Am Chiêu Ẩn
Đi hết đêm.Tới sáng:
Trời đông vừa rạng ngàn dâu,
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà!
Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành Chiêu Ẩn Am ba chữ bài.
Trong Nguyên lục: Thúy Kiều tới Chiêu Ẩn Am gõ cửa, một chú tiểu đi ra.Kiều hỏi: Trụ trì ở đây là ai? Chú tiểu trả lời ‘Ni sư Giác Duyên.’ Do đó Kiều biết tên ni sư trụ trì. Khi gặp ni sư, Kiều nói dối: ‘Con là đệ tử của thầy con ở Bắc Kinh. Thầy con và con định tới Chiêu ẨnAm thăm ni sư Giác Duyên nhưng giữa đường con lạc mất thầy con. Vì vậy contìm tới trước.’ Ni sư Giác Duyên nói: ‘Có phải ni sư Hằng Thủy ởBắc Kinh không? Nếu phải thì đó là bạn thân của tôi.’ Kiều đáp: ‘Dạđúng là ni sư Hằng Thúy.’ Vào am rồi, Kiều giở bọc lấy chuông vàng,khánh bạc trao cho ni sư Giác Duyên, nói của thầy mình dặn đem tới cúngdường. Đi tu mà đem tiền, vàng, đô la tới bỏ vào chùa là nguy hiểm lắm.Chỉ nên đem tấm lòng của mình tới là tốt hơn.
Truyện Kiều của Nguyễn Du kể khác Nguyên lục một chút:
Xăm xăm gõ mái cửa ngoài,
Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong.
Thấy màu ăn mặc nâu sồng,
Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương.
Mình là thầy tu, thấy một người khác mặc áo thầy tu thì tự nhiên có cảmtình.
Gạn cùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng nàng hãy tìm đường nói quanh:
‘Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh,
‘Quy sư quy Phật tu hành bấy lâu.
‘Bản sư rồi cũng đến sau,
‘Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.’
Chuông vàng khánh bạc bên mình dở ra.
Thúy Kiều nói dối. Vì sợ nói thiệt mình từ Quan Âm Các trốn ra thì sẽkhông được chấp nhận. Thiếu niềm tin, có rất nhiều sợ hãi, có cảm giáckhông an ninh... Bị bao nhiêu nỗi khổ trong lòng xô đẩy đi làm nhữngchuyện không đúng. Nếu đi vào mà nói thiệt hết cho sư Giác Duyên thì sẽkhông có vấn đề gì cả. Ở đây Kiều lại giấu quanh, nói dối. Hồi mười haigiờ khuya vừa mới phạm giới ăn cắp (giới thứ hai). Bây giờ lại phạm tớimột giới lớn nữa, giới thứ tư, nói dối.
Sư Giác Duyên cũng không để ý tới chuyện vàng bạc.
Xem qua sư mới dạy qua:
‘Phải Ni Hằng Thủy là ta hậu tình.
‘Chỉn e đường sá một mình,
‘Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.’
Gởi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong.
Được sự che chở của sư Giác Duyên nên Kiều có một ít sự an ổn. Am mây cósự liên hệ đến chỗ các thiền sư tĩnh tu. Ví dụ như Ngọa Vân Am (Am MâyNgủ) trên núi Yên Tử là nơi tĩnh tu của Trúc Lâm Đại Sĩ (vua Trần Nhân Tônsau khi xuất gia.) Cao Tăng Truyện có thuật chuyện thiền sư NhấtBiển làm một cái cốc trên đỉnh núi. Đây là bài thơ của thiền sư chép lạitrong Cao Tăng Truyện:
Thiên phong đỉnh thượng nhất gian ốc,
Lão tăng bản gian, vân bản gian.
Tạc dạ vân tùng phong vũ khứ,
Đáo đầu bất tợ lão tăng nhân.
Nghĩa là:
Một gian nhà tranh trên chóp ngàn ngọn núi
Lão tăng ở nửa gian, mây ở nửa gian.
Đêm qua mây đã theo gió và mưa đi mất,
Rốt cuộc nó không được nhàn hạ bằng ông thầy tu già.
Từ đó, những chiếc am dựng trên đỉnh núi thường được gọi là am mây.
Gửi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong.
Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
Hương đèn việc trước trai phòng quen tay.
Đã tu được ba tháng, chép Kinh cũng khá, công việc thắp nhang, đốt đèn,dọn dẹp trai đường, phòng ốc cũng đã quen thuộc rồi.
Sớm khuya lá bối phiến mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt tiếng chày nện sương.
Đó là sinh hoạt hàng ngày trong thiền môn: tụng kinh, thỉnh chuông buổisớm và buổi khuya. Văn chương rất đẹp! Có bản chép là ‘Sớm khuya lá bốiphướn mây’ thì không đúng. Phướn là cái treo trên trần rũxuống, nhiều màu, có đề ‘Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật’ hay ‘Nam Mô A Di Đà Phật’ để trang trí trong chùa, không dính đến công phuhàng ngày. Lá Bối tức là Kinh (ngày xưa người ta chép Kinh trên lá Bối);còn phiến mây là cái vân bản (cái khánh hình đám mây.) Ngọn đènkhêu nguyệt có lẽ được ảnh hưởng đoạn văn trong Nghi Thức Chẩn Tế:
‘Kinh song lãnh tấm tam canh nguyệt
Thiền thất u minh bản dạ đăng.’
Nghĩa là:
Từ cửa sổ (người thầy tu) ngồi đọc Kinh cái lạnh thấm vào ánh trăng canhba; Trong thiền thất mờ mờ tỏ tỏ ngọn đèn nửa đêm. (Tam canh vàbán dạ đều là nửa đêm.)
Nếu quen thuộc Kinh điển chúng ta sẽ thấy hình ảnh ‘ngọn đèn khêunguyệt’ đẹp hơn. ‘Tiếng chày nện sương’ là tiếng chuông đạihồng ngân lên buổi sớm. Chu Mạnh Trinh, trong bài Chùa Hương, cóhai câu nói về ảnh hưởng của một tiếng chuông trong lòng người:
‘Thoáng bên tai một tiếng chày kình,
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.’
Thúy Kiều thông minh, học mau, ni sư thương, cho ở lại lâu trong chùa.
Thấy nàng thông tuệ khác thường,
Sư càng nể mặt nàng càng vững chân,
Cửa Thiền vào cữ cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời.
Kiều ở Chiêu Ẩn Am cũng khá lâu. Trước kia ở Quan Âm Các chỉ được vàitháng mùa thu: ‘Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu.’ Như vậy trốnđi, đến Am Chiêu Ẩn phải là đầu mùa Đông. Ở lại qua mùa Đông, rồi hết mùaXuân.
