai người đang đaukhổ cực kỳ.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: ‘Hoa Nô đủ mọi tài,
‘Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe!’
Nàng đà tán hoán tê mê
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn:
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!
Lòng của Thúy Kiều rất xót xa nên đã làm phát hiện trên bản đàn bao nhiêulà tức tối, khổ đau. Thúc sinh càng nghe càng thấy tan nát trong lòng.
Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Cùng một bản đàn mà người thì rất khoái, người thì đau khổ tan nát. Ngườingoài cuộc (Hoạn Thư) thì cười nụ. Người trong cuộc (Kiều và Thúc sinh)thì phải khóc thầm. Đó là duy tâm. Cùng một đám mây đó mà người trông thìthấy nhớ nhà, người thì mừng là trời sắp mưa, lúa sẽ mọc. Cùng một hoàncảnh mà người thì khổ đau, người thì sung sướng.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.
Không kiểm soát được nữa, anh chàng rơi lệ, phải cúi đầu xuống lau nướcmắt.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
‘Cuộc vui gảy khúc đoạn tràng ấy chi!
‘Sao chẳng biết ý tứ gì?
‘Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi.’
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng tấp tểnh mừng thầm:
‘Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay!’
Họ uống tới nửa đêm. Hoạn Thư nhìn mặt Thúc sinh thấy đau khổ đã lên tớicùng tột rồi thì trong lòng rất đã. Lâu nay đau khổ cực kỳ, tối nay mìnhmới có dịp trả thù. Cái vui của mình được làm bằng niềm đau của ngườikhác. Đây là niềm vui không có bản chất tu tập, không có bản chất trí tuệ.Chính cái vui này sẽ đem lại những tai nạn cho Hoạn Thư sau này. Ngaytrong hiện tại, Hoạn Thư cũng đang đánh mất chồng mình và trở nên mộtngười rất cô đơn. Cái vui vẻ, săn đón của hai vợ chồng này không thật,mang đầy sự chịu đựng và oán trách. Gần nhau nhưng thật sự họ đã mất nhau.Đánh mất nhau, họ đánh mất hạnh phúc của chính mình.
Sinh càng gan héo ruột đầy,
Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài.
Tối hôm đó Kiều thức suốt đêm.
Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
Chước đâu rẽ thúy chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai!
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi!
Nhẹ như bấc nặng như chì,
Gở cho ra nợ còn gì là duyên?
Lở làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?
Một mình ầm ỷ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh.
Đó là nỗi khổ của cái đêm bị Hoạn Thư trả thù. Bị cướp bắt, bị làm đầy tớ,tuy là khổ nhưng chưa khổ lắm. Cái đêm hầu rượu cho hai người là đêm khổsở nhất. Vừa khổ nhục vừa lo sợ không biết thân phận mình sẽ ra sao.
Đoạn sắp tới là đoạn Thúy Kiều đi tu. Khổ quá chỉ muốn thoát nợ. Đi tunhưng không biết tu như thế nào. Không có thầy dạy thực tập chánh niệm,không biết an trú trong hiện tại thành ra tu không thành công.
Sớm khuya hầu hạ đài doanh,
Tiểu thư chạm mặt đè tình hỏi tra.
- ‘Tại sao cái mặt mày rầu rầu vậy?
Lựa lời nàng mới thưa qua:
‘Phải khi mình lại xót xa nỗi mình.’
Tiểu thư hỏi lại Thúc sinh:
‘Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao!’
Sinh đà nát ruột như bào,
Nói ra chẳng tiện trông vào chẳng đang!
Thúc sinh biết hết tất cả những nỗi đau của Kiều nhưng không nói ra được.Nếu nói: ‘Anh biết cô này từ hồi xưa hồi xưa...’ thì sợ lụy cho Kiều thànhra phải giả bộ tra hỏi.
Nhưng e lại lụy đến nàng,
Đánh liều mới sẽ lựa lời hỏi tra.
Kiều khai hết thân thế mình vào một tờ giấy và trình lên cho Hoạn Thư.
Cúi đầu quỳ trước sân hoa,
Thân cung nàng mới dâng qua một tờ.
Diện tiền trình với tiểu thư,
Thoát xem dường có ngẩn ngơ chút tình.
Liền tay trao lại Thúc sinh,
Rằng: ‘Tài nên trọng mà tình nên thương!
‘Ví chăng có số giàu sang,
‘Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên!
Bể trần chìm nổi thuyền quyên,
‘Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời!’
Tài văn chương kỳ này cũng giúp được Kiều. Kỳ trước làm bài thơ vịnh cáigông thì được ông quan phủ chấp nhận, tha bổng và được chính thức hóa choquan hệ với Thúc sinh. Kỳ này viết tờ văn, Hoạn Thư đọc cũng thấy tộinghiệp và tiếc cho người tài. Có tài, có sắc mà không có duyên (thiếunhững điều kiện tốt) cho nên phải khổ đau.
Sinh rằng: ‘Thật có như lời,
- ‘Em nói đúng quá đi!’ (Vì trong lời nói này có chút từ bi.)
‘Hồng nhan bạc mệnh một đời này vay.
‘Nghìn xưa âu cũng thế này,
‘Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa.’
Tiểu thư rằng: ‘Ý trong tờ,
‘Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa Không.
‘Thôi thì thôi cũng chiều lòng,
‘Cũng cho nghĩ nghị trong vòng bước ra.
