Hạnh phúc là tự do.
Trong một quốc gia mà lại có một quốc gia tự trị, đó là một cái gai lớncho triều đình. Bao phen triều đình nhà Minh đã đi tìm những phương phápđể dẹp đi sự nổi loạn đó nhưng không thành công. Chính trị gia Hồ Tôn Hiếnxuất hiện. Vị tổng đốc có địa vị quan trọng trong triều đình này được vuanhà Minh giao phó trách nhiệm dẹp trừ cái quốc gia nhỏ bé này. Chấm dứtgiai đoạn năm năm yên ổn của Thúy Kiều. Đây là tai nạn lớn nhất, đưa ThúyKiều đến chỗ tận cùng đến chỗ tận cùng của đau khổ trong đời cô và dẫn côđến chổ phải tự tử. Chỉ khi nào chết rồi mới có thể tái sanh được. Cốnhiên Thúy Kiều tự tử không chết, cô sẽ được cứu. Nhưng trong kiếp ngườithế nào chúng ta cũng phải chết một lần, và phải chết thật thì chúng tamới có thể sinh ra lại được với sự an lạc. Cái đau khổ cùng cực mới đemlại sự tái sinh của chúng ta. Mới đau khổ sơ sơ thì chưa nhằm nhò gì! Phảiđau khổ cho cùng cực. Và khi đụng tới cái đáy của khổ đau, chết đi, sốnglại thì mới thấy được niềm an lạc chân thật nảy sinh ra. Ngôn ngữ này rấtquen thuộc trong nhà thiền. Nếu không chết, chỉ mới ngất ngư thôi, thìkhông thể nào tái sinh được Phải chết trong tâm hồn, trong đau khổ củamình. Luân hồi có chết thì giải thoát mới sinh ra được.
Có quan tổng đốc trọng thần,
Là Hồ Tôn Hiến kinh luân164gồm tài.
Đẩy xe vâng chỉ đặc sai,165
Tiện nghi bát tiễu việc ngoài đổng nhung.166
Biết Từ là đấng anh hùng,
Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.
Thám tử triều đinh làm việc rất giỏi. Họ biết Từ Hải không phải là một tayanh chị Cầu Muối tầm thường. Từ là một người có nhân cách, chí khí, có tưcách anh hùng. Không thể dùng phương pháp dọa nạt và bạo lực mà có thểthành công. Họ cũng biết Thúy Kiều được tham dự vào những buổi bàn luận bímật về quân sự và chính trị. Rất khó giải quyết vấn đề nếu ta không biếtrõ tình trạng và tâm lý những người trong cuộc.
Hồ Tôn Hiến lập ra chước chiêu an, gửi sứ giả sang kêu gọi Từ Hải ra hàngvà hứa sẽ phong cho chức tước lớn. Một mặt khác họ chuẩn bị quà cáp riêngcho Kiều:
Đóng quân làm chước chiêu an167
Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng.
Lại riêng một lễ với nàng,
Hai tên thế nữ ngọc vàng nghìn cân.
Theo nguyên lục, ban đầu Hồ Tôn Hiến gửi một viên quan nhỏ tên là Hoa Nhâmtới để dò hỏi. Từ Hải giận nói: ‘Ta đang có thanh thế. Tuy không có mởmang bờ cõi dựng nước, nhưng ai có thể cấm ta xưng Vương, xưng Đế, xưngCô, xưng Quả? Ngươi muốn ta về hàng để làm con chó, con trâu của ngườikhác sao?’ và tính đem Hoa Nhâm ra chém. Kiều can; Từ nghe lời tha choHoa Nhâm. Tiếp đó, Hồ Tôn Hiến sai một viên quan lớn hơn, tên La TrungQuân, đem lễ vật rất hậu tới. Trong đó, có một trăm ngàn lạng bạc, ba ngànlạng vàng, gấm vóc, đan ngọc và hai người thế nữ gốc gác từ Kinh đô (nhữngcô thế nữ vùng ven biển không thể so sánh với những phụ nữ từ Kinh đô) làmquà riêng cho phu nhân Vương Thị (Vương Thúy Kiều.) Khi tiếp đón La TrungQuân, Từ Hải không muốn nhận lễ, trái lại muốn đuổi về vì trong lòng ôngđã có niềm nghi:
Tin vào gởi trước trung quân
Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ168
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành!169
Bỏ thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau,
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thùy.
