Một xe trong cõi hồng trần như bay.
Đùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay.
Hai câu tả đoàn rước dâu đi trong gió bụi. Đây cũng là thân phận của kiếpngười bị cơn lốc của nghiệp báo cuốn theo. Con người không có năng lực đểlàm chủ lấy mình. Có những đau buồn, tham giận, kiêu căng mà lại thiếu trítuệ, từ bi và sự trầm tĩnh. Đi trong cuộc đời như đi trong một cơnlốc, người ta không có khả năng làm chủ thân tâm. 'Đùng đùng gió giụcmây vần. Một xe trong cõi hồng trần như bay' là số phận chung của tấtcả mọi người. Hồng trần là bụi đỏ, chỉ cuộc đời đau khổ. Mỗi ngườiđang cởi một chiếc xe và đang đi trong cơn lốc của những hạt bụi đỏ. Ngườitu thì sẽ có phương pháp để thắng xe lại, làm chủ tình thế. Người không tuthì ngồi trên xe và bị cuốn theo cơn lốc của bụi hồng. Hai câu thơ này rấthay, có thể viết để treo ở thiền đường.
Và đây là tâm trạng Thúy Kiều khi đang ở trên con đường nghìn dặm:
Trông vời gạt lệ chia tay,
Góc trời thăm thẳm ngày ngày đăm đăm.
Nàng thì dặm khách xa xăm,
Bạc phau cầu giá đen rần ngàn mây.
Vi lô san sát hơi may,
Một trời thu để riêng ai một người.
Sương lạnh đọng trắng trên cầu, bầu trời ảm đạm mây đen. Đó là khung cảnhKiều đang đi ngang qua nhưng cũng là tình trạng bên trong trái tim Kiều -cũng rất lạnh và rất đen. Nội tâm và ngoại vật giống hệt như nhau. Conngười trong cảnh rất cô đơn cho nên cả trời thu đó dường như chỉ để chomột người chịu đựng mà thôi.
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông!
Rừng thu từng biếc chen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn!
Tâm trạng của Kiều luôn luôn có hai nỗi nhớ niềm thương. Một bên là nhớngười yêu, một bên là nhớ cha nhớ mẹ. Tấm lòng thần hôn là tấm lòng hiếuthảo muốn săn sóc sớm chiều cho cha mẹ.
SA VÀO Ổ NHỆN
Đi một tháng thì tới Lâm Truy. Và Thúy Kiều khám phá ra được sự thật làngười ta đã mua cô về để làm gái làng chơi.
Những là lạ nước lạ non
Lâm-Truy vừa một tháng tròn tới nơi.
Xe châu dừng bánh cửa ngoài
Rèm trong đã thấy một người bước ra.
Thoát trông nhờn nhợt màu da,
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?
Đây là bà chủ chứa. Cụ Nguyễn Du tả bà đó cũng ghê!
Trước xe lơi lả han chào
Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi.
Và Thúy Kiều thấy:
Bên thì mấy ả mày ngài,
Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi.
Giữa thì hương lửa hẳn hoi,
Trên treo một tượng trắng đôi lông mày.
Lầu xanh quen lối xưa nay,
Nghề này thì lấy ông này tiên sư.
Thần lông mày trắng (thần bạch mi) là ông thần mà các nhà chứa thờ để ôngphù hộ cho được đông khách. Thúy Kiều không hiểu gì cả. tưởng là vô lạybàn thờ tổ tiên, ai dè là bắt tới lạy cái ông thần lạ kỳ đó!
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
'Cừa hàng buôn bán cho may,
'Đêm đêm hàn thực ngày ngày nguyên tiêu.
'Muôn ngàn người thấy cũng yêu,
'Xôn xao anh yến dập dìu trúc mai!
'Tin nhạn vấn, lá thơ bài,
'Đưa người cửa trước rước người cửa sau!'
Lạ tai nghe chửa biết đâu,
Xem tình ra cũng những màu dở dang.
Kiều không hiểu gì hết! Nàng là một cô gái nhà lành, làm sao hiểu đượcngôn từ của nhà chứa! Nhưng cô càng lúc càng nghi.
Lễ xong hương hỏa gia đường
Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.
Dạy rằng: 'Con lạy mẹ đây,
'Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia.'
Kiều ngạc nhiên:
Nàng rằng: 'Phải bước lưu ly
'Phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh.
'Điều đâu lấy yến làm anh,
'Ngây thơ chẳng biết là danh phận gì?
'Đủ điều nạp thái vu quy,
'Đã khi chung chạ lại khi đứng ngồi.
'Giờ ra thay bậc đổi ngôi,
'Dám xin gởi lại một lời cho minh.'
Mụ nghe nàng nói hay tình,
Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên:
'Này này sự đã quá nhiên,
'Thôi đà cướp sống của min đi rồi!
'Bảo rằng đi dạo lấy người,
'Đem về rước khách kiếm lời mà ăn.
'Tuồng vô nghĩa ở bất nhân,
'Buồn mình trước đã tần mần thử chơi
'Màu hồ đã mất đi rồi,
'Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma.
Giận Mã Giám Sinh quá nhưng bà ta đâu đánh họ Mã liền ngay lúc đó được. TúBà quay sang chửi và đánh Kiều:
'Con kia đã bán cho ta,
'Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây!
'Lão kia có giở bài bây,
'Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe!
