Ân oán rạch ròi.
Trong quân có lúc vui vầy,
Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:142
‘Khi Vô Tích, khi Lâm Truy,
‘Nơi thì lừa đảo nơi thì xót thương.
‘Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
‘Chút còn ân oán đôi đường chưa xong.’
Kiều muốn đền ơn và báo oán. Những hạt giống đó cũng có mặt trong ta.Chúng ta không muốn giết hay bỏ tù người làm ta khổ nhưng khi thấy ngườiđó bây giờ khổ thì trong lòng ta cũng thấy hơi đã. Đó là hạt giống của sựbáo oán. Tất cả chúng ta đều có hạt giống đó. Phải công nhận như vậy. HọcTừ Bi Hỷ Xả chúng ta có thể chuyển hóa hạt giống đó. Tôi đã thực tập. Cónhững người làm khổ tôi rất nhiều trong quá khứ. Đôi khi thấy những ngườiđó khổ thì ban đầu mình nói thầm thầm: ‘Cho đáng!’ Ngày xưa thì có lúc nhưthế, nhưng bây giờ thì khác. Tôi đã chuyển hóa. Tôi không muốn những ngườilàm khổ mình ngày xưa khổ. Nếu quý vị đọc sáu điểm tôi đề nghị cho tươnglai Phật giáo Việt Nam thì sẽ thấy một trong sáu điều là: ‘Phật giáoViệt Nam không có kẻ thù. Phật giáo Việt Nam muốn được cộng tác với tất cảnhững thành phần khác của dân tộc, dầu với những người ngày xưa đã từngđàn áp Phật giáo và làm cho Phật giáo điêu đứng.’ Điều này được bộc lộrất rõ, đúng với tinh thần Đại Xả của Tứ Vô Lưọng Tâm.
Đọc truyện Kiều, chỗ nào chúng ta cũng thấy thương xót Kiều nhưng tới chỗThúy Kiều trả thù thì ta thấy Kiều chưa giỏi. Đã khổ nhiều như vậy mà chưahiểu được những người kia. Tuy ác độc, gian manh nhưng họ cũng là nạn nhâncủa gia đình, xã hội và giáo dục của họ. Kiều chưa thấy được điều đó. Cùngtu học với nhau bây giờ, chúng ta có cơ hội làm được chuyện mà ngày xưaThúy Kiều đã không làm được, tức là thương xót được những người đã làm khổmình bởi vì họ cũng khổ. Ý định đền ơn thì tốt nhưng ý muốn trả thù thìkhông xứng đáng; nhất là mình đã từng được đi tu rồi.
Từ công nghe nói thủy chung,
Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
Anh chàng nghe nói giận lắm. Muốn trừng phạt tất cả những người đã làm chongười yêu của mình đau khổ da diết ngày xưa. Ăn thua là do người đàn bàcả. Người đàn bà cứ tỉ tê nói ra nói vào một hồi là người đàn ông xiêulòng. Anh hùng vậy đó, nhưng nếu có một người đàn bà yếu đuối hờn ganh bêncạnh thì có thể những hạt giống vô minh sẽ nổi lên. Đó cũng là thươngnhưng tình thương ở đây chưa phải là tình thương của Từ Bi Hỷ Xả. Tìnhthương này còn có chất liệu của vô minh, phân biệt, kỳ thị. Chưa có chấtliệu Xả.
Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng,143
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao.
Ba quân chỉ ngọn cờ đào,
Đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Truy.
Đi bắt hết những người làm khổ Kiều và mời tất cả những người ân của Kiềuvề. Vô Tích và Lâm Truy là hai nơi mà Kiều đã chịu khổ rất nhiều. Lâm Truylà nơi Kiều vào thanh lâu lần đầu. Vô Tích là chỗ Kiều bị bắt làm đầy tớ.Các tướng cũng được lệnh bảo vệ cho gia đình họ Thúc (Thúc ông và ngườinhà) không cho quân lính và dân chúng vào phá. Như vậy là quân lính của TừHải có thể phạm vào những nhà khác. Đó là cảnh chiến tranh. Thật nguyhiểm.
Mấy người phụ bạc xưa kia,
Chiếu danh tầm nã bắt về hỏi tra.
Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.
Mụ quản gia vãi Giác Duyên,
Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời.
Thệ sư kể hết mọi lời,
Lòng lòng cùng giận người người chấp uy.
