Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
03:01, Friday.July 31 2026
Văn học Phật giáo
Thả một bè lau
Tác giả : Thích Nhất Hạnh
Nhà xuất bản :
************************************************
Mục lục
• Thay lời tựa
• 1. Hành Trang: Chữ tài, chữ mệnh, chữ tâm
• Hoa ghen đua thắm.
• Dây đàn bén nhạy.
• Lưng túi gió trăng.
• Tưới tẩm hạt giống.
• Nhớ ít tưởng nhiều
• Đài gương soi đến dấu bèo chăng?
• Từ phen đá biết tuổi vàng.
• Không gian trong bức họa.
• Bây giờ rõ mặt đôi ta.
• Cơn bão âm thanh.
• Thưa rằng; ‘Đừng lấy làm chơi’
• Thiên đường hạnh phúc.
• Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.
• 2. Bèo Dạt Mây Trôi.
• Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây.
• Cậy em, em chó chịu lời.
• Biết thân đến nước lạc loài.
• Một xe trong cõi hồng trần như bay.
• Ai có thể giúp Kiều?
• Nhắm mắt đưa chân.
• Một tỉnh mười mê.
• Trong ấm ngoài êm.
• Nước trôi hoa rụng.
• Dường gần rừng tía dường xa bụi hồng.
• Am Chiêu Ẩn
• Nhận diện.
• 3. Hạnh Phúc Chân Thật.
• Ân oán rạch ròi.
• Trời phương ngoại.
• Hạnh phúc là tự do.
• Hết kiếp đoạn tràng.
• Thả một bè lau.
• 4. Tan Sương Đầu Ngõ
• Tưởng bây giờ là bao giờ.
• Trời còn để có hôm nay.
• 5. Chánh Niệm Là Nẻo Thoát.
• 6. Nguyễn Du và truyện Kiều.
• Nhìn sâu vào triết lý truyện Kiều.
• Chánh niệm là nẻo thoát.
• Lời cuối.
• Tài liệu tham khảo.

5. Chánh Niệm Là Nẻo Thoát.

MÂY TRẮNG THONG DONG 

Bao nhiêu tuần lễ trôi qua. Chúng ta hãy tưởng tượng đi! Khi rời sư chị,căn cứ trên lời hứa của cha ‘lập am rồi sẽ rước thầy ở chung’. ThúyKiều vẫn mong ước có ngày như thế. Về nhà trả được nghĩa và tình rồi thìcó thể tiếp tục tu được.

 

Nhớ lời lập một am mây

Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên.

 

‘Nhớ lời lập một am mây’ tức là nhớ lời hứa sẽ lập một cái chùa. Cóbản quốc ngữ khi in ra có dấu phẩy (,) sau chữ ‘Nhớ lời’; theo tôithì không đúng. Không lý làm chùa rồi mới cùng những người thân tín đirước thầy Giác Duyên! Không phải như vậy. Làm chùa mà làm ở ngay thành phốthì sư Giác Duyên đâu chịu tới! Ý Kiều là muốn mời sư chị tới để hỏi: ‘Bâygiờ chị em mình nên làm am chỗ nào để tu? Làm am đàng hoàng vì gia đình embây giờ có thể cung dưỡng được. Làm một cái am mây trong đó có phòng tắmvà lò sưởi đàng hoàng.

 

Theo tôi, ‘Nhớ lời lập một am mây’ là nhớ lời hứa ngày xưa sẽ lậpmột cái chùa và mời thầy tới ở chung. Cho nên: ‘Khiến người thân tínrước thầy Giác Duyên’. Tới thưa với ni sư xem ni sư muốn làm chùa ởchỗ nào.

