Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
03:42, Friday.July 31 2026
Văn học Phật giáo
Thả một bè lau
Tác giả : Thích Nhất Hạnh
Nhà xuất bản :
************************************************
Mục lục
• Thay lời tựa
• 1. Hành Trang: Chữ tài, chữ mệnh, chữ tâm
• Hoa ghen đua thắm.
• Dây đàn bén nhạy.
• Lưng túi gió trăng.
• Tưới tẩm hạt giống.
• Nhớ ít tưởng nhiều
• Đài gương soi đến dấu bèo chăng?
• Từ phen đá biết tuổi vàng.
• Không gian trong bức họa.
• Bây giờ rõ mặt đôi ta.
• Cơn bão âm thanh.
• Thưa rằng; ‘Đừng lấy làm chơi’
• Thiên đường hạnh phúc.
• Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.
• 2. Bèo Dạt Mây Trôi.
• Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây.
• Cậy em, em chó chịu lời.
• Biết thân đến nước lạc loài.
• Một xe trong cõi hồng trần như bay.
• Ai có thể giúp Kiều?
• Nhắm mắt đưa chân.
• Một tỉnh mười mê.
• Trong ấm ngoài êm.
• Nước trôi hoa rụng.
• Dường gần rừng tía dường xa bụi hồng.
• Am Chiêu Ẩn
• Nhận diện.
• 3. Hạnh Phúc Chân Thật.
• Ân oán rạch ròi.
• Trời phương ngoại.
• Hạnh phúc là tự do.
• Hết kiếp đoạn tràng.
• Thả một bè lau.
• 4. Tan Sương Đầu Ngõ
• Tưởng bây giờ là bao giờ.
• Trời còn để có hôm nay.
• 5. Chánh Niệm Là Nẻo Thoát.
• 6. Nguyễn Du và truyện Kiều.
• Nhìn sâu vào triết lý truyện Kiều.
• Chánh niệm là nẻo thoát.
• Lời cuối.
• Tài liệu tham khảo.

Thả một bè lau.

Giác Duyên nghe nói rụng rời:

‘Một đời nàng nhé thương ôi còn gì!’

 

Nhưng đạo cô không nói một đời. Chỉ nói kiếp sống từ khi Thúy Kiều sinh racho đến khi Kiều chạm vào đáy đau khổ (hitting the bottom) phải tự tử ởsống Tiền Đường thôi.

 

Sư rằng: ‘Song chẳng hề chi,

‘Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều.

‘Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,

‘Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm.

‘Lấy tình thâm trả nghĩa thâm,

Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.

 

Tuy bị ràng buộc trong vòng tình ái nhưng Kiều không phạm lỗi tà dâm. Đâylà nói tới đêm đầu tiên Thúy Kiều được gần Kim Trọng. Hai người rất mênhau nhưng Thúy Kiều nhất định không phạm giới thứ ba. Chính nhờ Thúy Kiềumà Kim Trọng không bị phạm giới tà dâm. ‘Giữ gìn cho tôi và giữ gìn choanh. Để cho ngày hôm nay còn tươi sáng và để ngày mai chúng ta vẫn sẽ còncó nhau.’ Đó là một câu trong bài hát Hộ Trì Sáu Căn. Trongsuốt mười năm lưu lạc, Thúy Kiều nhớ mãi hình ảnh đêm đó. Đó là một sựnâng đỡ rất lớn cho Thúy Kiều trong những lúc đau khổ. Nếu hai người phạmgiới thứ ba trong đêm hôm đó thì Thúy Kiều đã mất một hình ảnh rất đẹp,không thể đem theo trong suốt mười lăm năm để chống đỡ với những đau khổ.Hành động bán mình chuộc cha của Kiều cũng là một hành động chuyển nghiệprất tốt.

 

‘Hại một người cứu muôn người

‘Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng.

 

Hai câu này nói đến chuyện Từ Hải chết và cứu được muôn dân khỏi nạn đaobinh. Chỗ này gượng ép vì Kiều đâu có muốn hại Từ Hải!

 

‘Thửa công đức ấy ai bằng?

‘Túc khiên191 đã rửa lânglâng sạch rồi.

‘Khi nên trời cũng chiều người,

‘Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.

‘Giác Duyên nhớ đến nghĩa nhau,

‘Tiền Đường thả một bè lau rước người.

‘Trước sau cho vẹn một lời,

‘Duyên ta mà cũng phúc trời chi không!’

 

Đạo cô khuyên ni sư Giác Duyên làm một chiếc bè lau để đợi vớt Kiều ở sôngTiền Đường. Trong thời gian 1965-1966, đất nước Việt Nam đau khổ cùng cựcvì chiến tranh. Tôi có cho đăng một đoạn Kiều này trong tờ báo Giữ ThơmQuê Mẹ mà tôi đang chủ trương lúc đó, lấy tên là Thả Một Bè Lau. Thân phận Việt Nam chua xót, đau khổ giống hệt thân phận Thúy Kiều.Khi thì phải đi với Pháp, khi thì đi với Nhật, với Mỹ… như một cô gáigiang hồ. Đau khổ cùng cực! Từ tấm thân làm nô lệ đến tấm thân đi vàochiến tranh, không có gì khác nàng Kiều hết. ‘Thanh lâu hai lượt thanhy hai lần.’ Thanh y là bị làm đầy tớ, nô lệ cho nước ngoài. Thanhlâu là làm gái giang hồ. Mối tình với những chủ thuyết Đại Đông Á,Mác-Xít, Tư Bản… là mình buộc lấy mình. Tự nhiên, khi không mà tự buộcmình trong những chủ thuyết như vậy để khổ. Vương vấn vào những mối tìnhnhư vậy thì chỉ làm lớn thêm khổ nhau. Chiến tranh là do đâu? Do chỗ mìnhquấn mình vào những hoàn cảnh đó, đi đôi với những thế lực ngoại quốc đó.Mời quý vị đọc lại mà xem:

 

‘Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,

‘Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.