Gió quang mây tạnh thảnh thơi,
Có người đàn việt lên chơi cửa già.122
Giở đồ chuông khánh xem qua,
Khen rằng: ‘Khéo giống của nhà Hoạn Nương!’
Người bổn đạo này có lẽ đi đã nhiều chùa, trong đó có Quan Âm Các, cho nênđã nhận ra chuông vàng khánh bạc của Hoạn Thư. Chúng ta thấy: không có mộthành động nào của mình mà không có kết quả. Theo cụ Nguyễn Du, Kiều bị lộtung tích vào lúc cuối xuân. Nhưng theo nguyên lục (Phong Tình Lục) thì đólà mùa thu, lúc chùa Chiêu Ẩn tổ chức lễ Vu Lan. Ni sư Giác Duyên là ngườicó đạo hạnh, rất dễ thương vì vậy khi có lễ các phu nhân và tiểu thư cũngđã đến rất đông. Hôm đó Kiều thoái thác là nhức đầu, nằm trên lầu khôngxuống. Dinh quan Lại Bộ Thượng Thư không cách Am Chiêu Ẩn bao xa. Kiều sợbị nhận diện. Cũng theo nguyên lục, chuông vàng khánh bạc không bày trênchánh điện mà để trong phòng sư Giác Duyên. Người bổn đạo được phép vàophòng sư nên thấy và nhận ra. Câu chuyện chỉ xảy ra giữa hai người. Nguylắm! Chùa mà chứa những đồ vàn bạc ăn cắp (lại từ một nhà quan nữa!) thìcó thể bị cảnh sát tới thăm bất cứ lúc nào. Sư nghe sợ nhưng không nóiliền. Đợi tới khuya, bổn đạo về hét, hai thầy trò ngồi lại với nhau sư mớihỏi Kiều.
Giác Duyên thực ý lo lường,
Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau.
Khi Kiều đến gõ Am Chiêu Ẩn, một chú tiểu ra mở cửa. Ngoài hai người chùacòn có người khác. Chi tiết ‘đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau’ cho thấy Trạc Tuyền được ni sư coi như một người thân, cho ở chung mộtphòng. Như vậy ni sư Giác Duyên rất thương Trạc Tuyền trong nguyên lụcchứng tỏ Giác Duyên chưa phải là một ni sư lớn tuổi. Sư đối với Trạc Tuyềnthân mật như em ruột của mình. Trạc Tuyền thường gọi Giác Duyên là ‘sưhuynh’, ‘đạo huynh’ (đúng ra phải gọi là ‘sư chị.) Như vậy Giác Duyêncũng còn trẻ, hơn Kiều nhiều lắm là mười tuổi.
Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu
Sự mình nàng mới tó đầu bày ngay:
‘Bây giờ sự đã dường này,
‘Phận hèn đủ rủi dù may tại người.’
Giác Duyên nghe nói rụng rời,
Nửa thương nửa sợ bồi hồi chẳng xong.
Rỉ tai mới kể sự lòng:
‘Ở đây cửa Phật là không hẹp gì.
Cửa Phật là cửa rộng. Đó là một câu nói mà ai cũng thuộc lòng. Cửa Phật làcửa rộng, không ai có thể đóng cửa lại không cho mình vào. Đó là truyềnthống của Đông phương và đã đi sâu vào lòng người Việt. Một năm nọ ở Cali,ban tổ chức khóa tu đã làm việc theo kiểu Tây phương, nghĩa là khi đã đủ150 người thì khóa sổ. Có những người điện thoại muốn ghi tên thì được bantổ chức trả lời: ‘Dạ thưa hết chỗ!”Nhưng những người muốn ghi tênkhông chịu thua: ‘Hết chỗ rồi hả? Cho tôi biết địa chỉ đi!’ Và họnói với nhau: ‘Bửa đó mình cứ kéo nhau lên, thầy sẽ không đóng cửa đuổimình đâu mà sợ!’ Đó là dân tộc tính của mình: Cửa Phật là cửa rộng. Hễmình tới chùa thì không có ai có thể đuổi mình về được vì ai cũng côngnhận cửa Phật là cửa rộng. Ban tổ chức bên Mỹ làm việc theo phương phápMỹ, không đi đôi được với tinh thần truyền thống: ‘Ở đây cửa Phật làkhông hẹp gì.’
‘E chăng những sự bất kỳ,
‘Để nàng cho đến thế thì cũng thương.
- ‘Nhưng nếu không làm gì hết, cứ ngồi yên như vậy thì một ngày kia có taihọa, sư em sẽ bị bắt bớ và tra khảo thì sư chị cũng sẽ chịu không nổi.’
‘Lánh xa trước liệu tìm đường,
‘Ngồi chờ nước đến nên đường còn quên.’
- ‘Em phải lánh đi, chứ nếu ngồi đây mà đợi nước đến chân mới nhảy thì quêlắm!’ Và do đó mà Kiều đã bị rơi trở lại trong vũng bùn một lần nữa. Bởinghiệp còn nặng mà lòng không quyết chí tu!
Có nhà họ Bạc bên kia,
Am mây quen lối đi về dầu hương.
Nhắn sang dặn hết mọi đường,
Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân.
Những mừng được chốn an thân,
Vội vàng nào kịp tình gần tính xa.
Kiều mang chuông vàng khánh bạc đi tỵ nạn ở nhà họ Bạc.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc Bà học với Tú Bà đồng môn.
Rốt cuộc là Kiều phải vương vào cái ổ nhền nhện thanh lâu một lần thứ hai.