 

Có lẽ nhiều tuần lễ đã đi qua từ cái ngày cả gia đình đến rước Kiều về. Sưchị Giác Duyên đã thấy được sự thật là gia đình này, sau mười lăm năm xacách, cần sự có mặt của Thúy Kiều. Sư chị biết phải để cho Thúy Kiều đi,sư chị không tìm cách để giữ lại. Sư chị gật đầu, mỉm cười: ‘Em cứ đi đi.Chị tin tưởng rằng trong hoàn cảnh nào em cũng giữ được tâm Bồ đề và emcũng sẽ tiến tu được.’ Với nụ cười đó, Thúy Kiều đã đi về và đã làm đượcnhư mong ước của sư chị. Thời gian đó có thể xảy ra trong một, hai, hoặcba tuần lễ là nhiều. Tôi nghĩ trong suốt thời gian đó không có ngày nào,giờ phút nào mà sư em không nhớ tới sư chị và mong ước rằng sau khi trảxong món nợ tình nghĩa, hướng dẫn được sự tu học cho gia đình và cho ngườitình cũ thì mình có thể trở về với sư chị. Một, hai, ba tuần lễ cho đếnmột tháng là nhiều. Không thể tưởng tượng rằng Thúy Kiều ở lâu hơn màkhông đi thăm sư chị, vì tình hai người rất thắm thiết.

 

Nhớ lời lập một am mây,

Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên.

 

Tôi nghĩ rằng những người kia, dù thân tín cách mấy đi nữa mà tới rướcGiác Duyên thì cũng không đủ lễ. Trong chuyến đi này thế nào cũng phải cóTrạc Tuyền. Làm sao chịu nổi cái chuyện gởi người ta đi mà mình không đi!Bởi vì ngày nào, đêm nào, bao giờ Trạc Tuyền cũng nghĩ tới người sư chịthương yêu của mình, người đã cứu mình, đã sinh mình ra lần thứ hai, khôngnhững bằng thân xác mà bằng cả đời sống tâm linh nữa. Đến nơi thì thấy gì?

 

Đến nơi đóng cửa cài then,

Rêu trùm kẽ ngạch cỏ lên mái nhà.

 

Sư chị đã đi rồi. Sư chị tự do như một đám mây, như một con hạc trắng. Cáiđẹp của sư chị là chỗ đó. Cái đẹp của người tu là cái tự do của người đó.Người tu là một người có không gian. Không gian ở trong lòng và không gianở chung quanh. Nếu muốn đi thì đi, không có gì có thể giữ người tu được.Có một bài kệ chúng ta thường ngâm:

 

Bụt là vầng trăng mát

Đi ngang trời thái không

Hồ tâm chúng sanh lặng

Trăng hiện bóng trong ngần.

 

Bài này tôi đã dịch tự do từ một bài thơ chữ Hán trong một khóa tu ở miềnNam Cali:

 

Bồ tát thanh lương nguyệt

Du ư tất cảnh không

Chúng sanh tâm cấu tận

Bồ đề ảnh hiện trung.

 

(Mặt trăng trong và mát của Bồ tát đi chơi ở cõi không tuyệt đối; nếunhững bụi bặm cấu uế trong tâm chúng sanh hết rồi thì hình ảnh giác ngộhiện ra trong tâm ấy.)

 