Thệ sư là lễ tế cáo Trời Đất và Quỷ Thần và hiểu dụ tướng sĩ trước lúcxuất quân. Lễ này có mục đích nêu ra rằng đây là một cuộc hành quân cóchính nghĩa, không phải là việc đi cướp bóc, tàn hại nhân dân. Đó là đạođức chính trị và quân sự ngày xưa. Con người làm chiến tranh nhưng phảibiết rằng ngoài con người còn có Trời, Đất, Quỷ, Thần. Không nên nghĩ rằngngoài con người ra không có cái gì cả. Đó là một nét thuộc về văn minhĐông phương. Hy vọng trong tương lai những nước Tây phương mỗi khi muốnđem quân đi đánh ở đâu cũng sẽ làm lễ Thệ Sư nói cho quần chúng. Quỷ Thần,Trời Đất biết rõ lý do.
Sau khi tướng sĩ và quân lính nghe những chuyện Kiều kể thì ai nấy đềugiận. Ai cũng muốn chấp hành và thực hiện cho được mục đích của cuộc raquân.
Đạo trời báo phục chỉn ghê,144
Khéo thay một mẻ tóm về đầy nơi.
Quân trung gươm lớn giáo dài,
Vệ trong thị lập cơ ngoài song phi.145
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,
Bác đồng chật đất tinh kỳ rợp sân,146
Trướng hùm147 mở giữatrung quân,
Từ công với phu nhân cũng ngồi.
Tiên nghiêm148 trống chửadứt hồi,
Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.149
Những người có tên điểm danh được dẫn ra trước cửa quân.
Từ rằng: Ân oán hai bên,
‘Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh.’
Nàng rằng: ‘Muôn cậy uy linh,
‘Hãy xin báo đáp ân tình cho phu.150
‘Báo ân rồi sẽ báo thù.’
Từ rằng: ‘Việc ấy để cho mặc nàng.’
Cho gươm mời đến Thúc Lang,
Mặt như chàm đổ mình dường giẻ run.
Mặt tái xanh, người run rẩy. Đúng là tướng mạo, là căn cước của anh chàng.
Nàng rằng: ‘Nghĩa trọng tình non,
‘Lâm Truy người cũ chàng còn nhớ không?
‘Sâm Thương151 chẳng vẹnchữ tòng,
‘Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
‘Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,
‘Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là.
Dầu không sống với nhau suốt đời nhưng vẫn còn tình nghĩa cũ. Kiều biết ơnThúc Sinh đã kéo mình ra khỏi ổ nhền nhện và cho mình gần một năm hạnhphúc. Nhưng:
‘Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
‘Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau!
‘Kiến bò miệng chén chưa lâu,
‘Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa!’
Đó là một lời dọa.
Thúc Sinh trông mặt bấy giờ,
Mồ hôi chàng đã như mưa ướt dầm.
Sợ quá! Xin đừng cười, bởi chàng Thúc Sinh đang có mặt trong mỗi chúng ta.
Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,
Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai.
Sợ là sợ cho Hoạn Thư, mừng là mừng cho Thúy Kiều. Anh chàng được Kiều trảơn có thể sẽ bị mất vợ.
Mụ gia sư trưởng thứ hai,
Thoát đưa đến trước vội mời lên trên.
Mụ già là bà quản gia ở nhà họ Hoạn, Sư Trưởng là sư chị Giác Duyên. Haingười vừa đến thì được Kiều mời lên trướng liền.
Dắt tay mở mặt cho nhìn:
‘Hoa nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi!
‘Nhớ khi lở bước sẩy vời,
‘Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
Kiều có hạt giống của sự biết ơn rất lớn. Nhớ mãi những điều người ta giúpmình. Chúng ta nên biết bất cứ một hạt giống tốt nào mình gieo, một cử chỉthương yêu lân mẫn nào mình làm đều có kết quả. Kết quả trong lòng mình vàtrong lòng người khác.Thực tập ‘Sáng cho người thêm vui. Chiều giúpngười bớt khổ,’ bảo hộ sanh mạng và thực tập Từ Bi Hỷ Xả trong đờisống hàng ngày để đầu tư cho tương lai, làm như thế không phải chỉ choriêng mình mà cho tất cả mọi người.
‘Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
‘Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân!’