‘Lại mang lấy một chữ tình,

‘Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.

‘Vậy nên những chốn thong dong,

‘Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.

‘Ma đưa lối quỷ dẫn đàng,

‘Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.

‘Hết nạn ấy đến nạn kia,

‘Thanh lâu một lượt thanh y hai lần,

‘Trong vòng lễ giáo dựng gươm trần,

‘Kề răng hùm sói gửi thân tôi đòi.

‘Giữa dòng nước đẩy sóng dồi,

‘Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh.

‘Oan kia theo mãi với tình,

‘Một mình mình biết một mình mình hay.

‘Làm cho sống đọa thác đày,

‘Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!’

 

Đó không phải là số phận của riêng nàng Kiều. Đó là số phận của nước ViệtNam! Con đường thoát là con đường nào? Là phải tu. Không tu thì khôngthoát ra được. Phải nghe lời Tam Hợp đạo cô thả một bè lau. Cái bè lau cứuđược số mạng nước Việt Nam là sự tu học. Nếu không tu thì không thể đưađất nước ra khỏi tình trạng của Thúy Kiều. Hồi đó tôi đã thấy được rất rõrằng chỉ có sự tu học theo con đường của chánh pháp mới có thể cứu đượcđất nước ra khỏi con đường khổ đau. Và tôi đã đăng đoạn thơ này lên báo Giữ Thơm Quê Mẹ với tên là Thả Một Bè Lau. Tất cả công việcchúng tôi làm trong thời gian đó là kêu gọi mọi người thương nhau, chấpnhận lẫn nhau, đi theo con đường của từ bi, xóa bỏ hận thù. Nhưng tiếngsúng đã át tiếng thuyết pháp. Biết bao nhiêu người đi trên con đường củatừ bi xóa bỏ hận thù đã bị giam cầm, tra tấn và áp bức.

 

Nếu quý vị thấy được tình trạng của đất nước và dân tộc và thấy được rằngchỉ có con đường tu học, từ bi hóa giải hận thù mới đưa đất nước ra khỏigiai đoạn đau khổ hiện tại thì quý vị biết mình phải làm gì và không nênlàm gì. Công việc của chúng ta là thả một bè lau, đưa thuyền Từ của đạoBụt ra để tế độ đất nước. Phải tu mới được. Không có con đường nào khác.Tu với bản thân mình, thành lập tăng thân. Đem đọa lý Từ Bi như một chiếcbè để cứu Việt Nam ra khỏi giai đoạn đen tối mấy chục năm. Đó là con đườngthoát. Con đường thoát đó đã được chỉ rõ trong lời phán quyết của đạo côTam Hợp. Không cần tìm đâu xa, ngay trong truyện Kiều ta đã có thể thấyđược con đường giải t hoát của đất nước.

 

 

 

GIÓ TRĂNG MẮT MẶT MUỐI DƯACHAY LÒNG

 

Giác Duyên nghe nói mừng lòng,

Lân la tìm thú192 bên sôngTiền Đường.

Đánh tranh chụm nóc thảo đường,

Một gian nước biết mây vàng chia đôi.

 

Sư chị thương sư em lắm cho nên đã tìm tới bên sông Tiền Đường lợp một amtranh và ở lại đó để chờ Thúy Kiều. Có ai thương sư em bằng sư chị đâu!Chỗ sư chị ở, tuy nhỏ nhưng rất đẹp: Một gian nước biếc mây vàng chiađôi.

 

Thuê năm ngư phủ hai người,

Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông.

 

Biết Thúy Kiều sẽ tự tử ở đây nên sư chị thuê hai người ngư dân giăng lướichực sẵn. Tiền đâu mà thuê? Có lẽ vàng ngày xưa Thúy Kiều đã cho sư chị.Hai người ngư dân trọn năm không đánh cá nữa, chỉ ‘đánh người’ thôi. Thấy cá thì phải theo lời sư chị bỏ ra ngoài.

 

Một lòng chẳng quản mấy công,

Khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần!

 

Chuyện gặp lại sư em giống như có sự chuyển vận luân hồi, đã định trước.

 

Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,

Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.

Ngư ông kéo lưới vớt người,

Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa.

Trên mui lớt mướt áo là,

Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương.

Giác Duyên nhìn thật mặt nàng,

Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai.

 

Chưa chết hẳn, chỉ mới uống nước hơi nhiều thôi.

 

Mơ màng phách quế hồn mai,

Đạm Tiên thoát đã thấy người ngày xưa.

Rằng: ‘Tôi đã có lòng chờ,

‘Mất công mười mấy năm thừa ở đây.