Ta có thể họa tượng đức Bồ tát Quan Thế âm ngồi trên một phiến đá, phíatrên có mặt trăng và viết bốn câu thơ này lên chỗ lạc khoản. Bài dịch cóthêm hình ảnh hồ tâm, và trăng hiện bóng. Trăng hiện chứ không phải ‘bồ đềhiện’. Trăng ở đây tức là Bồ đề’, chữ trăng được lấy lại, không mất, nêntứ thơ có tính nhất trí hơn trong nguyên bản chữ Hán. Cái đẹp và cái hạnhphúc của người tu được xây dựng bằng chất liệu gọi là không gian, tự do.Con người không có tự do là con người chưa có hạnh phúc lớn. Bài thơ chochúng ta thấy sự thật đó. Càng nhiều tự do thì chúng ta càng có nhiều hạnhphúc. Ngày nghe thầy Thiện Minh tịch, tôi viết một bài thơ cho thầy, đó làbài Mây Trắng Thong Dong. Thầy Thiện Minh ngày xưa học ở Phật họcviện chùa Báo Quốc tốt nghiệp cùng một lúc với lớp thầy Trí Quang. ThầyThiện Minh là người rất thông minh, mau lẹ, tổ chức rất hay. Nếu cần mộtthầy ngồi chủ tọa để một đại hội để giải quyết những vấn đề khó khăn thìngười làm chủ tọa giỏi nhất, đưa đại hội đi tới sự thành công mau nhất đólà thầy Thiện Minh. Rất mau nhạy, rất thông minh. Trong cuộc tranh đấu củaPhật giáo Việt Nam cho nhân quyền dưới quyền ông Ngô Đình Diệm, thầy ThiệnMinh đã được cử làm Trưởng phái đoàn Liên Tông, gồm đại diện của Tổng HộiPhật Giáo Việt Nam và các tổ chức Phật giáo khác, đứng ra thương thuyếtvới phái đoàn Liên Bộ của chính phủ. Bên phía chính phủ phái đoàn Liên Bộ(bộ Nội Vụ, bộ Xã Hội, v.v…) có Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ làm trưởngđoàn. Chúng ta biết thầy Thiện Minh mà hướng dẫn một phái đoàn như vậy làhay nhất. Trong khi họp, phái đoàn Phật giáo đã thành công. Bên chính phủphải ký vào một thông cáo chung, công nhận quyền tự do của Phật giáo. Khithông cáo chung được công bố, mọi người thấy đây là một thắng lợi lớn củaPhật giáo. Nhưng chính quyền không có thiện chí. Họ ký xong lại phản bộilại thông cáo chung ấy. Trong cuộc tranh đấu của phật giáo để chống lạichế độ độc tài, thầy Thiện Minh đã đóng một vai trò rất lớn. Khi chính phủcủa xã hội chủ nghĩa lên, họ sợ thầy Thiện Minh nên đã bức tử thầy. Họ bắtthầy và ép thầy tự tử trong một nhà tù tại Sài Gòn. Thầy Thiện Minh phảixé áo làm dây để tự tử. Khi thầy tịch rồi, sợ quần chúng phản ứng mạnh nênhọ chở thầy về Hàm Tân, một hai ngày sau mới báo tử. Thầy Trí Thủ và cácthầy khác phải về Hàm Tân mới nhận xác được. Lúc đó tôi đang ở Phương VânAm. Tôi nhớ buổi chiều hôm đó, nhận được tin bên nhà, thầy trò làm việcsuốt đêm tìm những dữ kiện có được về thầy Thiện Minh, tổ chức họp báo,làm press release, báo cáo về cái chết của thầy Thiện Minh. Bụổi sáng, khilàm xong công việc, tôi ngồi lại, tưởng niệm thầy Thiện Minh và viết bài Mây Trắng Thong Dong để cúng dường thầy. Mây trắng thong dong làmột đám mây tự do. Thầy Thiện Minh bây giờ đã trở thành một đám mây trắng,thầy có sự thong dong rồi. Trong bài thơ, tôi dùng hai hình ảnh: đám mâyvà dòng suối; giống như hai người bạn. Mây và suối là hai cái khác nhaunhưng cùng một bản chất. Tôi nói ngày xưa tôi là dòng suối còn thầy ThiệnMinh là đám mây. Một bên thì đi xuống để tìm ra biển Đông, một bên thìthong thả rong chơi trên trời. Cả hai đều hẹn nhau đi về biển Đông. Nhưngvì hoàn cảnh khổ đau, khó khăn cho nên đám mây đã biến thành mưa, rơixuống:

 

MÂY TRẮNG THONG DONG

 

nhớ thuở xưa - khi ngươi còn là đám bạch vân bay thong dong

ta theo nguồn múa ca về đại dương mênh mông,

ngươi lưu luyến chốn đỉnh cao, lắng tiếng reo cười ngàn thông

ta nhấp nhô trên sóng bạc, lên xuống vào ra muôn trùng.

 

Kịp đến khi thấy trần gian quằn quại lệ chảy thành dòng

thì ngươi biến thành mưa, nhỏ xuống tàn đêm đông

mây đen mịt mờ một phương chừ, mặt trời hấp hối

người gọi ta về, cùng nhau giăng tay nổi trận cuồng phong.223

Lòng thảnh thơi đâu,

khi hoa ngàn cỏ núi còn rên siết hận bất công.

ngươi đưa hai tay thiên thần, quyết tâm tháo bỏ cùm gông

trong khi bóng tối phủ đầy, họng súng đen ngòm bạo lực

xương dồn thành gò cao chừ,

trong khi máu đã chảy dài thành sông.