Cớ sao chịu tốt một bề,
'Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!
'Phải làm cho biết phép tao!'
Giật bì tiên rắp sấn vào ra tay.
Nàng rằng: 'Trời thẳm đất dày,
Thân này đã bỏ những ngày ra đi!
'Thôi thì thôi có tiếc gì!'
Sẵn dao tay áo tức thì giở ra.
Sợ gan nát ngọc liều hoa,
Mụ còn trông mặt nàng đà quá tay.
Thương ôi tài sắc bậc này.
Một dao oan nghiệt dứt dây phong trần!
Kiều lấy dao ra và đâm vào bụng tự tử. Nàng bị thương rất nặng.
Nỗi oan vở lở xa gần,
Trong nhà người chật một lần như nêm.
Nàng thì bằn bặt giấc tiên,
Mụ thì cầm cập mặt nhìn hồn bay.
Vực nàng vào chốn hiên tây,
Cắt người coi sóc rước thầy thuốc men.
Trong lúc mê man, Đạm Tiên lại hiện ra với Kiều:
Nào hay chưa hết trần duyên,
Trong mê dường đã đứng bên một nàng.
Rỉ rằng: 'Nhân quả dở dang.
'Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao?
'Số nàng nặng nghiệp má đào,
'Người dù muốn quyết trời nào hay cho!
'Hãy xin hết kiếp liễu bồ
'Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.'
Thuốc thang suốt một này thâu,
Giấc mê nghe đã dàu dàu vừa tan.
Tú Bà chực sẵn bên nàn,
Lựa lời khuyên giải mơn man gở dần:
Bây giờ Tú Bà mới biết rằng Kiều rất gan dạ, không thể dùng oai lực mànhiếp phục được. Bà phải vuốt ve:
'Một người dễ có mấy thân,
'Hoa xuân dương nhụy ngày xuân còn dài.
- "Con ơi, con còn trẻ lắm mà! Làm chi như vậy, dại dột lắm con ơi!'
'Cũng là lỡ một lầm hai,
'Đá vàng sao nở ép nài mưa mây.
'Lở chân trót đã vào đây,
'Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non.
'Người còn thì của hãy còn,
'Tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà.
- 'Con là con nhà lành, bác sẽ không ép con làm nghề này dâu! Nhưng con đãlỡ bước vào đây rồi, bác sẽ nuôi con và gã chồng đàng hoàng cho con.' Khônlắm! Ăn thua là để cho Kiều chịu uống thuốc, trị bệnh, sống trước dã rồitính sau!
'Làm chi tội báo oan gia,
'Thiệt mình mà hại đến ta hay gì?'
- 'Nếu con tự tử thì thiệt thân con mà bác đây cũng sẽ khổ đau lắm.'
Kề tai mấy nỗi nằn nì,
Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi.
Thúy Kiều nghe nói thấy cũng đúng và cũng hy vọng Tú Bà sẽ giữ lời. Tronggiấc mộng, Đạm Tiên cho Kiều biết cô có những nghiệp duyên kiếp trước phảiđền trả, không thể tránh khỏi bằng cách chấm dứt sự sống của mình.
Vả trong thần mộng mấy lời,
Túc nhân âu cũng có trời ở trong.
Túc nhân là nghiệp nhân trong quá khứ. Túc là kiếp trước (Ví dụ: Túc mạngthông là hiểu thấu, nhớ được tất cả những kiếp trước.) Trong Kinh có bàikệ:
'Dục tri tiền thế nhân
Kim Sanh thọ giả thị
Dục tri lai thế quá
Kim sanh tác giả thị.'
Nghĩa là: Muốn biết nhân đời trước thì coi quả đời này; muốn biết quả đờisau thì coi nhân đời này.
Dùng chữ trời ở đây là cụ Nguyễn Du muốn cho tới luật nghiệp báo.Trong giai đoạn này, cụ còn trộn lẫn thuyết thiên mạng với thuyết nhânquả. Về sau này, khi Phật học của cụ đã sâu sắc, cụ viết rất khác về tưtưởng nhà Phật.
Kiếp này nợ trả chưa xong,
Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau!
Đây là niềm tin bình dị của xã hội Á Đông ngày xưa: 'Thôi, ráng sống màtrả cho hết nghiệp báo. Chết thì nghiệp báo vẫn còn hoài, kiếp sau thế nàocũng phải trả nợ chồng chất.'
Lặng nghe ngẫm nghĩ gót đầu,
Thưa rằng: 'Ai có muốn đâu thế này.
'Được lời như thế là may.
'Hẳn rằng mai có như rày cho chăng!
'Sợ khi ong bướm đãi đằng,
'Đến điều sống đục sao bằng thác trong!'
Kiều vẫn còn nghi: 'Đâu có ai muốn chết, nhưng sống đục sao bằng tháctrong? Bác nói như vậy nhưng liệu bác có làm theo như vậy hay không? lỡsau này người ta làm nhục con thì thà con chết bây giờ mà được trong sạchcòn hơn là phải sống ô nhục."
Mụ rằng: 'con hãy thong dong,
'Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!
'Mai sau ở chẳng như lời,
'Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi.'
- 'Nếu bác mà không giữ lời thì trời đất sẽ không dung bác.' Mấy người nàyhay thề độc lắm!
Thấy lời quyết đoán hẳn hoi,
Đành lòng nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần.
Kiều chấp nhận.