Cúng dường sư chị Giác Duyên và bà quản gia mỗi người một nghìn lạng vàng.Không biết sư chị dùng vàng này để làm gì? Nhưng bà quản gia thì chắc chắcsẽ biết cách xài. Bà sẽ tìm cách thoát khỏi thân phận làm việc cho ngườivà ra sống riêng. Ngày xưa Hàn Tín bên Tàu trong thời đói khổ gặp một bàgià tên là Phiếu mẫu cho ăn cơm. Sau này làm nên, Hàn Tín trả ơn bà mộtnghìn lạng vàng. Những khi người ta khổ đau hoặc lỡ bước mà giúp người talà rất quan trọng. Một bát cơm thôi nhưng đáng giá ngàn vàng. Không thểnói một bát cơm ngoài chợ chỉ bán có ba hay mười francs. Một bát cơm cókhi là ba Francs nhưng có khi là một ngàn lạng vàng, có khi lại không cógiá trị gì hết. Đưa một bát cơm mà nói nặng nhẹ thì bát cơm đó không cómột giá trị gì. Với tấm lòng thương yêu, săn sóc, nhường cơm xẻ áo chongười thì bát cơm đó đáng giá ngàn vàng. Có những người Việt Nam trongnhững trường hợp khổ cực, cha trong trại học tập cải tạo (Sơn La hay ÍchKhiếu), mẹ bị bịnh... bên này chúng ta nhường cơm xẻ áo gởi về giúp họ,sau này mỗi khi nhớ tới họ rất cảm ơn mình. Nhưng có người sau khi quađược bên này lại nói: ‘Gửi cho mấy chục đô la, nhằm nhò gì!’ Họkhông nhớ rằng trong trường hợp khó khăn mà nhận được sự giúp đỡ là quý.Đó là họ không biết giá trị của bát cơm Phiếu mẫu. Họ nghĩ ằng bên nàytiền do mình tự đúc ra, cứ việc bỏ vào bì thơ để gửi về; họ không biếtrằng mình cũng phải nhịn áo, nhịn mặc, nhịn tiêu mới có thể gửi về được.Nên biết rằng trong ta có thể có những hạt giống như vậy. Chúng ta có thểcó những hạt giống của Hàn Tín, Thúy Kiều và cũng có thể có hạt giống củanhững người không phải là Hàn Tín, Thúy Kiều.
Hai người trông mặt tần ngần,
Nửa phần khiếp sợ nửa phần mừng vui.
Ghê quá! Mình là thầy tu, mình là mụ quản gia mà bây giờ phải lên tới chỗnày, toàn là quân lính và giáo dựng gươm trần. Bà này làm lớn quá! Họkhông biết nói gì cả.
Nàng rằng: ‘Xin hãy rốn ngồi,
‘Xem cho rõ mặt biết tôi báo thù!’
Chắc chắn là sư chị không muốn ngồi nhưng sư chị đã bắt buộc phải ngồi vìhơi ngại. Sư chị đâu muốn nhìn thấy những chuyện bạo động, trả thù. Chỗnày chúng ta cần quán chiếu cho kỹ. Chúng ta đọc tiếp để xem Thúy Kiều báothù Hoạn Thư như thế nào:
Kíp truyền chư tướng hiến phù,152
Lại đem các tích phạm tù hậu tra.153
Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư,
Thoát trông nàng đã chào thưa:
‘Tiểu thư cũng có bây giờ ở đây!
- ‘Tiểu thư mà cũng tới đây nữa hả?’ Đó là lời nói mỉa mai. Hạt giống nàycũng có trong ta. Thỉnh thoảng chúng ta cũng biết nói lời mỉa mai.
‘Đàn bà dễ có mấy tay,
‘Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
‘Dễ dàng là thói hồng nhan,
‘Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều!’
- ‘Từ xưa đến giờ tìm ra được một người như tiểu thư là hiếm lắm. Càng caynghiệt lắm thì càng gặp nhiều oan trái.’
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng dở điều kêu ca,
‘Rằng: ‘Tôi chút phận đàn bà,
‘Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
- ‘Đàn bà ai lại không ghen tương phu nhân!’ Điều này có thật. Nói như vậykhông có nghĩa là đàn ông không ghen. Đàn ông cũng ghen. Nhưng đây là nóichuyện đàn bà với nhau. ‘Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.’ Nói ramột sự thật. Bà này khôn lắm. ‘Tôi là đàn bà. Mà hễ là đàn bà thì ai làkhông ghen.’