 

Cô này kể công quá! Đã nói mười lăm năm sau mới gặp mà tại sao phải chờtới mười lăm năm ở đây? Đi chơi trong thời gian ấy phải hay hơn không! Cáicô Đạm Tiên này cũng không có tự do và thảnh thơi gì hết!

 

‘Chị sao phận mỏng phúc dày,

‘Kiếp xưa đã vận lòng này dễ ai!

‘Tâm thành đã thấu đến trời,

‘Bán mình là hiếu cứu người là nhân.

‘Một niềm vì nước vì dân,

‘Âm công cất một đồng cân đã già.

 

Cán cân đã già về phía hạnh phúc, non về phía đau khổ. Lấy bớt bên phíakhổ đau thì phía hạnh phúc chĩu xuống.

 

‘Đoạn trường số rút tên ra,

‘Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau.

 

- ‘Tên chị đã được rút ra khỏi sổ đoạn trường, vì đức chị đã nhiều, nợ đãtrả hết. Mười bài thơ ngày xưa chị đóng góp vào tập thơ của hội ĐoạnTrường em trả lại cho chị vì chị không còn là một hội viên của Hội nữa.’Hai câu thơ này vẫn còn vướng văn phạm Trung Hoa: Đoạn trường thơ. Phải nói là Sổ Đoạn trường và Thơ Đoạn trường thì mới là đúng với văn phạmViệt. tuy nhiên nếu ta đọc hai câu thơ này theo kiểu đọc hai câu ‘giócây trút lá trăng ngàn ngậm sương’ thì cũng thấy hay.

 

‘Còn nhiều hưởng thụ về sau,

‘Duyên xưa tròn trặn phúc sau dồi dào!’

 

- ‘Từ đây về sau duyên phước của chị sẽ đầy đủ.’

 

Nàng còn ngơ ngẩn biết sao,

Trạc Tuyền! nghe tiếng gọi vào bên tai.

 

Giác Duyên gọi: ‘Trạc Tuyền! Trạc Tuyền!’ Sư chị nhất định kêu nóbằng ‘em’, quyết bắt nó về tu trở lại, không cho đi hoang nữa cho nênquyết gọi nó là ‘Trạc Tuyền’ chứ không xưng là ‘phu nhân’ nữa.

 

Giật mình thoát tỉnh giấc mai,

Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn.

Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên,

Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.

 

Sướng quá! Chết mà không chết. Thức dậy thì thấy có sự chị ngồi một bên.Đây là giây phút hạnh phúc nhất của Thúy Kiều. Có ai đang ngồi trong thấtniệm mà tự nhiên nắm lấy hơi thở: ‘thở vào - tỉnh lặng’, thở ra - mỉmcười’, rồi nhìn lại thấy sư chị mình đang ngồi một cách thân ái bên mìnhkhông? Ngưòi đó là người có hạnh phúc. Phép lạ này các sư cô và sư chú cóthể thực hiện được bất cứ giờ phút nào. Đừng sống với một con ma, hãy trởvề với hơi thở mầu nhiệm. Hãy tỉnh dậy để thấy rằng bên mình đang có mộtsư chị rất ngọt ngào và vẫn thương mình sâu sắc như ngày nào. Vì lâu naymình đang chạy theo một con ma nên không biết rằng sư chị luôn luôn có mặtđó. Sư chị là ai? Đó là câu hỏi. Đừng nói sư chị không có mặt đó; nói nhưvậy là oan lắm! Sư chị Giác Duyên luôn luôn có mặt. ‘Thập phương NhưLai lân niệm chúng sanh như mẫu ức tử.’ Sư chị luôn nghĩ đến mìnhnhưng mình lại đi trốn sư chị, không tìm về với sư chị đó thôi. Hàng ngàysống với một con ma, thì sư chị có cũng như không. Phải tỉnh dậy mới gặpsư chị được! ‘Giật mình thoát tỉnh giấc mai’ Luôn luôn hạnh phúcbắt đầu từ chỗ tỉnh thức.

 

Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,

Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư.

Một nhà chung chạ sớm trưa,

Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng.

 

Rất hay! Hai chị em được đoàn tụ. ‘Một nhà chung chạ sớm trưa.’ Buổi sớm có nhau, buổi trưa có nhau. Ở chung một nhà, thấy được sự quý giácủa nhau chứ không phải đi ra đi vô gặp không nhìn, mà lại nhìn đi chỗkhác. ‘Một nhà chung chạ sớm trưa’ là hạnh phúc lắm. Mình sống với các sưchị và các sư anh của mình và có đủ hạnh phúc để cho nhau. Mình đâu có cầnnhiều điều kiện vật chất để có hạnh phúc đâu! ‘Gió trăng mát mặt muốidưa chay lòng.’ Đủ những thức ăn cho thân thể và tinh thần. Giótrăng mát mặt là hạnh phúc khi mình được tiếp xúc với những mầu nhiệmcủa thiên nhiên. Khi bị giam hãm trong khổ đau thì gió có mát mình cũngkhông thấy mát, trăng có trong mình cũng không thấy trong. Khi được thảnhthơi rồi thì mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống xung quanhvà trong bản thân mình. Muối dưa chay lòng là chấp nhận nếp sốngđơn giản của nhà chùa. Chay lòng nghĩa là lòng không còn nhuộmnhững màu sắc ngoài đời nữa. Không đi kiếm những cái mà ngoài đời người tacho là thiết yếu cho hạnh phúc. Mình đã biết giá trị của những cái đó quárồi! Mình không đi tìm những chỗ ăn ngon, mặc đẹp, vinh hoa phú quý, bằngcấp này, địa vị kia nữa. Từ bỏ được rồi mình mới có thể sống một đời sốngthanh bạch. Muối dưa, nhưng rất hạnh phúc. Một bài thơ tôi làm tại PhươngVân Am có câu: ‘Muối dưa đắp đổi hôm nào cũng vui.’ Có thanh tịnh,có an lạc thì mình mới thấy những mầu nhiệm xung quanh mình:

 

Trăng sao vẫn đẹp đêm rằm

Bãi dương vẫn mướt sóng tùng vẫn xao

Lòng quê lòng vẫn khát khao

Hoa mai cứ nở đồi cao gọi mời

Tháng tư lá lục hoa cười

Cho trăng thêm tuổi, cho đồi thêm xuân

Vườn xanh cây mướp trổ bông

Trẻ thơ đùa giỡn trước sân nắng đào

Chợ văn bán sách lầu cao

Muối dưa đắp đổi hôm nào cũng vui.

 

Hồi đó thầy trò bán sách (theo đường dây thép) để có tiền mua muối muadưa: ‘Chợ văn bán sách lầu cao, Muối dưa đắp đổi hôm nào cũng vui.’ Cái vui của người xuất gia khác với cái vui ở ngoài thế tục.

 

Hạnh phúc luôn luôn đơn giản. Hạnh phúc không bao giờ quá rắc rối. Ta cóhạnh phúc không? Sư em, sư chị có hạnh phúc không? Đó là câu hỏi: Nhữngđiều kiện của hạnh phúc đã có đủ; chỉ có vấn đề là ta có khả năng sử dụngnhững điều kiện hạnh phúc đó để sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiệntại hay không mà thôi. Ví dụ; gió trăng mát mặt. Hồi hôm trăng đẹp lắm,không biết quý vị có thấy không? Trăng đẹp, nhưng nếu tâm ta vẫn còn đivới một con ma thì trăng có đó cũng như không. Gió mát, nhưng tâm ta khôngở đó t hì gió có coi như là không có. Muối dưa đáng lý làm cho tâm hồnchúng ta ngày càng an tịnh thì chúng ta có thể nói: ‘Tại sao sống cực khổnhư vậy? Tại sao mà đọa đày tấm thân ở cái chốn khỉ ho cò gáy này?’ Tất cảđều do tâm mà ra hết. ‘Sư rằng: ‘Phúc họa đạo trời, Cỗi nguồn cũng ởlòng người mà ra.’ Đọc truyện Kiều, chúng ta có thể không đọc như mộttiểu thuyết mà đọc như đọc Kinh. Chất liệu của tuệ giác được chứa đựngtrong này rất nhiều, được biểu hiện bằng những hình ảnh thi ca rất đẹp.

 

Trong truyền thống đạo Bụt, muốn có hạnh phúc thì phải sống đơn giản. Thếgiới hôm nay lâm vào tình trạng khổ đau và bế tắc là vì người ta khôngthấy được hạnh phúc trong nếp sống đơn giản. Nhiều bậc giác ngộ nói rằngnẻo thoát cho thế giới ngày hôm nay là một nếp sống đơn giản (a simplelife style.) Nền văn minh hiện đại của chúng ta đã đi vào ngõ bí. Nếuchúng ta cứ tiếp tục đi theo hướng này thì chúng ta sẽ chết, nền văn minhnày sẽ bị tiêu diệt. Chỉ có một nẻo thoát thôi, là tìm về một nếp sống đơngiản mà hạnh phúc. Bây giờ ai cũng nghĩ rằng phải có xe hơi, tủ lạnh,trương mục, một số lương tối thiểu nào đó, một bằng cấp và phải được côngnhận thì mới có hạnh phúc. Nếu chưa có những điều kiện đó thì mình vẫn cócảm tưởng như mình bất lực, không phải là con người. Vì vậy ai nấy đều đưađầu vào guồng máy. Chỉ những người rất khương kiện mới nói rằng hạnh phúccủa tôi không phải là đi về hướng đó, hạnh phúc của tôi là đi về hướngkhác. Chúng ta tìm về một nếp sống đơn giản, có tự do và hạnh phúc. Muốidưa chay lòng có nghĩa là đã buông bỏ những đua chen trong cuộc đời, chấpnhận rằng chỉ có nếp sống đơn giản mới đem lại hạnh phúc thật sự mà thôi.Những người ở thành phố phải trả thuế rất nặng về nhà cửa và chức nghiệp(nhất là giới bác sĩ, kỹ sư, thương gia.) Nhiều người tự tử vì thuế. Thuếnặng quá, người ta phải chạy, không có thì giờ để thở, để tiếp xúc với ánhtrăng, với cơn gió thoảng. Muối dưa chay lòng là một điều kiện quan trọngđể ta có được cái hạnh phúc của gió trăng mát mặt. Tám chữ này có thể lànẻo thoát cho nền văn minh hiện đại. Ta có thể viết tám chữ này treo trongthiền đường. Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng. Thật đơn giản,giải pháp của đạo Bụt đối với nền văn minh mới!