 

Hai bàn tay ngươi dập nát, thương ôi,

xích xiềng vẫn chưa tháo được

ta gọi sấm sét về bên ngươi,

quyết cùng bạo lực mở cuộc thư hùng gan dạ hơn người, trong đêm ngươihóa thành

Sư Vương rống lớn hàng vạn loài ma quái nghe ngươi,

đã cầm cập run lên trong đêm sương.

 

Hiên ngang không lùi bước chừ,

dù phía trước dày đặc hầm chông

ngươi thản nhiên đưa mắt nhìn bạo lực chừ.

như nhìn vào khoảng không.

Sống Chết là chi chừ, ép uổng nhau sao được?

ngươi gọi tên ta mà cười chừ,

không một lời rên xiết, dù tra tấn cùm gông.

 

Bây giờ thoát đi, xiềng xích không còn buộc nổi chân thân,

ngươi trở về kiếp xưa mây trắng,

thảnh thơi trên bầu mênh mông;

Đến, Đi tự ngươi - đỉnh cao nào thích thú thì ngươi dừng lại,

cưỡi trên sóng bạc đầu chừ, ta hát ru ngươi khúc hát bi hùng.

 

Hình ảnh đó cũng là hình ảnh của tự do. ‘Đỉnh cao nào thích thú thìngười dừng lại’, chỗ nào không thích thì đi. Đó là hành tung của đámmây. Sư chị cũng vậy. Chỗ nào thích thì sư chị ở lại, chỗ nào muốn từ giãthì sư chị từ giã. Sư chị là một con người tự do. Sư chị không bị vướngmắc, đam mê. Sư chị quả thật là một người chân tu. Rất thương em nhưngkhông dính mắc. Nếu cần trả em về vơi gia đình thì sư chị trả. Sư chị luônluôn muốn tự do của em, không cột em vào trong vòng vướng mắc. Chúng ta códanh từ Duyên Giác. Duyên Giác hoặc Bích Chi Phật là những bậc tu học nhờquán chiếu về Mười hai nhân duyên mà chứng ngộ. Ở đây không phải là DuyênGiác mà là Giác Duyên (conditions enlightenment), những điều kiện chính đểgiúp Trạc Tuyền đạt tới giác ngộ và chuyển hóa. Mỗi người trong chúng taphải là một điều kiện để giúp người thương của chúng ta đạt tới sự hiểubiết, giác ngộ và giải thoát. Mỗi chúng ta khi đi tu rồi, phải là một điềukiện để giúp cho những người thân của chúng ta được giác ngộ. Chúng taphải giúp cha, mẹ, anh, chị, em, bạn bè của chúng ta được giác ngộ. Chúngta phải thực hành ý nguyện của sư chị. Giác Duyên là một phần trong conngười chúng ta. Chúng ta phải nuôi lớn con người Giác Duyên trong ta đểsau này ta có thể giúp cha mẹ, tổ tiên, gia đình và xã hội. Giúp với tưcách những điều kiện đưa tới sự thực hiện hiểu biết, giác ngộ và thươngyêu.

 

Trong nguyên lục, khi Kiều cùng với một số người đến tìm sư chị Giác Duyêntại chùa thì họ thấy cửa đóng, sư chị đã đi rồi, trước cửa lại có để lạimột câu thơ chữ Nho:

 

Nhược vấn ngõ thân hà xứ khứ

Thường bạn chi hạc bán không vân.

 

‘Nếu hỏi thân tôi đã đi về hướng nào thì trả lời rằng bây giờ tôi đang baytheo con chim hạc ở giữa đám mây trên từng không.’ Có nghĩa là: Tôi là mộtcon người tự do, muốn đi đâu thì đi; tôi không có địa chỉ nhất định. Vìcâu đó trong nguyên lục nên cụ Nguyễn Du viết:

 

Sư đà hái thuốc phương xa

Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu?