Bởi vì Trạc Tuyền đã không có cơ hội thực sự thực tập đời sống xuất gianên mới xảy ra những chuyện rủi ro và trầm luân trở lại. Trong truyềnthống đạo Bụt đại thừa, đi xuất gia không là để trốn tránh những đau khổtrong cuộc đời. Có thể những đau khổ Kiều trong cuộc đời là những yếu tốtốt cho mình thấy được giá trị của cuộc đời và đi xuất gia. Nhưng xuất giakhông phải là để trốn tránh những đau khổ đó mà là để chuyển hóa và giúpngười khác chuyển hóa chúng. Đạo Bụt đại thừa nói rất nhiều đến Tâm Bồ Đề.Tâm Bồ Đề là một chí nguyện lớn. Đi xuất gia là phải có một chí nguyệnlớn. Chí nguyện hoằng dương chánh pháp, độ thoát chúng sanh, đem niềm vuiđến cho mọi người. Nếu không có nguồn năng lượng này thì lòng mình yếulắm. Yếu cho đến nỗi những nội kết, khổ đau của chính mình mình cũng khôngchuyển hóa được. Chỉ ‘thảm lấp sầu vùi’ thôi thì làm sao chuyển hóađược! Nói và cười với bổn đạo đến chùa như bổn phận của một người tiếpkhách, vậy thôi; khi người bổn đạo về thì mình lại đối diện với niềm đaucủa mình, chỉ biết khóc. Tu học như vậy thì không bao giờ thành công được.Không có quyết tâm, do đó những nội kết trong lòng mình vẫn y nguyên nhưcũ. Cái thảm và cái sầu đó được cộng thêm với những cái khác như cảm tưởngnghi ngờ, không có an ninh, lo sợ... Sự hành trì mười giới cũng không đànghoàng cho nên không có gì bảo hộ cho mình. Tuy mặc áo thầy tu, ở chùa,tụng Kinh nhưng mình không được bảo hộ bởi Bồ Đề Tâm, bởi Giới Luật, bởiniềm tin. Tu như vậy có vẻ có hình thức mà không có nội dung. Nếu tronglòng mình có Tâm Bồ Đề thì mình được một sức mạnh rất lớn thúc đẩy và chomình nhiều sinh lực. Năng lượng đó giúp mình làm việc và tu học. Mình thấymình có sứ mạng đem tới sự thay đổi, độ mình và độ đời. Chính năng lượngTâm Bồ Đề ấy giúp mình không vấp ngã. Mình biết rằng mình muốn làm gì vàđi đâu. Trong thời tôi còn thơ ấu, mới đi tu, chưa biết gì nhiều, PhậtPháp chưa sâu sắc, chưa biết con đường thực tập, chưa biết con đường chánhniệm, chưa biết con đường chuyển hóa... nhưng trong con người của chú tiểumười sáu tuổi ấy có một nguồn năng lượng rất lớn, một chí nguyện rất lớn.Chính nguồn năng lượng đó đã bảo vệ cho chú, cho chú sức mạnh để có thểhọc, tu, để có thể làm được những chuyện mà một người khác có thể khônglàm được. Ví dụ như bị áp đảo, khổ nhục, khó khăn mà không nản lòng. Đó lànhờ nguồn năng lượng của Bồ Đề Tâm. Trong sư cô Trạc Tuyền không có nguồnnăng lượng đó. Chỉ muốn trốn thoát hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng thôi. Thêmvào, không có thầy, bạn và tăng thân nên sự thực tập của cô trong chùa chỉcó tính cách hình thức. Nói đến mười giới thì chúng ta thấy Kiều phạm vàorất nhiều giới, trong đó có các giới nói dối và ăn cắp. Đã là một sư côrồi nhưng khi người yêu cũ tới thì vẫn không có ý thức được mình là một sưcô. Trong khi nói chuyện, khi khóc, khi cầm tay thì Trạc Tuyền cư xử khôngcó tính cách của một sư cô. Trong uy nghi cũng như giới hạnh Trạc Tuyền viphạm rất nhiều và cái đó đem lại những hậu quả khổ đau về sau. Giá dụ đừngăn cắp thì đã không xảy tới chuyện người bổn đạo nhìn ra vật sở hữu củanhà Hoạn Thư. Sự thật Hoạn Thư tuy là là một người đàn bà ghen tuông cựcđộ nhưng vẫn có những hạt giống của từ tâm. Hoạn Thư đã cố tình để choKiều đi trốn. Và dầu biết Thúy Kiều đã ăn cắp chuông vàng khánh bạc mangtheo. Hoạn Thư vẫn tha thứ, không truy nã. Nếu muốn truy nã thì chỉ trongvòng bốn năm tiếng đồng hồ là bà có thể tìm ra Kiều ở đâu và lấy lại nhữngbảo vật đó rồi. chính nhờ hạt giống lành đó trong tâm mà Hoạn Thư sẽ đượccứu thoát sau này. Bất cứ một tâm niệm lành nào, bất cứ một hạt giống nàomình có trong lòng đều có thể nẩy mầm và sinh hoa kết trái. Chỉ cần tướitẩm thôi. Luật nhân quả này cũng áp dụng được trong trường hợp Kiều ăncắp. Hành động gọi là ăn cắp đó có kết quả về tương lai. Tuy không bị bắt,bị tù nhưng chính vì hành động ăn cắp đó mà Kiều rơi một lần thứ hai nữavào dòng khổ đau.
Rõ ràng Hoạn Thư đã cố tình không theo đuổi, đã cố tình tha thứ cho Kiềumà Kiều vẫn sợ. Chính vì sợ nên Kiều mới lâm vào tình trạng này. Sợ rằngnếu không có tiền, không có gì để hộ thân thì mình sẽ bấp bênh:
‘Chỉn em quê khách một mình,
Tay không chưa dễ tìm vành ấm no!’
Nghĩ đi nghĩ lại quanh co,
Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân,
Bên mình giắt để hộ thân,
Lần nghe canh đã một phần trống ba.
Hành động phạm giới này được thúc đẩy bởi lòng tham mà bởi cái sợ. Nguyênnhân cái sợ ở chỗ nào? Ở chỗ vô minh, không thấy được rằng đã là ngườixuất gia thì mình không nên sợ đói, sợ không có chổ ở. Nếu mình là ngườitu đích thực thì ở đâu người ta cũng ủng hộ mình, tới chùa nào người tucũng thương, cũng chấp nhận. ‘Nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lýdu.’ Bao nhiêu là không gian, bao nhiêu là tự do. Ở đâu mình cũng ởđược vì mình có tu, có quyết tâm tu. Đã quyết tâm tu ròi thì không cầnphải sợ cái gì cả. Kiều chưa quyết tâm tu cho nên cái sợ bấp bênh vẫn còn.Xuất gia, cạo sạch mái tóc là một hành động rất quả quyết. Gương mặt mìnhtự nhiên rạng rỡ, đẹp ra. Mình biết con đường mình đi thành ra không cònnhững vương vấn khác. Một cánh cửa đã đóng lại và mình đã cương quyết đónglại mãi mãi rồi thì tự nhiên có một sự giải thoát. Sự giải thoát đó bừngtỏa trong con người, nơi nét mặt của mình. Trước đó một ngày, hai ngày,người ta chưa thấy điều đó vì cánh cửa chưa đóng. Xuất gia làm ni cô mìnhsẽ có cái hay đó. Một cánh cửa đã được đóng rồi và mình biết mình sẽ khôngđi qua cửa đó nữa, với chuyện chồng con. Thúy Kiều chưa được cái đó. Kiềubước vào cửa thiền như vào một chỗ tị nạn. Vậy thôi. Chưa quyết tâm. Tuycó cảm tình với thiền môn nhưng chưa hết lòng. Chưa nhận ra được mình làngười tu hành, hoàn toàn phó hết tất cả thân mạng, tâm ý, lý tưởng mìnhcho đạo. Một người đã đi tu rồi là cương quyết tu học. Hành động ăn cắp ởđây không được thúc đẩy bởi lòng tham mà bởi sự sợ hãi có nguồn gốc ở vôminh và thiếu bồ đề tâm. Vô minh là không có sự sáng suốt. Có sáng suốtthì tự nhiên sẽ thấy rằng ngay ở Quan Âm Các mình cũng đã có thể có tự dovà hạnh phúc rồi. Chính vì không thấy điều đó nên những vương vấn cũ củaKiều vẫn còn đó và đã biểu hiện trong giờ viếng thăm của Thúc Sinh. Tưởngrằng chỉ có hai người, không ai biết, không người người vợ cả đã đứng nghehết tất cả. Cái sợ của Kiều vì vậy càng lớn thêm. Cái sợ càng lớn sự u mêcàng to. Và Kiều lại phạm vào những lỗi lầm có ảnh hưởng đến đời sống saunày của mình. nếu không sợ đói khổ bấp bênh, chỉ đi thôi, không ăn cắp thìtới ở với sư chị Giác Duyên sẽ đâu có chuyện gì! Tị nạn xảy ra chỉ vìvướng có một chút xíu đó thôi! Chuông vàng, khánh bạc là vật chất nhưngcũng là biểu hiện của tâm thức. Mang theo chuông khánh đó không ích lợi gìcả. Mang theo chúng chứng tỏ mình mang theo vô minh, sợ hãi, nghiệpchướng. Chính chuông vàng khánh bạc đó đã đẩy Kiều xuống hố sâu một lầnthứ hai.