‘Nghĩ cho khi các viết kinh,
‘Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Nhắc lại những công đức của mình. Rất khéo! Bà này mà đi học trường luậtthì chắc cũng sẽ tốt nghiệp hạng cao. Không nói ‘đi trốn’ mà chỉnói ‘khỏi cửa’ thôi - Người ta làm phu nhân, người ta đâu có ‘đitrốn’.
‘Lòng riêng riêng những kính yêu,
‘Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai!
Khi chồng mình bị một người đàn bà khác tới chiếm thì tâm niệm muốn giậtchồng lại là một tâm niệm phổ biến. Đó là tính người. Tự mình làm luật sưbào chữa. Rất hay. Nhưng cái hay này một phần lớn là của thi sĩ.
‘Trót lòng gây việc chông gai,
‘Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng!’
- ‘Lượng phu nhân lớn như biển. Bây giờ phu nhân thương được chút nào thìcon nhờ chút đó.’ (Thương ít ít cũng được, miễn có thương là quý rồi.) Rấtkhéo.
Rằng: ‘Tôi chút phận đàn bà,
‘Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,
‘Nghĩ cho khi các viết kinh,
‘Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
‘Lòng riêng riêng những kính yêu,
‘Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai!
‘Trót lòng gây việc chông gai,
‘Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng!’
Rất gọn mà đủ. Ghen thì ghen ghê gớm mà nói thì cũng rất khéo. Và quý hơnhết là vẫn có vài hạt giống của lòng từ bi trong tâm.
Kiều đáp lại:
Khen cho: ‘Thật đã nên rằng,
‘Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
‘Tha ra thì cũng may đời,
‘Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
‘Đã lòng tri quá154 thìnên,
‘Truyền quân lệnh xuống trướng liền tha ngay.’
Kiều tha bổng cho một người đã từng làm cho mình đau khổ cùng cực. ĐêmHoạn Thư tổ chức tiệc rượu tẩy trần đón Thúc Sinh trở về bắt Kiều hầu rượulà đêm đau khổ nhất của Kiều. Thúc Sinh và thúy Kiều càng đau khổ baonhiêu thì Hoạn Thư càng ‘đã’ bấy nhiêu. Nhưng bây giờ chính Kiều ra lệnhtha cho Hoạn Thư. Chuyện này sở dĩ xảy ra một phần là nhờ Hoạn Thư khônkhéo và một phần khác cũng nhờ trong tâm bà ta có hạt giống từ bi. Ngàyxưa bà đã làm được hai việc quan trọng. Một là cho Kiều đi tu để thoátkhỏi thân phận đầy tớ. Hai là để Kiều trốn mà không tầm nã. Nếu không cóhai điều đó thì bây giờ chắc chết. Trong nguyên lục Hoạn Thư bị đánh mộttrăm roi trước khi tha bổng. Cụ Nguyễn Du của chúng ta không cho đánh HoạnThư. Nàng Kiều của cụ Nguyễn Du có lòng từ bi hơn nàng Kiều trong nguyênlục.
Tạ lòng lạy trước sân mây,
Cửa viên lại dắt một dây dẫn vào.
Những người còn lại đều bị phạt nặng.
Nàng rằng: ‘Lồng lộng trời cao!
‘Hại nhân nhân hại sự nào tại ta!
Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu: lưới trời lồng lộng, thưa màkhó lọt. Làm ác thì bị quả báo ác. ‘Hại nhân nhân hại’ làluật quả báo. ‘Sự nào tại ta’: vì các người ác nên bị quả báo chứkhông phải tại tôi ác. Nói như vậy, đứng về phương diện pháp lý thì rấtđúng nhưng đứng về phương diện đạo lý thì không đúng. Có hai phương phápxử trị: đức trị và pháp trị. Pháp trị là lấy luật mà đối xử. Phạm lỗi đóthì bị trừng phạt, như vậy là pháp trị. Câu nói của Kiều là câu nói vềpháp trị..Nhưng là người tu thì mình không được nói như Kiều. Mình khôngphải là pháp gia , mình là đạo gia. Mình phải nói: ‘Anh đã gây tội lỗi,đáng lý hôm nay anh bị quả báo. Nhưng tại tôi là người tu thành ra may choanh.’ Đó là đức trị. Trị bằng đức, bằng tình thương. Thúy Kiều đã được đitu, học đạo giải thoát mà vẫn dùng ngôn ngữ của pháp trị, đó là khônggiỏi. Là người tu mình không nói bằng ngôn ngữ của pháp trị; mình phải nóibằng ngôn ngữ của đức trị. Mình đừng nói: ‘Ráng chịu!’ không phải là ngônngữ của người tu. Đây là một trong những lỗi lớn của Thúy Kiều. Chúng tahãy tưởng tượng trong khi Kiều đang nói bằng cái giọng sắt đá và máy mócnhư vậy thì sư chị Giác Duyên cũng đang ngồi phía sau lưng. Sư chị nghĩgì?