Sức này đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời quấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
Nguyên lục nói: Một người đã tự do quen rồi mà bị đưa về câu thúc một chỗthì rất khó chịu; không những lúng túng khó chịu mà chức phận cũng khôngra gì (nhiều lắm là chức Tổng Binh). Mất hết cả tự do, nhân cách. Là quanvõ thì thế nào cũng bị các quan văn lấn ép, đàn hạch (chỉ trích, kết tội).Sống như vậy khổ lắm nên Từ Hải nhất định không hàng. Từ Hải rất tự tinvào khả năng của mình và rất trân quý cái tự do của một chàng hiệp sĩ.
Vua Minh Mạng rất mê truyện Kiều. Một hôm, trong khi tiếp các quan, vuagọi thi sĩ Nguyễn Du (hồi đó đang làm quan dưới triều Nguyễn) nói: ‘Khanh viết như vậy là không được! ‘Chọc trời quấy nước mặc dầu, Dọc ngangnào biết trên đầu có ai!’ viết như vậy là không có lễ phép gì với trẫm cả!Trên đầu phải có vua chứ! Vì vậy ta phạt khanh.’ Vua bảo quân hầu mangrượu ra và phạt thi sĩ uống ba chén. Ngày xưa người ta phạt nhau bằngrượu. Nhiều người ưa ‘được’ phạt lắm! Sau này khi thi sĩ uống ba chén rượurồi, vua lại bảo: ‘Nhưng mà hay! Phạt thì phạt nhưng thơ rất hay! Vìvậy trẫm thưởng cho khanh.’ Và vua truyền quân hầu mang ba tấm lụatặng thi sĩ về may áo mặc cho ấm. Giai thoại này được truyền tụng đến ngàynay. Vua Minh Mạng cũng chịu chơi lắm!
Điều chúng ta muốn nhắc ở đây là Từ Hải biết hạnh phúc của mình nằm ở chỗtự do nhưng vì lời nói của Kiều rất ‘mặn mà’ cho nên Từ không thấy đượcđiều đó nữa và chuyển sang một quan niệm khác về hạnh phúc; cái hạnh phúckhông tự do! Là những người tu hành, chúng ta nên suy ngẫm. Chúng ta đixuất gia để có tự do, Hạnh phúc của chúng ta là có tự do. Tự do với độclập đi chung. Có độc lập, có tự do thì mới có hạnh phúc. Ta đừng nên quênđiều đó. Cạo đầu, mặc áo thầy tu, đi xuất gia là cũng như Từ Hải, biếtrằng hạnh phúc của mình hoàn toàn được căn cứ trên sự tự do của mình. Đôikhi có những tiếng mời gọi, những điều hấp dẫn, đôi khi thấy tự do lớnquá, ta không sử dụng nổi tự do của ta, ta nói: ‘Thôi, tự do mệt quá! Bâygiờ tôi chỉ muốn làm nô lệ!’ Làm nô lệ cho một người, làm nô lệ cho mộtgia đình… Điều này có thật. Hạt giống của sự nô lệ có mặt trong tất cả mọingười. Trên phương diện trí tuệ, chúng ta biết tự do thênh thang là nềntảng của hạnh phúc. Nhưng đôi khi, thấy tự do thênh thang, ta mệt quá, tamuốn làm nô lệ, muốn chui vào hoàn cảnh nô lệ. Trong mỗi chúng ta đều cóanh chàng Từ Hải và cô nàng Thúy Kiều. Chúng ta phải cẩn thận. Có baonhiêu thầy và sư cô trẻ đang có tự do thênh thang của người xuất gia: ‘Nhất bát thiên gia phạn, Cô thân vạn lý du’ vậy mà tự nhiên đầu hàng,chui vào chỗ mất tự do. Sau một vài năm thì mới thấy rõ mình đã đi lún quásâu trong con đường mất tự do. Lúc đó đã quá trễ rồi! Một đã luân hồithành bốn, thành năm, thành sáu rồi! Làm sao có tự do được nữa! Trong khiđang còn là người xuất gia, đang có sự tự do mà có người không thấy đượcsự quý báu của tự do, không thấy được hạnh phúc của chính mình! Ta nghĩ:‘Ôi, hạnh phúc thay nếu ta được làm nô lệ!’ Nô lệ cho một người, cho mộtnhóm người. Đó không phải là chuyện của một ngày. Hạt giống nô lệ có sẵntrong lòng mọi người. Có sẵn trong Từ Hải, có sẵn trong Thúy Kiều. Vì vậychúng ta phải lòng tự xét lòng: ta phải biết. Chúng ta thường đứng núi nàytrông núi nọ mà không thấy được những hạnh phúc và những mầu nhiệm của giờphút hiện tại.Ta cứ nghĩ đứng núi bên kia chắc sướng hơn đứng núi bên này.Có một sư cô ra đời, cùng với người kia sản xuất ra bốn trự. Một mà luânhồi thành sáu! Lúc ấy mới thấy cuộc đời trầm luân, nặng nề quá cỡ! Đến khivượt biên họ viết thư cho tôi nói: ‘Thầy ơi! Chúng con bây giờ là sáuđứa lận. Làm sao khi chúng con qua bên đó Thầy cho chúng con đi xuất gialại hết thảy sáu người!’ Sức mấy! Một người mà còn chưa nắm vững vậnmệnh được, bây giờ sáu người… rất khó! Đọc bài Phóng Cuồng Ca củaTuệ Trung Thượng Sĩ chúng ta mối thấy tự do là cái quý nhất trên đời. Tựdo đó đưa chúng ta tới hạnh phúc chân thật. Và khi chúng ta có hạnh phúc,chúng ta mới có thể ban phát hạnh phúc cho những người khác. Còn nếu chúngta không có tự do, không có hạnh phúc thì chúng ta không làm hạnh phúcđược cho bất cứ một ai. Chúng ta chết chìm và kéo những người khác chếtchìm theo chúng ta.
LÝ LUẬN CỦA TRÁI TIM
Và bây giờ là suy nghĩ của Kiều:
Nàng thì thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu.