 

‘Hái thuốc phương xa’ là lấy ý từ bài thơ Tùng hạ vấn đồng tử của thi sĩ Giả Đảo đời Đường. Bài thơ rất hay:

 

Tùng hạ vấn đồng tử

Ngôn: Sư thê diệp khứ

Chỉ tại thử sơn trung

Vân thâm bất tri xứ.

 

(Khách ngừng lại) dưới cây tùng và hỏi chú tiểu. Đáp: Thầy tôi đi háithuốc, chỉ quanh quẩn trong núi này thôi, (nhưng vì) mây dày đặc quá (nên)không biết chỗ nào)

Chú tiểu này là một chú tiểu rất thương thầy. Không muốn những người kháchtới làm quấy thầy cho nên dầu có biết thầy ngồi ở đâu chú cũng không nói.Cả mười năm nay tôi có cốt truyện này mà chưa viết được: Trong ngôi chùacó một ông thầy và một chú tiểu. Thầy làm trọn bổn phận của một ông thầyvà chú tiểu cũng thương ông thầy lắm. Thỉnh thoảng thầy dắt chú tiểu lênkhu rừng phía sau chùa. Một bữa vui miệng thầy nói chơi với chú tiểu: ‘Đâymới là chùa của thầy còn chùa dưới đó không phải. Dưới đó thầy phải làmnhiều việc, phải tiếp khách quá nhiều. Trên này có những cây thông caovút, ngồi ở đây thầy rất sung sướng. Đây mới thật là chùa của thầy.’ Haithầy trò chỉ nói chơi với nhau thôi. Có bữa nọ, chú tiểu đang làm việc thìcó ông khách tới: ‘Thầy đâu chú?’ Chú đáp: ‘Trên chùa.’ Chú không chánhniệm lắm, chú đang nghĩ đến khu rừng ở trên đồi, ‘chùa thiệt’ của thầy.Ông khách hí hửng, đi vào chánh điện, ngó quanh ngó quất không thấy thầyđâu. Đi một vòng cũng không thấy. Ông ta hỏi: ‘Chú nói thầy chú ở trênchùa mà sao tui không thấy?’ Biết rằng hồi nãy mình không có chánh niệm,chú nói; ‘Chùa này là chùa của bác. Chùa của thầy ở trên cao kìa. Nhưngbác đừng lên đó! Chùa của bác là ở đây. Trên đó là chùa của thầy.’ Cốttruyện là như vậy. Tôi có ý viết truyện ngắn đó nhưng mười năm nay chưaviết được. Chú tiểu ở đây giỏi quá! Chú biết thầy ưa ngồi chỗ nào trên núinhưng chú đã nói: ‘Thầy tôi hái thuốc, chỉ ở trên núi nầy thôi nhưng mâydày quá không biết chỗ nào.Có lên tìm cũng không thấy đâu, chi bằng đừnglên.’ Có nghĩa là: ‘Để cho thầy tôi yên.’ Đọc câu thơ của Nguyễn Du ‘Sưđà hái thuốc phương xa’ chúng ta hiểu là sư chị không muốn bị quấyrầy.

 

Đến nơi đóng cửa cài then

Rêu trùm kẽ ngạch cỏ lên mái nhà.

 

Đọc hai câu thơ này tuy thấy hay nhưng nếu chưa biết gốc rễ của chúng thìta cũng chưa thấm lắm. Sư chị như một đám mây tự do, như một con hạctrắng. Muốn đi đâu thì đi. Thật ra sư chị đã dựng cái am này ở bờ sôngTiền Đường để làm gi? Làm am đó để sống với sư em thôi. Nếu sư em đi rồithì giữ am làm gì nữa? Thà bỏ đi. Tìm về am cũ thấy ‘Rêu trùm kẽ ngạchcỏ len mái nhà’ thì cảm thấy thế nào? Buồn. Buồn vì không gặp được sưchị được nữa. Nhưng ta thấy sư chị đẹp vô cùng. Sư chị là một con người tựdo, không dính mắc. Khi cần thì sư chị làm chùa để sống với sư em. Khi sưem không cần nữa thì sư chị bỏ, đi về với đời sống tự đo thanh thoát củamình. Như một con chim hạc, như một đám mây trắng. Những câu thơ này đẹplắm:

 

Đến nơi đóng cửa cài then

Rêu trùm kẽ ngạch cỏ lên mái nhà.