‘Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
‘Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh,
‘Tú Bà với Mã Giám Sinh,
‘Các tên tội ấy đáng tình còn sao?’
Lệnh quân truyền xuống nội đao,
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
Những người ngày xưa thề như thế nào thì bây giờ chịu quả như thế đó. Vídụ thề: ‘Nếu mà tôi có phản bội thì tôi chết liền tức khắc!’ hay ‘Nếu tôilừa gạt em thì cho người ta băm nát thân tôi thành từng miếng đem làm thựcphẩm cho lợn ăn!’ thì Kiều bây giờ cũng cho làm y như vậy. Như vậy thờigian Kiều ở chùa Chiêu Ẩn không ích lợi gì. Có chép Kinh, tụng Kinh, thỉnhchuông, làm đủ thứ... được ở với sư chị nhưng những hạt giống của từ bi,tha thứ không được tưới tẩm nhiều. Kiều có tha cho Hoạn Thư vì thấy đượchoàn cảnh và lòng tốt của Hoạn Thư. Trong Kiều cũng có cái thấy, cái hiểuvà cái thương. Nhưng với những người này, Kiều hoàn toàn không thấy đượcrằng sở dĩ họ ác như vậy là vì họ được nuôi dưỡng và sống trong những môitrường mà ai ở trong đó cũng có thể trở thành như vậy. Vì không thấy điềuđó nên Thúy Kiều đành lòng để họ bị trừng phạt. Sư chị ngồi phía sau chắccũng đau xót vô cùng nhưng không làm gì được. Không thể ngăn cản được nữavì đây không phải thiền môn. Đây là quân trường, đây là tòa án, đây khôngcòn là sư em của mình nữa mà là một vị chỉ huy trưởng quân đội toàn quyềnsinh sát (Từ rằng: ‘Việc ấy để cho mặc nàng.’) Hai người ơn củaKiều, bà quản gia và sư Giác Duyên ngồi phía sau mà khiếp đảm, thấy tráitim Kiều là sắt đá. Chắc sư chị đau khổ vô cùng. Lỗi một phần là của sưchị. Trong thời gian em nó ở với mình, mình đã không dạy. Sư chị có thể làngười tốt nhưng sư chị không thực tập dạy em. Vì vậy tuy thương em nhưngsư chị không làm tròn bổn phận của một người chị. Tất cả những sư chịtương lai phải học những bài học này. Em mình không thể nói: ‘Hại nhânnhân hại. Ai bảo! Ráng chịu!’ Nếu sư em mình làm và nói như vậy làmình chịu trách nhiệm hoàn toàn. ‘Tôi đã nói mà nó không chịu nghe!’ Nhưngtôi đã nói làm sao để nó không chịu nghe? Hay là vì tôi nói giọng chị Haithành ra sư em tôi không thèm nghe? Tôi phải nói bằng thứ ngôn ngữ rấtngọt ngào và thương yêu thì em tôi mới dễ dàng tiếp nhận. Còn nếu tôi nóitheo kiểu mẹ chồng hay chị Hai thì em tôi sẽ ghét tôi, không chịu nghe,không chịu học với tôi. Dầu có nói đúng cách mấy đi nữa mà nói cái giọngsẵng đó thì ta sẽ không thành công và không làm được trách vụ sư chị? Cácsư chị phải ăn nói như thế nào để các em thương và nghe lời mình. Sau nàycác em không thể nói rằng: ngày xưa sư chị chưa dạy! Sư chị có dạy và dạybằng ngôn ngữ từ ái, không trách móc, không lý luận, không đổ lỗi. Sư chịchỉ nhẹ nhàng khuyên nhủ em thôi. Nếu sau này em không học được thì khôngphải là lỗi của chị nữa mà là lỗi của chính em. Tưởng tượng sư chị ngồiphía sau với tư cách thượng khách của sư em mà không làm được gì để ngăncản sư em hết! Trễ quá rồi! Làm gì được nữa! Sư chị phải thấy trách nhiệmcủa mình ngày xưa đã không giúp em.