Đây là tâm lý của người đàn bà. Trong nguyên lục có những chi tiết có thểlàm sáng thêm hai câu thơ này: Hai cô thế nữ rất khôn khéo, được huấnluyện rất kỹ để đóng vai trò dẫn dụ. Về phương diện hình thức thì là haicô tỳ nữ với tất cả tài năng để phụng sự một vị đại phu nhân; về nội dunghọ là hai tay gián điệp của triều đình. Ban đầu Từ Hải muốn trả về tất cảlễ vật rồi đuổi sứ về. Thúy Kiều nói: ‘Người ta có lễ độ, có lòng tốt, đemtới những tặng vật như vậy thì tại sao mình lại từ chối?’ Từ nghe lời,nhận lễ. Chính sự chấp nhận lễ vật đó mà phòng tuyến bị vỡ. Hai cô giánđiệp lọt được vào tư thất của Kiều, đem tất cả sự khôn ngoan, miệng lưỡicủa những người gián điệp để thuyết phục Kiều: ‘Phu nhân là một người concó hiếu. Ai cũng biết thành tích hiếu thảo của phu nhân, bán mình để chuộccha. Một người có hiếu lại có Trung là một người hoàn hảo. Trung là trungthành với đất nước, triều đình. Các vị thánh đế đã khai sáng đất nước này.Đất nước đang hòa bình, lương dân đang sinh sống an ổn; vậy mà bây giờ vìchiến tranh loạn lạc, đất nước phải chia hai, người dân chết trong năm nămqua đã nhiều. Nếu phu nhân chấp nhận khuyên Đại Vương ra hàng là Trung vớiđất nước, là giải phóng cho lương dân khỏi nạn đao binh. Đại Vương sẽ đượcphong quan tước, còn phu nhân thì sẽ có cơ hội về đoàn tụ gia đình.’ Đoàntụ với cha mẹ và hai em là một ao ước thâm sâu của Thúy Kiều. Mười lăm nămlưu lạc mà bây giờ lại có một cơ hội đoàn tụ gia đình. Bỏ qua thì uổng!Hai cô gián điệp đã động tới được ước muốn sâu sắc nhất trong lòng Kiều.Hai cô còn nói: ‘Khi công việc thành rồi thì quan Tổng Đốc sẽ dâng biểuxin vua ban hiệu Trung Hiếu Khả Phong cho phu nhân vì phu nhân đã cứu chobao nhiêu sinh linh khỏi chết. Nếu phu nhân về thăm gia đình với danh hiệuđó thì chắc chắn gia đình sẽ hạnh phúc lắm!’ Hai cô nói rất khéo! Khiếncho Kiều hoàn toàn chấp nhận.
Ta nên biết rằng ta vốn có trí tuệ và khả năng xét đoán. Nhưng một khi tađã để cho cái ước muốn trong lòng ta thắng rồi thì ta sẽ dùng mọi cách đểlý luận theo ước muốn đó. Đôi khi lý luận rất hay, nghe xuôi tai hợp lýgiống như ta đã tìm ra con đường của trí tuệ rồi nhưng kỳ thực, tất cảnhững lý luận đó đều vâng theo một ước muốn sâu sắc ở trong lòng. Khi tađã ước muốn cái đó, nghĩ rằng ta chỉ có thể sung sướng thật sự khi đi theocon đường đó thì tất cả những lý luận của chúng ta sẽ được dùng để phục vụcho ước muốn đó. Có vẻ như ta vừa có tình, vừa có trí nhưng kỳ thực chínhlà cái tình, cái ước muốn ở trong ta đóng vai trò chủ động. Lý luận củachúng ta đang làm vai trò biện hộ mà thôi. Chúng ta lý luận ngàn cách đểchứng tỏ rằng lý luận của chúng ta là đúng. Lý luận đó không còn kháchquan nữa. Đây là điều mà hầu hết chúng ta đều mắc phải. Khi tâm ta đãhướng về một hướng nào đó rồi ta quên hết mọi chuyện ở hướng đối diện. Đãmuốn rồi thì lý luận đủ cách. Nghĩ rằng mình đã có trí tuệ, kỳ thật mìnhmất trí tuệ. Mầm mống của sự thất bại không phát sinh từ Từ Hải mà phátsinh từ Thúy Kiều. Thúy Kiều rất quan trọng với Từ Hải, hai người là một,cho nên một khi mầm mống ấy đã chiếm cứ được Thúy Kiều rồi thì nó langsang Từ Hải rất dễ dàng. Cụ Nguyễn Du nói rằng Kiều ‘thật dạ, tinngười’, bị lễ vật làm tối mắt và những lời nói ngon ngọt chinh phục.Nhưng cụ chưa thấy rằng ước muốn rất chính đáng của Thúy Kiều là được đoàntụ với gia đình chính là động cơ thúc đẩy Kiều khuyên Từ Hải ra hàng.Trong chúng ta cso biết bao nhiêu người xa quê, lưu đày. Chúng ta có hạtgiống mong ước trở về quê hương, đoàn tụ với cha mẹ, con cái, thấy được mồmả của tổ tiên… Ai cũng có hạt giống đó. Thúy Kiều ngày xưa cũng vậy.Chúng ta hãy cẩn thận. Trong Từ Hải có trí tuệ nhưng cũng có tình cảm.phần tình cảm đã bị trấn ngự bởi Thúy Kiều. Ta nên biết phần tình cảmnhiều khi mạnh hơn phần trí tuệ rất nhiều. Những suy nghĩ, phản ứng của TừHải ban đầu rất rõ ràng, minh bạch nhưng vì ảnh hưởng của Thúy Kiều mànhững đám mây đen bắt đầu giăng phủ. Từ Hải bắt đầu không thấy được sựthật một cách rõ ràng và khách quan nữa.