 

Bốn bề bát ngát mênh mông,

Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau.

 

Đây là tả cảnh chỗ hai sư cô ở nhưng cũng đồng thời nói được tâm trạng thưthái, tự do của hai chị em. ‘Bốn bề bát ngát mênh mông’ nghĩa là họcó tự do. Chúng ta nhớ bài thiền tập:

 

Là hoa tươi mát

Là núi vững vàng

Nước tĩnh lặng chiếu

Không gian thênh thang.

 

Khi sống có tự do và buông thả thì tự nhiên ta có ‘không gian thênhthang.’ Quan trọng nhất là khi có ‘triều dâng hôm sớm’ mà ngheđược tiếng triều dâng. Mây lồng trước sau: cảnh là một cái khung,mây được lồng vào cảnh đó. Mây mong manh, đủ màu, đủ hình thái, rất đẹp.Tôi còn nhớ một lần ở Ba Lan, trước khi đi giảng tôi có tới thăm một họasĩ. Họa sĩ không vẽ gì hết, chỉ vẽ mây thôi. Hỏi tại sao, ông nói: ‘Thưa Thầy, tại vì chỉ có mây là đáng vẽ thôi!’ Nếu ông vẽ mây mà cóchánh niệm thì nhìn vào mây ông có thể thấy tất cả mọi cái khác đều cótrong mây. Lúc đó ông sẽ không còn kỳ thị giữa mây và không mây nữa. ‘Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau’ cũng là những mầu nhiệm của vũtrụ, nếu không thanh thản thì ta cũng không tiếp xúc được. Trong đời sống ‘một nhà chung chạ sớm trưa’ ta phải giúp nhau để cho những ngườikia (sư chị, sư anh hay sư em của mình) tiếp xúc được với những mầu nhiệmcủa sự sống đang có mặt hôm nay. Mùa xuân, cây cối xanh tươi. Cứ mỗi vàingày lại có một loại hoa mới xuất hiện. Có những đám mây rất đẹp, nhữngcơn gió rất mát. Những cái đó ta làm sao tiếp xúc được khi ta bị giam giữtrong sự tiếc thương quá khứ, lo lắng bất định trong tương lai, khi taquên đi giờ phút hiện tại. Là những người thương nhau, ta phải giúp nhaura khỏi tâm trạng lo lắng, tiếc nuối, buồn phiền để có thể tiếp xúc đượcvới những mầu nhiệm của sự sống trong giờ phút hiện tại. Sự thực tập củachúng ta là sự thực tập tiếp xúc. Nếu không tiếp xúc được với những mầunhiệm của hiện tại thì ta thực tập không được thành công. Thực tập tiếpxúc được với những mầu nhiệm trong hiện tại thì thời gian chúng ta ở lạiđây là thời gian hạnh phúc nhất trong đời và sau đó ta có thể tiếp tụcsống hạnh phúc ở bất cứ nơi nào.

 

Đọc đoạn này, chúng ta thấy sư chị rất dễ thương và rất thương sư em. Cóthể sư chị có nhiều nhiệm vụ ở những nơi khác nhưng cứu được sư em rồi thìhai chị em ở lại đó. Chúng ta hãy nhìn lại xem thử chúng ta đã được nhưThúy Kiều và Giác Duyên lúc này hay chưa. Ta có thấy rằng được sống với sưchị, sư em mình trong khung cảnh có trăng, có gió, có mây, có trời là hạnhphúc hay không?

 

Trong bản in của cụ Trần Trọng Kim thì đến đây thơ được chấm câu và ngắtsang đoạn khác nhưng tôi thấy không nên, phải đọc tiếp:

 

Nạn xưa trút sạch làu làu,

Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.

 

Tất cả những tai nạn vướng vào thân phận Thúy Kiều, làm cho Thúy Kiều ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, đều được trút sạch hoàn toàn. ‘Nạnxưa trút sạch làu làu.’ Sáu chữ này nói về sự chuyển hóa hoàn toàn củaThúy Kiều. Từ khi Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường, cái nghiệp quá khứcủa Kiều đã chấm dứt. Mỗi người chúng ta đều cso sông Tiền Đường, chúng tasẽ chấm dứt được tất cả những khổ đau và tai nạn của mình. Chúng ta đượcsinh ra lại trong một đời sống mới. Sông Tiền Đường đó có thể là XómThượng hay Xóm Hạ, New York City, Amsterdam hay Mineaplis…, bất cứ ở đâumà ta thấy rằng ta có thể chết được trong đời sống khổ đau vương vấn vàtái sinh lại trong đời sống thanh thản, nhẹ nhàng. Mỗi người trong chúngta đều có một sông Tiền Đường. Vấn đề là chúng ta đã tới được sông TiềnĐường đó hay chưa. ‘Nạn xưa trút sạch làu làu.’ Không có câu thơnào đẹp bằng! Đó là sự giải thoát hoàn toàn. Đó là sự buông bỏ tất cảnhững tai nạn, nghiệp chướng; nhờ mình chết được. Trong Thiền chúng ta códanh từ ‘chết đi sống lại’ (tuyệt hậu tái tô.) Nếu không chết đisống lại thì chúng ta không sinh ra được trong cõi Tịnh Độ; Tịnh Độ ngaytrong giờ phút này.