Máu rơi thịt nát tan tành,
Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời.
Hồn và phách là hai khía cạnh tâm lý. Người Việt phải biếtchuyện này. Hồn (spiritual soul) nhẹ hơn phách (vegetative soul.) Pháchcũng là hồn nhưng có dính với phần sắc thân nhiều hơn. Đối với tín ngưỡngbình dân của người Việt thì đàn ông có ba bồn bảy phách (vía), đàn bà cóba hồn chín phách (vía nhẹ thì tốt.) Hỏi tại sao thì có thể giải thíchbằng nhiều cách. Chín vía có thể nặng hơn bảy vía nhưng nhờ chín vía nênmới có thể thấy, cảm được những điều mà người đàn ông không cảm được. Đứngvề phương diện chi tiết, người đàn bà tiếp xúc được nhiều hơn người đànông. Ví dụ như gửi quà về nhà, đàn ông thường làm đại khái, còn đàn bànghĩ tới từng chi tiết một: nghĩ tới từng đứa cháu, từng đứa chắt. Cónhững người đi máy bay, xe lửa không muốn đem theo nhiều món đến khi thiếuthì than. Hành lý của người đàn bà tuy nhiều một chút nhưng rất cần thiết,đủ từng chi tiết. Đến khi cần cái gì họ nói: ‘Có đem theo đây!’; người đànông rất hoan hỷ. Đứng về phương diện cơ thể học, con người có hai hệ thầnkinh. Hệ gần với thân thể gọi là système nerveux végétatif. Phách gần vớithân thể. Theo tín ngưỡng bình dân Việt Nam, khi thân thể đã chết pháchvẫn còn và từ từ tan biến. Câu 115, khi thăm mộ Đạm Tiên, Kiều nói: ‘Thác là thể phách còn là tinh anh.’ Tinh anh thuộc về hồn. ‘Hồnkinh phách rời’ là khi sợ quá, phách lìa khỏi thân thể.
Cho hay muôn sự tại trời,
Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta!
Hai câu này cần phải xét lại. Đây là lời luân lý để cảnh cáo người ta.Trời ở đây không phải là một đấng tạo hóa mà là luật của thiên nhiên. Muônsự tại trời nghĩa là mọi việc đều xoay quanh luật thiên nhiên; trong đó cóluật nhân quả. Trồng bắp thì được ăn bắp, trồng đậu thì được ăn đậu, gieogió thì gặt bão. Khi mình dễ thương với một người nào đó thì mình đượcngười đó đối xử dễ thương lại. Khi mình phản bội độc ác với một người nàođó thì mình sẽ bị đáp lại bằng sự độc ác và phản bội của chính người đóhoặc của một người nào khác. ‘Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta’:Khi mình phụ người ta thì mình thấy không sao hết nhưng đến khi người taphụ mình một cái thì mình mới thấy được tất cả đau khổ của một người bịtình phụ. Thấy một người mới tươi mát, tốt lành, dễ chịu nên mình đi theo,bỏ người cũ. Người cũ đau xót cách mấy mình cũng không biết. Nhưng khi cáingười mình gọi là tươi mát đó đá mình một cái và bỏ đi, mình mới có cơ hộibiết được người bị mình phụ đã đau khổ như thế nào. ‘Phụ người chẳng bõkhi người phụ ta’ là luật thiên nhiên, nêu ra để dạy người, nhưngtrước hết là để chứng minh rằng chuyện mình trả thù cũng là chuyện tựnhiên thôi. Thái độ này không tốt. Nó chỉ tốt với những nhà pháp trị nhưngkhông tốt với những nhà đức trị như chúng ta.
Mấy người bạc ác tinh ma,
Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.