Kiều tự dùng những lý luận của trí tuệ để che lấp cái ước muốn sâu sắc củamình: ‘Bây giờ ta phải đi con đường của chánh đạo. Ta đã là con gái Hiếu.Bây giờ ta cũng muốn trung nữa (vì theo đạo lý Khổng Mạnh phải vừa Hiếuvừa là Trung thì mới là một con người toàn vẹn.) Hơn nữa, đây là con đườngbất bạo động. Tôn trọng sự sống của sinh dân. Chấm dứt chiến tranh. Đitheo con đường này thì không những ta hạnh phúc mà bao nhiêu dân chúngtrong nước cũng được hạnh phúc. Không còn cảnh nhà tan, cửa nát.’ Lý luậnrất đúng, rất hoàn hảo. Nhưng dầu sao đó cũng là lý luận phát sinh từ ướcmuốn của cô là được đoàn tụ gia đình. Đó không phải là một ước muốn bậy.Chúng ta không lên án ước muốn đó. Chúng ta chỉ nhìn kỹ để thấy rằng tấtcả những lý luận coi như tuyệt hảo đó phát xuất từ một ước muốn mà thôi.Ta chỉ cần thấy điều đó. Và ta cũng sẽ thấy được những tai họa và hiểmnguy đang chờ ta. Có những trường hợp ước muốn thúc đẩy không được chínhđáng. Nếu là người khôn khéo, chúng ta tìm những lý luận tuyệt vời, đếncác luật sư cũng đều phải bó tay, chấp nhận lý luận của chúng ta; vì đó làlý luận của trái tim: ‘Le coeur a ses raisons que le raison ignore!’
Nàng thì thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì!
Công tư vẹn cả hai bề,
Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu hai là đắc trung.
Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng vỗ hãi hùng nước sa.
Đó là giấc mơ mà Kiều muốn thực hiện. Bây giờ Kiều đem lý luận ra để chinhphục Từ Hải:
Nhân khi bàn bạc gần xa,
Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào.