Sư đà hái thuốc phương xa

Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu.

 

Sư chị đã trở thành huyền thoại. Rất đẹp. Tu, chúng ta chỉ muốn trở thànhsư chị mà thôi.

Từ đó về sau ngày nào Trạc Tuyền cũng lên am thắp nhang. Cố nhiên là cũngcắt cỏ và ngồi đó để nhớ sư chị.

 

Nặng vì chút nghĩa bấy lâu,

Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai.

 

Ngày xưa người ta đi không để lại địa chỉ. Người ta chưa có bưu điện, điệnthoại, điện tín và điện thư (e-mail) thành ra sư em không có cách nào liênlạc được với sư chị. Cách liên lạc duy nhất là mỗi ngày sư em lên chùaquét dọn, cắt cỏ, thắp nhang, thắp đèn, ngồi thiền. Tôi muốn, và nếu tôilàm không được thì một vị trong đại chúng này sẽ làm, viết tiếp cốt truyệnnày (tức là sau đó cái gì sẽ xảy ra.) Tôi nghĩ Trạc Tuyền đủ thông minh đểđi tìm sư chị vì sư chị là một người đã được biết đến trong giới xuất gia.Ngày xưa Kiều đã từng tu với sư chị ở Chiêu Ẩn Am, Kiều có thể đi tớiChiêu Ẩn Am. Kỳ này có thể đi bằng xe ngựa đàng hoàng vì gia đình Kiều bâygiờ đã giàu có (em trai làm quan, em gái là vợ một ông quan.) Tới Chiêu ẨnAm hỏi thì thế nào người ta cũng có thể có một ý kiến là sư chị bây giờđang ở đâu. Có thể sư chị đang ở đó, biết đâu! Nếu tôi viết không được thìquý vị sẽ viết. Viết tiếp chuyện Kiều. Không hẳn phải viết bằng thơ lụcbát, không hẳn là phải viết hay như cụ Nguyễn Du. Nhưng mình có thể tiếptục được. Tôi nghĩ rằng sau năm, bảy tháng tìm kiếm thì Trạc Tuyền có thểtìm lại được sư chị và trở lại sống đời sống của người xuất gia với sưchị. Điều đó ta có thể viết ra được, phù hợp với tình tiết của đoạn truyệnnày. Ở đây truyện được chấm dứt bằng hình ảnh rất tuyệt vời của sư chị.

 

Nhớ lời lập một am mây

Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên.

Đến nơi đóng cửa cài then

Rêu trùm kẽ ngạch cỏ lên mái nhà,

Sư đà hái thuốc phương xa,

Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu?

Nặng vì chút nghĩa bấy lâu,

Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai.

 

Bây giờ nói về gia đình của Kim Trọng và Vương Quan:

 

Một nhà phúc lộc gồm hai,

Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần.

 

Có Phước tức là gia đình đoàn tụ, ba thế hệ được ở chung. Có lộc là cótiền bạc lợi tức, được thăng quan tiến chức. (Chưa nói đến Thọ.)

 

Thừa gia chẳng hết này Vân,

Một cây cù mộc một sân quế hòe.

 

Thúy Vân đóng vai trò người vợ cả đảm đang, sanh ra khá nhiều các bé tí.

 

Phong lưu phú quý ai bì,

Vườn xuân một thửa để bia muôn đời.

 

Vườn xuân là hạnh phúc gia đình. Để lại tiếng khen, người đờitruyền tụng mãi.

CÁC SÁCH KHÁC
•   Con Sư Tử vàng của Thầy Pháp Tạng
•   Những truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật Giáo
•   Tình Người
•   Nói với tuổi 20
•   Góp nhặt cát đá
•   Tự Tình Quê Hương
•   Hư Hư Lục 03
•   Hư Hư Lục 02
•   Hư Hư Lục 01
•   Truyện cổ Phật giáo tập 5
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này