Có chứ! Những người đứng trên phương diện đức trị nghe tiếng kêu thươngvẫn có thể thương được. Ví dụ như sư chị Giác Duyên. Sư chị ngồi ở trêncảm thấy rất đau xót nhưng bất lực, biết rằng mình đã không dạy em. Tácgiả nói như vậy là đứng về phía Kiều mà nói nhưng không đứng về phía sưchị mà nói. ‘Mình làm mình chịu kêu mà ai thương’ có nghĩa là ‘Đángđời!” Kỳ thực cụ Nguyễn Du tuy nói vậy nhưng trong lòng cụ, cụ cũng cảmthấy đau. Nói là nói ngoài mặt vậy thôi. Ai thấy trường hợp những ngườikia bị băm, bị chém mà không thương! Câu này như để răn dạy. Có người chủtrương phải có sự trừng phạt như vậy thì người ta mới ngán không làm ác.Một phần nào đó họ cũng có lý. Ví dụ khi qua một cái đèo rất hiểm trở trêncon đường Sài Gòn - Đà Lạt, từ trên xe đò nhìn xuống người ta thấy một cáimiếu thờ những người từ nạn từ xe hơi rớt xuống đèo. Những người có chánhniệm đã lái xe cẩn thận, nhìn xuống thấy cái miếu lại càng cẩn thận hơnnữa. Những tay anh chị đánh người không nương tay (anh chị Cầu Muối), chửithề, không kính trọng bất cứ ai, không tin ở đức trị, đi ngang qua miếu đócũng phát ngán, sợ các linh hồn kia kéo mình xuống vực. Thành ra đe dọacũng có ích lợi. Ở chùa có tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiền lành, mát mẻnhư một đóa hoa nhưng cũng có ông Diện Nhiên Đại Sĩ thở ra toàn khói vàlửa, cầm thanh gươm đứng để đóng vai trò Ông Ác cho người ta ngán. Anh làmcái đó sẽ bị cái này. Đó là pháp trị; pháp trị cũng đóng được vai trò củanó. Cái hay trong đạo Bụt là vị Diện Nhiên Đại Sĩ thở ra và nói toàn làkhói và lửa không ai khác hơn là đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Đức Bồ Tát cườinhẹ nhàng như cơn gió thoảng nhưng cũng phải hiện ra dữ dằn như vậy để chongười ta sợ mà xa lánh điều ác. Đó là một hình thái của tình thương. Đưacao đánh khẽ. Nhưng Thúy Kiều có đánh khẽ không? Không. Đây không phải làđức trị mặc áo pháp trị. Có tình thương thật thì có thể sử dụng phươngpháp pháp trị, nhưng đi sâu vào thì thấy toàn là đức trị. Ở các chùa cónhững hình vẽ cảnh địa ngục: vạc dầu, cột đồng... cũng là đọa. Nhưng đókhông thật sự là ác. Đó là phương tiện để giúp những người không thể giúpđược bằng những phương pháp nhẹ nhàng. Vấn đề là cứu độ chứng không phảilà trừng trị.
Mấy người bạc ác tinh ma,
Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.
Bạc tức là (đức) mỏng. Người có nhiều đức độ, tình thương trong lòng, biếtnghĩ tới tương lai gọi là người có hậu hay đức dày. Không ănxổi ở thì, không phải chỉ biết ngày hôm nay không lo gì đến tương lai. Nhưcưa củi mà chỉ cưa một chút xíu để xài ngày hôm nay thôi, ngày mai mặc kệthì gọi là mỏng; cưa nhiều để dành cho ngày mai gọi là dày. Đó là đứng vềphương diện vật chất. Phương diện tinh thần cũng vậy. Thương người, giúpngười, chất chứa công đức và tình thương nhiều gọi là hậu (dày). Ngược lạivới mỏng, không lo cho hạnh phúc của mình và người trong tương lai. Bạccũng có nghĩa là phụ bạc, phản bội. Đoạn này chúng ta thấy cụ Ngụyễn Ducũng có đức dày. Cụ nói như vậy cốt để dọa. Nếu đứng ra xét xử chắc hẳn cụsẽ dùng đức trị, dơ cao đánh khẽ, để cảm hóa họ: ‘Bữa nay ta tha đó nghe.May mà gặp tui chứ gặp người khác là chết rồi!’
Ba quân đông mặt pháp trường,155
Thanh thiên bạch nhật156rõ ràng cho coi.
Trời trong, giữa ban ngày, không ai không thấy được luật nhân quả rõ ràng.
Kiều đã tha cho Hoạn Thư là một việc đáng mừng, nhưng Kiều đã trừng phạtnhững người còn lại đó là một việc không hay. Nếu Kiều biết tu tập thì đãcó thể hướng dẫn cho họ thở, nhìn kỹ, nhìn sâu để thấy rõ những đau khổcủa hai bên và tìm cách giáo dục cho họ, cho họ những cơ hội và điều kiệnđể làm lại cuộc đời.