Kiều hỏi: ‘Đại Vương nghĩ sao? ‘Từ Hải nói: ‘Không hàng thì có ba điềulợi. Một là muốn hành quân, đánh phá đâu cũng được, không có ai ngăn cảnmình. Hai là muốn có thêm ngân quỹ, vàng bạc, lụa là gì cũng được dễ dàng.Ba là nếu thắng trận thì mình có khả năng tiến tới, không tiến được thìđóng binh rút về căn cứ, mình ở trong tư thế chủ động. Đó là ba điều thuậnlợi của lập trường không hàng. Nếu hàng thì có năm điều hại. Thứ nhất lànhận sắc phong của vua, nếu quan hơi có lỗi lầm một chút thì bị vua trừngphạt. Thứ hai là sẽ bị các quan, nhất là phía quan văn, sai khiến, đànhạch. Thứ ba là mình có thể sẽ bị dời đi nơi khác, bị cô lập hóa; khi đóthế mạnh nằm trong tay triều đình, mình có thể bị bắt giết bất cứ lúc nào.Thứ tư là một khi mình không nắm quyền bính trong tay thì chỉ cần được mộtvị quan văn sai khiến, bất cứ một tên lực sĩ nào cũng có thể nữa đêm tớigõ cửa nhà là bắt mình được mình. Thứ năm là dân chúng trong vùng biển nàythế nào thế nào cũng có người khổ vì chiến tranh do mình gây ra, thừa lúcmình không có thế lực và binh quyền sẽ tìm cách trả thù báo oán. Đó là nămđiều hại.’ Từ Hải lý luận khá rõ ràng. Nhưng Kiều đã bị ước muốn kia trấnngự nên lý luận rất hay (theo nguyên lục); ‘Nếu mình nhận sắc phong củavua mà không tiếp nhận một chức quan thì làm sao có thể phạm lỗi được?Thứ hai là nếu nhận chức quan có tính cách chức vị (nominal), ngồi chơixơi nước thôi, không chịu sự sai khiến thì làm sao đàn hạch, hỏi tội được?Thứ ba là nếu hàng nhưng ra điều kiện là vẫn được ở chỗ hiểm yếu của mình,không bị dời căn cứ, không phải đi vào chầu trong triều thì làm sao línhvua có thể bắt được mình? Thứ tư mình có thể chấp nhận không gây chiếntranh, quy thuận triều đình, theo lệnh của vua nhưng vẫn giữ quyền bínhcủa mình. Mình án binh bất động nhưng thế mạnh vẫn thuộc về mình. Thứ nămlà mình vẫn có quyền bính, không chống triều đình, những kẻ sĩ dân trongvùng có trả thù muốn báo cũng không làm gì được. Hàng không những không cónăm điều hại mà có năm điều lợi.’ Rất có biện tài. – Và hơn nữa là vợcủa Từ, (điều này cô ta không nói), sẽ có thể được về thăm gia đình vớibảng hiệu ‘Trung Hiếu Khả Phong’, cờ lọng đầy đủ! Đó là giấc mơ củaThúy Kiều. - Từ Hải nghe lọt tai.
Nhân khi bàn bạc gần xa,
Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào.
Rằng: ‘Ơn thánh đế dồi dào,
‘Tưới ra đã khắp thắm vào đã sâu.
‘Bình thành170 công đứcbấy lâu,
‘Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao.
Ca ngợi công đức lập quốc của nhà Minh.
Ngẫm từ dấy việc binh đao,
‘Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu.117
‘Làm chi để tiếng về sau,
‘Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào!
‘Sao bằng lộc trọng quyền cao,
‘Công danh ai dứt lối nào cho qua?’
- ‘Chúng ta đã giết hại sinh linh nhiều rồi! Và trên nguyên tắc: ‘Đượclàm vua, thua làm giặc’, nếu Đại Vương chiếm hết được cả nước thì ĐạiVương mới làm vua, còn chiếm một phần của nước thì đến khi chết người tavẫn gọi mình là giặc, như Hoàng Sào. Chi bằng ta tiếp nhận chức tước củatriều đình. Công danh của chúng ta mấy ai có thể qua mặt được?’ - Đứng vềphương diện Nhân, Nghĩa, Hạnh Phúc, tất cả lý luận của Thúy Kiều đều tuyệthảo cả. Chỉ có một điều ta cần nhớ là tất cả những lý luận đó đều đến từước muốn của cô nàng chứ không phải từ nhận thức khách quan.
Từ Hải đã biết rõ hạnh phúc của mình nằm ở chỗ tự do, rằng: ‘Bỏ thân vềvới triều đình, Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu! Áo xiêm ràng buộc lấynhau, Vào luồn ra cúi công hầu mà chi!’ Vậy mà:
Nghe lời nàng nói mặn mà,
Thế công Từ mơi trở ra thế hàng.172
Nghe lời Kiều thì quên hết!