‘Sẵn Quan âm Các vườn ta,
‘Có cây trăm thước có hoa bốn mùa,
‘Có cổ thụ có sơn hồ,
‘Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh.’
Trong nguyên lục, Hoạn Thư nói: ‘Thôi để em mở cho nó một phía của cáilưới. Cho nó đi tu.’ (Ngày xưa, người ta bẫy thú trong lưới; thỉnhthoảng có người thương những loài vật sẽ bị chết trong lưới săn nên mở chochúng một lối thoát.) Quan Âm Các là ngôi chùa trong vườn nhà HoạnThư. Thúy Kiều được ra ở đó với tư cách trụ trì và lo việc chép kinh. Theonguyên lục, Hoạn Thư khen chữ Kiều đẹp và muốn Kiều chép giùm mình một bộ Kinh Hoa Nghiêm.
Tàng tàng trời mới bình minh,
Hương hoa ngũ cúng sắm sanh lễ thường,
Đưa nàng đến trước Phật đường.
Tam quy ngũ giới cho nàng xuất gia.
Áo xanh đổi lấy cà sa,
Pháp-danh lại đổi ra tên Trạc Tuyền.
Ở đây nói có lễ xuất gia mà không cho biết ai là thầy truyền giới. Và thayvì Thọ Tam Quy và Thập Giới thì Kiều lại thọ Tam Quy và Ngũ Giới. Phápdanh Trạc Tuyền do ai đặt? Theo nguyên lục thì chẳng có thầy nàotới truyền giới cả. Chính cái pháp danh Trạc Tuyền cũng do Thúc sinh đặt.Trong Quan Âm Các, có thờ một tượng Đại Sĩ Quan Âm và trong chánh điện cómột biển treo đề hai chữ Trạc Tuyền. Thúc Sinh mới đề nghị lấy hai chữTrạc Tuyền làm pháp danh cho Kiều. Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh vànhững bài thơ viết về đạo Bụt sau này chứng tỏ cụ Nguyễn Du có một kiếnthức về đạo Bụt khá sâu sắc. Nghe nói khi lìa đời cụ cũng tịch một cách êmái. Khi sáng tác truyện Kiều, kiến thức Phật pháp của cụ còn chưa được sâusắc lắm. Điều đó biểu hiện ở một vài nơi. Triết lý của truyện Kiều phốihợp vừa triết lý đạo Bụt, vừa triết lý Thiên Mệnh, đạo Khổng, đạo Lão;không được mạch lạc rõ ràng. Cụ Nguyễn Du cũng không biết muốn xuất giathì phải thọ mười giới chứ không phải năm giới. Thọ năm giới cũng phải cóthầy truyền giới. Chúng ta có thể sửa lại là: ‘Tam Quy Thập Giới chonàng xuất gia.’ Trạc Tuyền tuy vậy là một pháp danh rất hay. Tuyền là dòng Suối, Trạc là tắm gội. Trạc Tuyền là tắm gội trong dòngsuối, có lẽ là suối Giải Oan. Trong bài tựa Kinh Thủy Sám (Từ Bi TamMuội Thủy Sám Pháp) kể lại tích Quốc sư Ngộ Đạt và mụt ghẻ; lúc thầy Ca Nặc Ca rửa mụt ghẻ cho Quốc sư Ngộ Đạt thầy nói: ‘Tôi xinrửa tạm mụt ghẻ này cho huynh bằng nước ấm có muối. Ngày mai khi trờisáng, tôi sẽ đem huynh xuống dòng suối dưới chân núi. Suối tên là GiảiOan. Lấy nước đó rửa thì thế nào mụt ghẻ cũng lành.’ Nham hạ: dướinúi; Hữu tuyền: có một dòng suối. Minh đán: sáng mai;trạc chi: rửa nó; tắc dũ: thì lành. ‘Dưới núi có một dòngsuối. Sáng mai rửa thì sẽ lành.’ Đó là câu trong bài tựa Kinh ThủySám. Hai chữ Trạc Tuyền là từ câu đó mà ra. Những nỗi oan củanàng Kiều chỉ có thể rửa đi bằng nước của dòng suối từ bi. Từ Bi ThủySám là sám hối bằng nước từ bi.
Giả dụ Hoạn Thư đã có mời một sư bà ở đâu tới làm lễ xuất gia cho ThúyKiều, cho nàng thọ mười giới và sau lễ Truyền Giới sư bà đi mất. Kiều ởlại làm trụ trì Quan Âm Các. Dù có vậy đi nữa thì Kiều tu hành cũng khôngthành công được! Thọ mười giới mà không có ai dạy hành trì giới luật và uynghi, không có ai dạy tụng Kinh, ngồi thiền, thở, đi thiền hành... thìbiết gì mà hành trì? Không có tăng thân cũng không có thầy. Tu như vậy thìthất bại là phải rồi! chúng ta sẽ thấy sự thất bại ấy sau này. Kiều đi tu,mục đích chưa hẳn vì muốn tu. Kiều chỉ muốn thoát khỏi hầm lửa, thoát khỏithân phận đầy tớ mà thôi. Hoạn Thư cũng hơi tội nghiệp nên muốn cho Kiềuthoát, nhưng thoát như thế nào mà vẫn nằm trong sự kiểm soát của mình.Hoạn Thư cung cấp đầy đủ gạo tương, dầu đèn và còn cho Kiều hai người thịgiả:
Sớm khuya tính đủ dầu đèn,
Xuân Thu cắt sẵn hai tên hương trà.