Tất cả những đoạn này, nếu đọc với chánh niệm chúng ta sẽ thấy rất rõ giátrị của Bồ Đề Tâm, của sự trì giới và sự quyế tâm của một người tu học.Nếu chúng ta quyết tâm tu học thì những tai nạn sẽ tan biến như mây khói.Chúng ta biết con đường của chúng ta đi.
Tuy nhiên trốn trên lầu không gặp bổn đạo sáng hôm đó nhưng Kiều vẫn khôngtránh khỏi bại lộ tung tích. Giác Duyên thương, không muốn Trạc Tuyền bịbắt bớ tội tình nên tìm nhà bổn đạo để gởi gắm. Không ngờ lại vô tình đẩyKiều đi vào chỗ tai nạn.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc Bà học với Tú Bà đồng môn.
Thấy nàng mặn phấn tươi son,
Mừng thầm được buổi bán buôn có lời.
Trong xã hội có những người chuyên buôn bán thịt người! Giác Duyên khôngbiết Bạc Bà cũng có hạt giống của Tú Bà. Thấy Kiều có nhan sắc thì liềnnghĩ đến chuyện đem bán. Bán cách nào? Bằng cách mỗi ngày đều gieo tướihạt giống sợ hãi sẵn có trong lòng Thúy Kiều:
Hư không đặt để nên lời,
Nàng đà lớn sợ rụng rời lắm phen.
‘Nguy hiểm lắm đó cô! Ở đây thế nào cũng bị bắt. Đôi khi cảnh sát đã đượcthông báo, đang đi tìm mà tìm chưa ra đó thôi! Không có chuyện gì cả nhưngngười ta đặt thành vấn đề. Mỗi lần nói chuyện với Bạc Bà là Kiều sợ runlên, ngủ không được. Mỗi ngày đều bị tưới như vậy, cuối cùng Kiều phảicháp nhận đề nghị của Bạc Bà: ‘Cô phải đi lấy chồng và phải lấy chồng rấtxa. Trong vùng này cũng không có ai dám lấy cô đâu! Cô phải lấy một ngườicon trai ở xa cả ngàn cây số. Đi thật xa sống thì mới yên ổn được. Tôi cómột thằng cháu trai ở Châu Thai, miền Chiếc Giang, mới về thăm. Nó chưa cóvợ. Nếu cô chịu thì tôi giới thiệu cho. Nếu cô lấy nó thì sau đám cưới haivợ chồng sẽ đem nhau về Chiếc Giang ở. Không ai biết mình nữa. Chỉ có cáchđó mới có an ninh mà thôi. Còn ở đây thêm ngày nào thì nguy cho cô ngàyđó!’ Đọc đến đây chúng ta biết rõ khổ đau của Thúy Kiều là ở chỗ sợ. Cảmgiác không an ninh đã có sẵn rồi. Vì sợ mà ăn cắp. Bây giờ vì sợ mà làmtâm bậy một lần nữa: chịu lấy một người mình không biết và không thương.
Chúng ta phải quán chiếu hạt giống sợ trong ta. Vì sợ cho nên nhiều khi talàm nhiều điều rất ngu xuẩn. Nhất là sợ không có an ninh trong khi mìnhđang có an ninh. Buồn cười như vậy đó. Có thể là trong giờ phút này mìnhđang thật sự có an ninh nhiều nhất mà mình lại không biết. Những cái khôngan ninh nhìn đâu mình cũng thấy! Ở đây lại có người tưới hạt giống sợ đómỗi ngày.
Mụ càng xua đuổi cho liền,
Lấy lời hung hiểm ép duyên Châu Trần.
Rằng: ‘Nàng muôn dặm một thân,
‘Lại mang lấy tiếng dữ gần lành xa.
‘Khéo oan gia của phá gia,
‘Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây.
‘Kíp toan kiếm chốn xe dây,
‘Không dưng chưa dễ mà bay đường trời.
Ghê gớm! Những câu này là những câu có tác dụng tưới tẩm hạt giống lo sợ.Bà càng nói chừng nào thì cái sợ của Kiều càng lớn lên chừng đó.
‘Nơi gần thì chẳng tiện nơi,
‘Nơi xa thì chẳng có người nào xa.
‘Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà,
‘Cũng trong thân thích ruột rà chẳng ai.
‘Cửa hàng buôn bán Châu Thai,
‘Thật thà có một đón sai chẳng hề.
Quảng cáo cho cháu! Không biết có phải cháu thật không?
‘Thế nào nàng cũng phải nghe,
‘Thành thân rồi sẽ liệu về Châu Thai.
‘Bấy giờ ai lại biết ai,
‘Dầu lòng bể rộng sông dài thênh thênh.
- ‘Tới nơi đó mới có an ninh.’ Nhưng nơi đó mới chính là chỗ đoạntrường đau khổ nhất.
‘Nàng dù quyết chẳng thuận tình,
‘Trái lời nẻo trước lụy mình đến sau.’
Nàng càng mặt ủ mày chau,
Càng nghe mụ nói càng đau như dần.