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc giáp quyết đường giải binh.173
Trong nguyên lục không nói chuyện giải binh mà nói hàng với điều kiệnkhông giải binh. Khi Hồ Tôn Hiến gửi một vị phụ tá có tài ngoại giao lớntên là Lợi Triện sang thương thuyết nữa, Từ Hải nói: ‘Nếu tôi hàng thì quývị cho tôi chức Tổng Binh là cùng chức gì! Chức tước trong triều nhiều lắmlà lên tới nhị phẩm. Các quan văn trong triều sẽ coi tôi ra gì đâu! Tôi làdân nhà binh, tự do quen rồi, làm sao nép phục dưới mấy ông đó!’ Lợi Triệnđáp: ‘Một khi Đại Vương quy thuận triều đình thì sẽ được phong tước Hầu.Hai là được trấn tại đây, không bị đổi đi nơi khác. Ba là không giải binh,không buông quyền bính, được dùng quân trong vùng này.’ Lợi Triện hứa: ‘Bađiều kiện đó chắc chắn được chấp nhận!’ và về báo cáo lại với Hồ Tôn Hiến.Hồ Tôn Hiến nói: ‘Như vậy thì nên tổ chức uống máu ăn thề với Từ Hải rồiquyết định ngày giờ thực hiện việc quay về với triều đình ngay tại đại bảndoanh của Từ Hải (không bắt Từ Hải ra khỏi vùng của mình.)’ Người thân tíncủa Hồ Tôn Hiến là quan Lợi Triện cùng Từ Hải lập bàn thờ uống máu ăn thề,hứa sẽ thi hành hiệp ước đó, làm không đúng lời sẽ bị trời tru đất diệt.(Ngày xưa chuyện thề thốt quan trọng lắm!)
BẤT Ý THƯA CƠ
Tin lời thành hạ yêu minh,174
Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng
Sau khi Lợi Triện và Từ Hải đã uống máu ăn thề, định ngày chính thức rahàng rồi, Từ Hải thấy viễn tượng tương lai của mình là được phong tướcHầu, nắm giữ binh quyền và được triều đình chấp nhận. Tất cả những chànglính trong quân đội Từ Hải đều thấy viễn tượng được về thăm gia đình. Ýchí chiến đấu không còn. Tác giả dùng tám chữ: ‘Ngọn cờ ngơ ngác trốngcanh trễ tràng.’ Rất hay! Chỉ cần tám chữ là thấy được tình trạng bê hốicủa quân ngũ Từ Hải. Và cố nhiên, điều này không lọt qua mắt của thám báotriều đình:
Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
Vương sư175 dòm đã tỏtường thực hư.
Hồ công quyết thế thừa cơ,
Lễ tiên binh hậu khắc cờ lập công.
Đây là câu lục bát toàn chữ Hán, không có chữ Nôm.
Kéo cờ chiêu phủ tiên phong,
Lễ nghi phục trước bác đồng phục sau.
Theo nguyên lục, Hồ Tôn Hiến mặc áo mão triều đinh, đi dưới những câylọng, phía trên có một lá cờ lớn thêu bốn chữ ‘Đại thiên chiêu phủ’. Hồ dẫn theo ba đạo binh đi phía Bắc, phía Nam và tập hậu. Đoàn quânphía trước hoàn toàn không có khí giới, chỉ có nghi lễ và âm nhạc.
Từ công hờ hững biết đâu,
Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên.
Từ Hải mặc lễ phục của đại quan đi bộ ra đầu hàng, trong tay hoàn toànkhông có một tấc sắt.
Hồ công ám hiệu trận tiền,
Ba bề phát súng bốn bên kéo cờ.
Đang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn,
Từ sinh liều giữa trận tiền,
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân.