 

Cô nàng đã được giải thoát. Còn anh chàng thì sao? Đó là điều chúng ta sẽxét lại trong đoạn sắp tới. Bây giờ chúng ta hãy đọc chung lại đoạn này:

 

Một nhà chung chạ sớm trưa,

Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng.

Bốn bề bát ngát mênh mông,

Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau.

Nạn xưa trút sạch làu làu,

Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.

 

Thời gian này (không biết rõ là được bao nhiêu tháng) là thời gian rấthạnh phúc của hai chị em. Cả chị và em đều lớn lên một cách rất mau. Tuyhai người rất thương yêu nhau, lưu luyến nhau nhưng chị bây giờ đã biếtdạy cho em và em đang quyết tâm thực tập đàng hoàng theo chị. Thúy Kiềusau đó chứng tỏ đã lớn lên vững mạnh và chuyển hóa lớn lao. Điều đó khôngđược nói tới trong sáu câu thơ này. Nếu viết lại truyện Kiều thì chỗ nàychúng ta phải viết về chuyện thực tập của hai bên. Ngày xưa khi ở Am ChiêuẨn sư chị không dạy cho sư em đàng hoàng. Khi lâm vào tình trạng bối rốikhổ đau thì sư em không biết cách giữ thân, giữ tâm. Kỳ này thì khác. Đứngvề phương diện tu tập và kinh nghiệm thì Thúy Kiều, tức ni cô Trạc Tuyền,bây giờ đã bước những bước rất dài. Kinh nghiệm khổ đau rất nhiều và kinhnghiệm tu tập trong giờ phút chót đã có đầy đủ. So với người con trai thìThúy Kiều đã bước những bước của người khổng lồ. Kim Trọng vẫn còn lẽo đẽođi trên con đường lận đận. Trên đường tâm linh, Kim Trọng còn đi lọt phíasau một quãng khá dài. Điều này chúng ta thấy rất rõ mỗi khi ở Làng Maimột, hai, ba năm về gặp lại những người bạn cũ. Những người ngày xưa cùngđi một đường với ta tại sao bây giờ vẫn chưa gỡ được những sợi dây mà mìnhthấy rất dễ gỡ! Đây là tâm trạng Thúy Kiều trong những câu thơ sau. ThúyKiều đã làm rất hay và làm một cách rất nhẹ nhàng, vô tướng để giúp ngườicon trai mình ngày xưa (người cũ, cố nhân.) Những người mình đã có cảmtình ngày xưa, mình có bổn phận phải độ họ thôi, mình phải độ cả nhữngngười khác. Nhưng họ là những người năằ trong diện ưu tiên. Giống như nămngười bạn tu của Tất Đạt Đa. Cùng tu chung với nhau, say này thấy Tất ĐạtĐa uống sữa, ăn cháo, ăn yoyurt… họ nghĩ ông này tụ hành không ra gì hếtvà bỏ đi. Nhưng tình đồng đạo còn đó nên khi thành đạo rồi Bụt nghĩ đếnnăm người và tìm tới vườn Nai độ họ. Chúng ta cũng vậy. Đạt tới sự nhẹnhàng rồi chúng ta phải đi tìm cha, tìm mẹ, tìm anh chị em, tìm người cũcủa mình để giúp họ. Đó là chuyện rất thông thường. Rồi quý vị sẽ thấyđiều này là một điều rất dĩ nhiên. 


 

135 Kình ngạc: hai giốngcá to dữ, chỉ quân lính hùng mạnh. Giáp binh: áo giáp và khí giới.

136 Tiếng la: tiếngthanh la, nhạc khí bằng đồng dùng để đánh.

137 Phượng liễn loannghi: kiệu và các đồ nghi trượng có chạm, thêu hình chim loan, chimphượng.

138 Hoa quan: mũ có đínhvàng ngọc, kim cương đẹp đẽ. Chấp chới: sáng lóng lánh. Hà y: áo đỏtía như sắc ráng trời.

139 Trúc tơ: sáo và đàn,âm nhạc.

140 Bài: miếng gỗ vuôngđể viết chữ; hỏa: ý việc khẩn cấp, nóng như lửa. Hỏa bài tiền lộ: thẻbài hỏa tốc cầm đi trước để báo tin cho nhân dân biết mà lo việc phụcdịch hay dẹp đường cho quan quân đi.

141 Nam đình: triều đìnhphương Nam do Từ Hải lập ra. Đại doanh: doanh trại lớn, chỗ đóng quâncủa Từ Hải.

142 Hàn vi: đói lạnh,chỉ lúc nghèo hèn, không có thế lực, khổ đau.

143 Nghiêm quân: chỉnhđốn hàng ngũ quân lính. Tuyển tướng: lựa chọn, sắp đặt các tướng.

144 Báo phục: báo trảlại; ân thì báo ân, oán thì báo oán. Chỉn ghê: rất đáng sợ.

145 Vệ cơ: các đơn vịquân đội ngày xưa. Thị lập: đứng hầu. Song phi: dàn ra làm hai hàng.

146 Bác đồng: mác vàgiáo. Tinh kỳ: cờ tinh, một loại cờ hiệu dùng trong quân ngày xưa.

147 Trướng hùm: do chữhổ trướng: nơi làm việc của các tướng soái.

148 Tiên nghiêm: hồitrống đánh mở đầu để làm tăng vẻ trang nghiêm.

149 Cửa viên: do chữviên môn: cửa dựng bằng càng xe. Thời xưa, vua đi tuần thú, săn bắn ởngoài dựng ở đâu quây các cổ xe làm giậu, dừng càng xe làm cửa gọi làviên môn (viên: càng xe.)