Càng nghe dọa thì Kiều càng khổ. Dần là dùng sống dao hay khúc gỗđể đập cho mềm. Chúng ta hãy tưởng tượng khúc ruột của Kiều có sống daođập lên! Mỗi lời nói tưới tẩm và dọa nạt đều có tác dụng cho người ta đaukhổ, lo sợ, thắt ruột thắt gan như có sống dao đập lên.
Nghĩ mình túng đất sẩy chân,
Thế cùng nàng mới xa gần thở than:
‘Thiếp như con én lạc đàn,
‘Phải cung rày đã sợ làn cây cong.
‘Cùng đường dù tính chữ tòng.
‘Biết người biết mặt biết lòng làm sao?
Con chim đã từng bị bắn rồi thì mỗi khi thấy cành cây cong là sợ. Đi lấychồng mà không biết người đó là ai thì làm soa mà dám tin. Kiều cũng thấytất cả sự nguy hiểm của giải pháp Bạc Bà đề nghị chứ không phải khôngthấy.
‘Nửa khi muôn một thế nào,
Bán hùm buôn sói chắc vào lưng đâu?
Bán con cọp mà mua con chó sói thì có gì bảo đảm an ninh đâu?
‘Dù ai lòng có sở cầu,
‘Tâm mình xin quyết với nhau một lời.
‘Chứng minh có đất có trời,
‘Bấy giờ vượt bể ra khơi quản gì.’
Kiều vẫn còn tin ở lòng người, tin ở lời thề. ‘Nếu người ta thề với đấtvới trời thì con sẽ đi theo.’ Chúng ta phải nghĩ đến xã hội của Thúy Kiều.Thúy Kiều không sống trong cùng một xã hội với chúng ta. Không có nhữngphương tiện về luật pháp, không có những tổ chức nhân đạo, không có nhữngcố vấn tâm lý trị liệu... Thúy Kiều hoàn toàn bơ vơ, không có giải phápnào nữa.
Được lời mụ mới ra đi,
Mách tin họ Bạc tức thì sắm sanh.
Một nhà dọn dẹp linh đình,
Quét sân đặt trác123rửa bình thắp hương.
Trong nguyên lục, sau khi Kiều đã chấp nhận, Bạc Bà hỏi: ‘Như vậy côtính cần phải bao nhiêu tiền sinh lễ để cưới?’ Kiều nói: ‘Con không cầntiền. Có lẽ nên đòi độ 20 lạng vàng thôi. Con sẽ biếu bác 5 lạng,nhờ bác đem lên chùa Chiêu Ẩn cúng 5 lạng. Còn 10 lạng con nhờ bác đi muanhững vật dụng cần thiết để làm đám cưới và lo cho chuyến đi mấy ngàn câysố sắp tới.’ Rõ ràng Kiều không có lòng tham gì hết. Truyện Kiều củacụ Nguyễn Du không nói tới việc này.
Bạc Sinh quỳ xuống vội vàng,
Quá lời nguyện hết Thành hoàng Thổ công.
‘Nếu tôi mà có ăn ở hai lòng thì xin ông trời tru diệt tôi đi!’ Thề rấtđộc. Mấy người này không có tin Trời Đất và thần thánh. Họ thề để gạt Kiềuđi theo mà đem bán.
Trước sân lòng đã giải lòng,
Trong màn làm lễ tơ hồng hết duyên.
Thành thân mới rước xuống thuyền.
Thuận buồm một lá xuôi miền châu Thai.
Đi không biết bao nhiêu ngày mới đến Châu Thai, một vùng đất phía Nam, gầnbiển.
Thuyền vừa đổ bến thảnh thơi,
Bạc Sinh lên trước tìm nơi mọi ngày.
Cũng nhà hành viện xưa nay,
Cũng phường bán thịt cũng tay buôn người.
Xem người định giá vừa rồi,
Mối hàng một đã ra mười thì buông.
Theo nguyên lục, Bạc Hạnh bán Kiều được 240 lạng. Gấp 12 lần ‘tiền vốn’ bỏra (để cưới Kiều.) Khi đến bến, hai người dọn vào khách sạn. Kiều hỏi tạisao không về nhà mình mà lại dọn vào khách sạn. Dĩ nhiên anh chàng đâu cónhà ở đây, anh ta là kẻ đi buôn người mà! ‘Anh đi lâu quá, sáu bảy thángthành ra nhà có người thuê. Mình ở tạm khách sạnh vài ngày đợi người tadọn đi rồi về.’ Kiều hơi nghi. Bạc Hạnh nói là đi lo công việc, độ nửangày sau đưa về một người đàn ông tướng tá rất kỳ cục. Hai người vào tửuđiếm trong khách sạn gọi thịt cá, cơm canh uống rượu với nhau tới khuya.Giới thiệu với Kiều này kia kia nọ. Khi người khách về rồi Kiều hỏi: ‘Anhđưa người nào về hồi chiều vậy? Người gì mà trông dễ sợ thế? Giống như ăncướp!’ Bạc Hạnh nói: ‘Đâu phải! Người ở miền này làm nghề đánh cá. Dân quêtướng mạo họ như vậy đó chứ đâu phải là ăn cướp!’ Kỳ thực người kia lànhân viên của hành viện, đến để xem mặt Kiều. Mai lại, Bạc Hạnh nói: ‘Anhvề nhà trước sắp đặt rồi chờ em ở nhà. Một giờ sau sẽ có kiệu tới đón. Emkhông cần mang theo hành lý vì sẽ có người tới lấy sau.’ Bạc Hạnh đi. Kiệuđến đón: ‘Bà nên đi một mình thôi, hành lý sẽ khiêng tới sau.’ Kiều đãnghi là mình đang chui vào một cái bẫy nào đây rồi nên nhất định đem theotất cả vật sở hữu của mình và của anh chàng Bạc Hạnh (theo nguyên lục, trịgiá khoảng 240 lạng vàng.) Sau khi tới hành viện nhận 240 lạng vàng. BạcHạnh trở lại khách sạn gom hành lý thì không còn gì cả. Tác phẩm của cụNguyễn Du bỏ hết tất cả những chi tiết không quan trọng đó. Ở đây chúng tađề cập tới vì muốn biết cho tường tận gốc gác câu chuyện. Những dị biệtnho nhỏ này vẽ nên hai thần thái rất khác nhau của Đoạn Trường TânThanh và Phong Tình Lục.
Mượn người thuê kiệu rước nàng.
Bạc đem mặt bạc kiếm đường cho xa.
Đây là lời mắng của cụ Nguyễn Du: ‘Hèn gì mà nó tên Bạc! Bạc tình, bạcbẽo!’
Kiệu hoa đặt trước thềm hoa,
Bên trong thấy một mụ ra vội vàng.