Khi nghe tiếng pháo lệnh và thấy địch quân reo hò ập lại từ ba phía, TừHải biết mình đã trúng kế. Không có ngựa để chạy trốn. Từ quay lui, cướpgiáo của một địch quân, tả xung hữu đột, giết hàng chục quân sĩ và mộtviên tùy tướng của triều đình. Thấy Từ ghê gớm quá, phía triều đình nớivây, không dám đánh trực tiếp với Từ nữa mà dùng cung tên. Từ Hải bị tênnhắm bắn từ bốn phía, toàn thân bị tên cắm đầy như một trái chôm chôm.
Khí thiêng khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.
Trơ như đá vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời.
Nỗi oan ức của Từ Hải lớn quá. Thác rồi mà khí uất vẫn còn khiến thân Từđứng sững như một pho tượng đồng, không chịu ngã ra. Trước khi chết Từ Hảila lên: ‘Phu nhân làm ta lầm!’
Quan quân truy sát đuổi dài,
Hằm hằm sát khí ngất trời ai đang.
Quân triều đình thừa thế đuổi theo, chém giết, tiêu diệt những đạo quâncòn lại của Từ Hải. Rất tội nghiệp! Người ta đã chịu hàng rồi mà lại giếtngười ta và giết tất cả quân lính của người ta. Nói cái giọng: ‘đểtránh chuyện binh đao, tôn trọng sự sống của dân chúng’ chẳng qua chỉlà nói dối mà thôi. Người ta đã hàng rồi mà không cho người ta cơ hội đểhàng.
Trong ngoài hào lũy tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Một số binh sĩ dắt Kiều tới chỗ Từ Hải vừa chết.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ tro.
Khóc rằng: ‘Trí dũng có thừa,
‘Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này!
‘Mặt nào trông thấy nhau đây?
‘Thà liều sống chết một ngày với nhau!’
Dòng thu như xối cơn sầu,
Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên.
Lạ thay oan khí tương triền!
Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra.
Tương triền là quấn quít lấy nhau. Trong Từ Hải có oan khí, trongnàng Kiều cũng có oan khí đó. Và vì vậy, Từ Hải ngã xuống như một ngườichết bình thường khi Kiều tới gieo đầu xuống chân Từ Hải tự tử.
Quan quân kẻ lại người qua,
Xót nàng sẽ lại vực ra dần dần.
Đem vào đến trước trung quân,
Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han.
Rằng: ‘Nàng chút phận hồng nhan,
‘Gặp cơn binh cách nhiều nàn176cũng thương!
‘Đã hay thành toán miếu đường,
‘Giúp công cũng có lời nàng mới nên.
‘Bây giờ sự đã vẹn tuyền,
‘Mặc lòng nghĩ lấy muốn xin bề nào?’
Hồ Tôn Hiến nói: ‘Đã đành sự thành công này là do kế hoạch của triều đình,nhưng nói về công trạng thì không có nàng việc lớn không thành. Nàng cócông, vậy nàng muốn được thưởng như thế nào?’
Nàng càng giọt ngọc tuôn dào,
Ngập ngừng mới gởi thấp cao sự lòng.
Rằng: ‘Từ là đấng anh hùng,
‘Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi.
‘Tin tôi nên quá nghe lời,
‘Đem thân bách chiến177làm tôi triều đình.
‘Ngỡ là phu quý phụ vinh,178
‘Ai ngờ một chút tan tành thịt xương.
‘Năm năm trời bể ngang tàng,
‘Dẫn mình đi bỏ chiến trường như không.
‘Khéo khuyên kể lấy làm công,
‘Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu.
‘Xét mình công ít tội nhiều,
‘Sống thừa tôi đã nên liều mình tôi.
‘Xin cho thiên thổ một đôi,179
‘Gọi là đắp điếm cho người tử sinh.’
Kiều xin được mai táng cho Từ Hải tử tế.
Hồ công nghe nói thương tình,
Truyền cho kiểu táng di hình bên sông.
‘Kiểu táng’ (hay cáo táng) là bọc cỏ mà chôn, nghĩa là chôn mộtcách sơ sài, dối trá.