150 Cho phu: cho bõ, chođáng.

151 Sâm Thương: chỉ sựcách biệt, không được gặp nhau như sao Sâm và sao Thương. Theo Từ điểntruyện Kiều của Trần Trọng Kim: ‘Sâm là sao Cày, mấy sao ở giữa chòmOrion, Thương là mấy sao sắc đỏ ở đuôi chòm sao Scopion mà ta gọi làsao Thần Nông. Trong vòm trời, hai vị sao ấy cách nhau gần 1800cho nên hễ thấy được sao này mọc thì sao kia lặn, không thể nào cùngthấy trong một bầu trời (người ta vẫn hiểu lầm là sao Hôm và sao Mai)cho nên dùng để tỉ dụ sự cách biệt không gặp nhau được. Theo chú giảiTruyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang: ‘Sao Sâm là chòm sao gồm bảy ngôiở phía Tây, một trong nhị thập bát tú, màu đỏ da cam; sao Thương tứclà chòm sao Tâm, gồm ba ngôi ở phía Đông, nằm trong nhị thập bát tú,màu đỏ lửa.

152 Hiến phù: dâng nộpnhững người tù binh bắt được, đây ý nói giải những người có tội tới.

153 Các tích: án tích kểnhững tội lỗi của người tù phạm. Phạm tù: người bị bắt làm tù vì phạmtội. Hậu tra: đợi để tra hỏi.

154 Tri quá: biết lỗi.

155 Ba quân: Tiền quân,trung quân và hậu quân; ý nói tất cả quân lính. Pháp trường: chỗ hànhhình người có tội.

156 Thanh thiên bạchnhật: giữa trời xanh đang lúc ban ngày, ý nói rõ ràng, không giấu diếmai.

157 Thiên tải nhất thì:nghìn năm mới có một lần, dịp hiếm có.

158 Bàn hoàn: quanhquẩn, quấn quít, vui vẻ với nhau.

159 Theo ghi chép của sưcô Chân Khong trong quyển Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát: ‘Hồi đó chúng tôithường tổ chức các đại nhạc hội để giúp các em cô nhi ở Việt Nam...Chúng tôi cũng cho ra tờ Le Lotus đặc biệt in trên giấy vàng để kêugọi ngưòi đỡ đầu cho cô nhi chiến nạn... Hồi ấy tại khám Chí Hòa có batrăm tăng sĩ tuyệt thực để gây áp lực trên Hòa Hội Paris; chúng tôicũng được thầy phái đi các nước Hoa Kỳ, Đan Mạch, Ý Đại Lợi, Anh CátLợi, v.v... để vận động yểm trợ cho cuộc tuyệt thực này. Tôi còn nhớtại Rome có ba trăm linh mục đi diễn hành, mỗi vị đeo trên ngực bảngtên của một tăng sĩ Việt Nam tại khám Chí Hòa. Tinh thần liên đới quảthật đẹp. Hedi Vaccara và mấy người bạn Ý của phái đoàn đã rất vất vảtrong lần tổ chức cuộc diễn hành này.’

160 Quốc sĩ: người tàicủa đất nước

161 Kẻ Việt người Tần:kẻ ở nước Việt (phía Đông Nam), người ở nước Tần (phía Tây Bắc); ý nóimỗi người một nơi, cách biệt xa xôi.

162 Giá áo túi cơm: dochữ y giá phạn nang: cái giá mắc áo, cái túi đựng cơm, chỉ người vôdụng, không có chí hướng. Ý cả hai câu: gặp buổi loạn lạc thì mài gươmmà kiến tạo sự nghiệp, còn những hạng người tầm thường chỉ biết có ăncó mặt thì kể làm gì.

163 Cô quả: tiếng khiêmcung của các vua chúa nước nhỏ thời xưa (như người tu xưng là bần đạo:tôi tu đạo còn nghèo lắm.) Cô: như con mồ côi, không ai dạy bảo, giúpsức cho. Quả: tức là quả nhân, ý nói khiêm là người ít đức, nhờ quầnthần giúp đỡ. Bá Vương chỉ chung cho cái thế lực hùng mạnh của ngườiđứng đầu các nước chư hầu.

164 Kinh luân: lấy từngmối tơ mà gỡ ra gọi là kinh, so từng sợi tơ cùng một loại mà kết thànhcon gọi là luân; sửa sang sắp đặt việc chính trị gọi là kinh luân.

165 Đẩy xe: chữ Hán làthôi cốc. Theo Hán Thư, ngày xưa khi một viên tướng vâng chỉ vua điđánh giặc, vua tiễn ra cửa thành và lấy tay đẩy xe của viên tướng, tỏý vua ủy thác công việc quan trọng. Vâng chỉ: vâng theo chiếu chỉ củavua. Đặc sai: phái đi làm nhiệm vụ dặc biệt.