Đưa nàng vào lạy gia đường,
Cũng thần mày trắng cũng phường lầu xanh.
Thoát trông nàng đã biết tình,
Chim lòng khôn lẽ cất mình bay cao.
Thấy là biết rồi! Biết là mình đã bước vào cái ổ nhền nhện rồi. làm sao màthoát ra được nữa!
Chém cha cái số hoa đào,
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi.
Hai chữ chém cha là một lời chửi. Chửi bằng thơ. Rất mạnh. CụNguyễn Du chửi, tại vì cái đau xót không thể diễn tả được nữa. Chém khôngphải là chém ai. Giận không phải là giận ai. Chỉ phẫn nộ, ginạ cho cái sốphận mình, cái số hoa đào.
Nghĩ đời mà ngán cho đời,
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen.
Than thở, uất ức cho số phận hẩm hiu. Cứ nghĩ rằng tất cả những gì xảy racho mình hoàn toàn do số mệnh, không biết rằng thái độ và nhận thức củamình đã đóng một vai trò rát quan trọng. Chính mình đưa mình vào chỗ nàymà mình không biết. Hoàn toàn đổ hết trách nhiệm cho hoàn cảnh mà khôngthấy được những hạt giống, những nguyên do tâm lý đã đóng góp đưa mình vàohoàn cảnh này.
‘Nghĩ đời mà ngán cho đời’ – chỉ trách cứ đời thôi!
‘Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!’
Lý thuyết của cụ Nguyễn Du là có tài có sắc thì phải đau khổ bởi vì ôngtrời ghen ghét. ‘Ông trời là cuộc đời, sự sống, thiên nhiên. Tài mệnhtương đố: tài năng và số mệnh ghanh ghét, đố kỵ nhau. Người mà có tài cósắc thì phải đau khổ nhiều. Muốn bình yên và an lạc thì phải làm như khôngcó tài, không có sắc. Đó là kết luận tất yếu của thuyết tài mệnh tương đố.
Tiếc thay nước đã đánh phèn,
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!
Hồng quân với khách hồng quần
Đã xoay đến thế còn vần chửa tha.
Hồng quân là ông mặt đỏ, tức là ông trời. Hồng quần là người đàn bà (ngàyxưa họ mặc quần đỏ.) Mở đầu truyện ông trời xanh ghen với má hồng: ‘Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.’ Ở đoạn này thì ông trời đỏlại ghen với ‘người mặc quần đỏ’ (người đàn bà đẹp.) ‘Hồng quânvới khách hồng quần. Đã xoay đến thế còn vần chửa tha,’ Hoàn toàn đổlỗi cho ông trời. Không thấy chính tâm lý và thái độ của mình cũng đóngmột vai trò quan trọng trong hoàn cảnh của mình.
Lỡ từ lạc bước bước ra,
Cái thân liệu những từ nhà liệu đi.
Từ khi bước chân ra khỏi gia đình đã tiên đoán là mình sẽ đau khổ như vậy.Chấm dứt thời thơ ấu, có cha mẹ chị em. Chấm dứt cái thời của thiên đườngtuổi thơ.
Đầu xanh có tội tình gì?
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.
Mình đâu đã làm điều gì thất đức mà bây giờ phải khổ như thế này?
Biết thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.
Biết không sao thoát ra khỏi cuộc đời khổ đau này, thôi thì phải chấpnhận. Phải bó tay thua trận. Biết thân chạy chẳng khỏi trời:’ Anhkhông làm gì được đâu! Anh hoàn toàn không có khả năng để thoát ra khỏihoàn cảnh đau khổ của anh. Sức mấy mà thoát được!’ Đó là nhận thức rấtnguy hiểm dẫn đến sự thua cuộc: ‘Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.’ Đành liều! Không cố gắng, không tranh đấu nữa. Hai câu này chứng tỏKiều đang hoàn toàn thất vọng, không có ý chí tranh đấu. ‘Thôi, cố gắnglàm chi! Tất cả những cố gắng của mình đều đã đưa đến chỗ thất bại cả. Bâygiờ thôi kệ! Liều!’ Rơi vào vũng bùn, không còn ý chí. Ta không thể chấpnhận thí độ này được. Dù đang ở trong đau khổ cùng cực ta cũng không nêncó thái độ đó. Thua keo này phải bày keo khác. Những người đau khổ quánhiều thường có khuynh hướng buông xuôi. Nhưng ‘sông có khúc, người cólúc.’ Trong đời người thế nào cũng có những giai đoạn khó khăn. Nếutrong giai đoạn khó khăn mà mình buông xuôi, thất vọng, đánh mất ý chí thìlàm sao mình đi tới được những giai đoạn quang đãng, hạnh phúc?
Chúng ta hãy để ý đến nghệ thuật pha màu của cụ Nguyễn Du trong đoạn thơnày: mặt phấn – ngày xanh, hồng quân – hồng quần, đầu xanh – má hồng. Chơichữ rất khéo.
Trong đời sống thanh lâu lần này Kiều gặp một người đàn ông khác. ThúcSinh yếu đuối thế nào thì người này cứng rắn chừng đó. Hai người đàn ôngnày là hai thái cực. Tính khí khác nhau một trời một vực. Nhưng vì Kiềuchưa có đủ tuệ giác và từ bi nên lần này cũng không giữ được hạnh phúc lâubền.
Lần thâu gió mát trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình124sang chơi.
Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.125
Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.126
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo.
Qua những câu thơ này của cụ Nguyễn Du diễn tả được khí phách hiên ngangcủa Từ Hải. Từ Hải (nghĩa là biển thương) là tên của nhà cách mạngTừ Minh Sơn, không chấp nhận được chế độ chính trị của nhà Minh nên đãđứng lên khởi nghĩa. Chỉ cần nghe âm điệu của câu thơ chúng ta cũng có thểbiết được ông là người như thế nào rồi!
Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Từ Hải đi qua vùng Châu Thai nghe nói có một người đàn bà tên là Thúy Kiềusắc đẹp, tài năng và phẩm cách phi thường. Tuy ở thanh lâu nàng vẫn cónhân cách của mình, không phải người đàn ông nào cũng có thể tới với nàngđược. Kiều có một nhận thức về đàn ông, ít người tới mà được Kiều cho làngười có nhân cách và phẩm giá. Từ Hải nghe vậy muốn đến làm quen cho biếtngười đàn bà này.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa.
Chỉ mới thấy nhau họ đã có cảm tình với nhau rồi.
Từ rằng: ‘Tâm phúc tương cờ,
‘Phải người trăng gió vật vờ hay sao!
‘Bấy lâu nghe tiếng má đào,
‘Mắt xanh chàng để ai vào có không?
‘Một đời được mấy anh hùng,
‘Bỏ chi cả chậu chim lồng mà chơi!’
Từ Hải hỏi: ‘Lấy bụng dạ, trái tim mà đến với nhau thì đâu phải là ngườitrăng gió vật vờ. Lâu nay tôi nghe tiếng cô. Đối với cô không có người đànông nào là đáng mặt phải không? Đời phần nhiều là hạng tầm thường, thìkhông đáng bỏ công chơi với họ! Phải không?’ Mắt xanh là con mắttinh đời, con mắt thấy được những người nào có giá trị và những người nàokhông có giá trị. Nguyễn Tịch dưới đời nhà Tấn mỗi khi tiếp khách gặp đượcngười tri kỷ thì mắt xanh lè, còn gặp những người tầm thường thì mắt ôngvẫn đục. Trong bài Hành Phương Nam của Nguyễn Bính có câu:
‘Ta đi - nhưng biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên khắp bốn trời!
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,
Uống say mà gọi: Thế nhân ơi!
Thế nhân mặt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà người cả tiếng cười.
Người ơi! Hề người ơi!
Người sang bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi.’
Nàng rằng: ‘Người dạy quá lời,
‘Thân này còn dám xem ai là thường.
‘Chút riêng chọn đá thử vàng,
‘Biết đâu mà gởi can tràng vào đâu?
‘Còn như vào trước ra sau,
‘Ai cho kén chọn vàng thau tại mình.’
Thân phận tôi là thân phận một cô gái điếm thì có giá trị gì mà dám khinhthường người khác! Duy có điều này là thật: tôi có nỗi niềm riêng mà chưatìm được một người tri kỷ nào để gửi gắm thông cảm. Còn khinh người, xemthường người thì: dạ không dám! Ai muốn đến thì bỏ tiền ra mà đến. Tôi đâucó quyền, đâu còn tự do gì nữa mà nói chuyện kén chọn.’
Kiều trả lời như vậy là rất thẳng, rất thật. đây là buổi nói chuyện đầutiên giữa hai người. Gặp nhau họ nói chuyện liền chứ không có những sinhhoạt gọi là sinh lý gì cả. Vừa gặp mặt, anh chàng đã hỏi rất thẳng câumình muốn hỏi chứ không một hai rào đón gì cả. Kiều cũng trả lời rất thật.
Từ rằng: ‘Lời nói hữu tình,
‘Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân.128
‘Lại đây xem lại cho gần,
‘Phỏng tin được một vài phần hay không?’
‘Lời nói của cô, có cái tình thật bên trong. Không khách sáo. Vừa mới gặpnhau mà tôi đã có cảm tưởng là mình đã được hiểu. Cô hãy đến gần lại mộtchút mà nhìn để xem thử tôi là người cô có thể tin cậy được hay không?’Đây là một con người rất đặc biệt.
Thưa rằng: ‘Lượng cả bao dung,
‘Tấn Dương được thấy mây rồng có phen,129
‘Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
‘Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.’
‘Nhìn đại nhân tôi biết đại nhân là người có tâm lượng và tương lai lớn.Mong sẽ nghĩ tình mà cho tôi nhờ cậy sau này.’
Nghe lời vừa ý gật đầu,
Cười rằng: ‘Tri kỷ trước sau mấy người!
Tri kỷ là người hiểu mình. Chỉ cần nhìn một cái, nghe một câu làhiểu. Tìm được một người tri kỷ thật khó khăn hy hữu. Người gặp được trikỷ là người rất may mắn, hạnh phúc.
‘Khen cho con mắt tinh đời,
‘Anh hùng đoán giữa trần ai mới già.
‘Một lời đã biết đến ta,
‘Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.130
Từ Hải khen Kiều trong đám bụi bặm, đầy những người vũ phu mà nhận diện rađược người anh hùng thì phải là người có con mắt rất tinh. Một lời nóithôi cũng đủ chứng tỏ là hiểu được mình. Khi tìm được người tri kỷ rồi thìcái gì cũng có thể chia sẻ với nhau được, không có gì thành vấn đề cả.
Hai bên ý hợp tâm đầu,
Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân.
Hai người trở thành bạn thân, không phải do sự cầu thân mà được. Khôngphải muốn thân mà được thân. Thân là do có sự hiểu nhau. Vì hiểu nhau màthành ra thân nhau.
Ngỏ lời nói với băng nhân,131
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Người đàn ông này tới thanh lâu chỉ vì tò mò, muốn nói chuyện với Kiều.Khi hai bên thông cảm, hiểu nhau rồi thì họ đặt vấn đề giải phóng Kiều rakhỏi tình trạng của cô ngay lập tức. Không cần phải trải qua giai đoạn đichơi, đi ngủ với nhau.
Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,
Đặt giường thất bảo vây màn bát tiên.132
Trai anh hùng gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng.
Hai người ra ở riêng. Trong nguyên lục Thúy Kiều hỏi tại sao Từ Hải khônglàm đám cưới, đưa Kiều về nhà như những người khác. Từ Hải đáp: ‘anhchưa có nhà nên chưa làm chuyện đó được. Bây giờ mình sống với nhău nhưvậy thôi. Anh muốn đám cưới của anh là đám cướI của một vị quốc vương điđón một hoàng hậu, có hàng chục ngàn quân lính tiền hô hậu ủng. Nhà anhphải là một dinh thự đàng hoàng chứ không phải là cái nhà bé nhỏ như vậy.’ Thúy Kiều thấy nơi người con trai này một tham vọng, một chí hướnglớn. Trong con người này có cả một vùng năng lượng. Kiều biết mình chẳngqua chỉ là một yếu tố làm nên sự sống của người đàn ông này thôi và Kiềuchấp nhận. Con người này không phải vì sống bên cạnh người đẹp mà quên hếtlý tưởng của mình. Con người này muốn người đẹp tham dự vào lý tưởng củamình. Đó là những dữ kiện trong nguyên lục không được nhắc tới trong tácphẩm của Nguyễn Du.
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoát đã động lòng bốn phương.
Trong nguyên lục, hai người ở với nhau năm tháng thì Từ Hải muốn đi. Ở đâylà nửa năm, cụ Nguyễn Du muốn cho Kiều có thêm một tháng hạnh phúc. Cụ cóthêm vào nhiều chi tiết rất dễ thương. Nàng Kiều của cụ Nguyễn Du dễthương và từ bi hơn nàng Kiều trong nguyên lục nhiều lắm bởi vì nàng Kiềucủa cụ có khá nhiều dân tộc tính. Tuy có những lỗi lầm nhưng cũng có nhữngcái đẹp có tính cách Việt Nam.