166 Tiện nghi: có quyềnquyết định tại chỗ, tùy theo sự nghi mà làm, không cần phải hỏi ý kiếnvua. Sách Quả Sự Loại kể chuyện đời Tống có một viên tri phủ xứ Hà Bắctên là Vân Ngạn Bát xin với vua cho ông ta có thể tùy tiện giải quyếtviệc cấp tốc tại chỗ các vấn đề quân sự, khỏi phải bất cứ việc gì cũnggửi sứ về hỏi ý kiến vua; vua chấp nhận. Bát tiễu: dẹp giặc, đánh giặc– có bản ghi là phủ tiễu: dẫn dụ cho bên kia quy hàng rồi phong chức(phủ), nếu họ không nghe thì mới đánh (tiểu). Đổng nhung: trông coi,đốc suất việc quân.

167 Chiêu an: kêu gọi,chiêu dụ hàng giặc để đặt lại an ninh.

168 Hồ đồ: Không rõ ràngtrong đầu. Từ Hải còn nghi ngờ lắm.

169 Bể Sở sông Ngô: Sở,Ngô là tên hai nước thời Xuân Thu, nay thuộc miền đông nam Trung Quốc,là địa bàn hoạt động của Từ Hải

170 Bình thành: địa bìnhthiên thành là chữ sách Kinh thư: Làm cho thủy thổ được điều hòa gọilà địa bình; khiến cho ngũ hành (thủy, hỏa, kim, mộc, thổ) theo thứ tựmà ổn định gọi là thiên thành. Đó là lời nói công đức trị nước lụt củavua Vũ. Đây ý nói công đức to lớn của vua lo sửa sang việc nước, ra ơncho dân.

117 Vô Định là tên mộtcon sông ở Thiểm Tây. Thơ của Trần Đào đời Đường có câu: ‘Khả lân VôĐịnh hà biên cốt’ = khá thương thay cho đống xương ở bến sông Vô Định(xương của người chết vì chiến tranh.)

172 Thế công: thế mạnhchủ động tiến đánh. Thế hàng: thế yếu phải đầu hàng.

173 Thúc giáp: bỏ áogiáp lại, tức là bỏ các đồ binh khí. Giải binh: giải tán quân đội

174 Thành hạ yêu minh:hai bên đến dưới thành (thành hạ) để giao ước hòa với nhau.

175 Vương sư: quân củanhà vua.

176 Nàn: tai nạn.

177 Bách chiến: trămtrận đánh, ý nói dạn dày chốn trận mạc.

178 Phu quý phụ vinh:chồng làm nên quan sang, vợ cũng được vinh hiển.

179 Thiên thổ: chỗ đấthèn hạ, chỗ đất xấu. Một đôi (cũng đọc là một doi): một dải đất nhỏ ởrìa cửa sông hoặc dọc sông.

180 Hạ công: mừng côngthắng trận.

181 Tiểu Lân: họ Phùng,hiệu Tục Mệnh, vợ vua nước Tề. Sau khi nước Tề thua nước Chu, Tiểu Lânbị bắt về Chu. Chu Vũ Đế gả nàng cho người khác. Nhân lúc ngồi đàn,dây đàn đứt, nàng xúc cảm làm thơ, có câu: ‘Dục tri tâm đoạn tuyệt,Ưng khán tất thượng huyền’ = Muốn biết lòng tôi dứt nát như thế nàothì nhìn dây đàn trên đầu gối này.

182 Hồng quần: người đànbà (ngày xưa mặc quần đỏ.)

183 Gốc phần: chỉ quênhà.

184 Cửa bồng: cửa thuyền(bồng: thuyền nan to.)

185 Âm cực dưong hồi:khí âm đã cùng cực thì khí dương lại về, đó là đạo tuần hoàn; ở đâydùng với ý gợi cho biết vận bĩ của Kiều đến đây là cùng cực và vậnthái sắp đến.

186 Học trò thì có TứThư, Ngũ Kinh; thầy tu thì có níp đựng Kinh Kim Cương.

187 Hàn Dũ là một ôngquan, tâu lên vua để vua bạc đãi tăng đồ; Tần Thủy Hoàng nghe lời cácquan đốt hết Tứ Thư, Ngũ Kinh và giết các nhà Nho. Nhà sư và nhà Nholuôn nhớ đến Pháp nạn và Giáo nạn của họ.

188 Cỗi phúc: gốc củaphúc đức.

189 Thành ngữ Việt Nam.

190 Câu này lấy ý thơ ĐỗPhủ: Ngư long tịch mịch thụ giang lãnh vắng tanh thị: Rồng cá lặng lẽsông thu lạnh. Cho nên vắng tanh là đúng.

191 Túc khiên: nợ nầntrong quá khứ.

192 Thú; chỗ ở, nơi tới.

 

 

----o0o---

CÁC SÁCH KHÁC
•   Con Sư Tử vàng của Thầy Pháp Tạng
•   Những truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật Giáo
•   Tình Người
•   Nói với tuổi 20
•   Góp nhặt cát đá
•   Tự Tình Quê Hương
•   Hư Hư Lục 03
•   Hư Hư Lục 02
•   Hư Hư Lục 01
•   Truyện cổ Phật giáo tập 5
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này