Khi sống với Thúy Kiều, năng lượng của người anh hùng vẫn còn nằm nguyêntrong lòng Từ Hải. Đây là một người đàn ông đặc biệt. Không muốn làm tiêuma ý chí trượng phu của người đàn ông, người đàn bà trong trường hợp nàycũng là một người đàn bà đặc biệt. Ở đây chúng ta có trường hợp rất lýtưởng.
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.
Nàng rằng: ‘Phận gái chữ tòng.
‘Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.’
Từ rằng: ‘Tâm phúc tương tri,
‘Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Từ Hải ra đi để xây dựng sự nghiệp. Thúy Kiều xin đi theo. Từ Hải nói: ‘Đãbiết tim, biết bụng của nhau rồi mà sao em vẫn chưa bỏ được thói quen củangười đàn bà? Anh là con người của cách mạng, chí hướng của người con trainơi anh bắt buộc anh phải đi. Em đi theo chỉ làm vướng bận. Phận sự của emlà ở nhà và đợi.’
‘Bao giờ mười vạn tinh binh,
‘Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.133
‘Làm cho rõ mặt phi thường,
‘Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.134
‘Bằng nay vốn bể không nhà,
‘Theo càng thêm bận biết là đi đâu?
‘Đành rằng chờ đó ít lâu,
‘Chầy chăng là một năm sau vội gì!’
- ‘Em đợi chừng một năm. Anh sẽ về với ít nhất là một vạn quân lính. Lúcđó chúng ta mới có nhà. Bây giờ em đi theo chỉ là vướng chân anh thôi. Emphải ở nhà, làm công việc của người đàn bà nghĩ là chờ đợi. ‘Con người nàycó đức tự tin, hoàn toàn trái ngược với anh chàng Thúc Sinh mít ướt, chỉbiết khóc thôi.
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió đưa bằng tiện đã lìa dặm khơi.
Cố nhiên, bổn phận của người đàn bà là phải nắm áo lại và bổn phận củangười đàn ông là phải dứt áo ra đi. Hai bên, mỗi người làm công việc củamình. tất cả những câu những chữ cụ Nguyễn Du dùng để tả Từ Hải đều tàitình, từ nhạc cho đến nghĩa đều toát lên phong thái dứt khoát, rõ ràng củamột võ tướng.
Đây là tâm trạng của Kiều sau khi Từ Hải ra đi. Trong thời gian sống vớiTừ Hải những tâm sự này không có dịp phát hiện:
Nàng từ chiếc bóng song mai,
Đêm thâu dằng dẳng nhặt cài then mây.
Sân rêu chẳng vẽ dấu giày,
Cỏ cao hơn thước liễu gầy vài phân.
Không đi thiền hành, không cắt cỏ làm vườn. Đóng cửa trong phòng, gặm nhắmsự thương nhớ.
Đoái thương muôn dặm tứ phần,
Lòng quê theo ngọn mây Tần xa xa.
Xót thay huyên cỗi xuân già
Tấm lòng thương nhớ chắc là có nguôi?
Chốc đà mười mấy năm trời,
Còn ra thì đã da mồi tóc sương.
Rất đúng truyền thống nhà Nho: nhớ quê hương và cha mẹ trước. Bây giờ mớinhớ tới người yêu là Kim Trọng:
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
Duyên em dù nối chỉ hồng,
May ra thì đã tay bồng tay mang.
Sau tình thì nghĩa phát sinh. Với Kim Trọng thì giờ đây Kiềuđâu còn cái tình bồng bột nữa, tình đã trở thành nghĩa.Tuy hai người chưađược sống với nhau nhưng sự thề bồi ngày xưa nay đã trở thành ân nghĩa.Trên căn bản này Kiều nhớ đến mối tình và bổn phận của mình với Kim Trọng.Hình ảnh ngó sen bị cắt đứt nhưng hai đoạn vẫn còn được nối với nhau bằngnhững sợi tơ sen đã được sử dụng một cách tài tình để nói về mối liên hệnày. Ngó ý tơ lòng. Ý là mạt-na (thức thứ bảy) và lòng là tàng thức(thức thứ tám.)
Tấc lòng cố quốc tha hương,
Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
Nghĩ chuyện này, nghĩ chuyện khác. Bao nhiêu suy nghĩ ngổn ngang tronglòng. Dù đã từng đi tu nhưng vì không được ai hướng dẫn cả nên tâm tư vâncòn hỗn độn. Không biết nắm lấy hơi thở để làm an tĩnh lại tâm hồn. Đườngkia nỗi nọ ngổn ngang bời bời. Trở thành nạn nhân của hoàn cảnh và của tâmmình. Tâm mình có những lo lắng, sợ hãi, khổ đau, nội kết của quá khứ, vậymà mình không biết cách tu, không biết cách điều phục. Ở Quan Âm Các tukhông thành công mà về Chiêu Ẩn Am tu cũng không thành công. Một phần làlỗi của sư chị không dạy sư em - hoặc có thể thời gian ở Chiêu Ẩn Am quángắn. Nếu gặp sư chị bây giờ, ta phải nói với sư chị là lần sau nếu gặp sưem thì phải dạy liền. Ngay ngày thứ nhất người ta tới chùa phải dạy chongười ta thở và điều phục tâm tư của mình. Đừng để người ta ở tháng nàytháng khác trong chùa mà không dạy người ta. Biết đâu thiền sinh tới đâychỉ ở được ba ngày hay một tuần với mình thôi. Đây là lời nhắn nhủ cho tấtcả chúng ta. người nào trong chúng ta cũng là sư chị hết. Nếu sư em vềnhà, về tiểu bang của mình mà ‘đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời’ thì đó là lỗi của sư chị. Sư em có thể là người ngoại quốc, người Việt,đàn ông, đàn bà hay em nhỏ. Tới chùa mình phải chỉ liền cho họ phương phápđiều phục hơi thở và làm an tĩnh tâm tư của họ. Khi mình làm giỏi thì mìnhcó thể dạy giỏi. Đó là bổn phận của mình. Sư chị Giác Duyên đã không thànhcông lần trước. Mình phải làm hay hơn sư chị.
Chúng ta đọc lại tâm trạng Kiều:
Trước hết là nhớ quê hương:
Đoái thương muôn dặm tứ phần,
Lòng quê theo ngọn mây Tần xa xa.
Tiếp đến là nhớ cha mẹ:
Xót thay huyên cỗi xuân già,
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi.
Chốc đà mười mấy năm trời,
Còn ra thì đã da mồi tóc sương.
Nhớ tới người yêu và em gái:
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
Duyên em dầu nối chỉ hồng
May ra thì đã tay bồng tay mang.
Không nhớ em trai vì theo nguyên tắc nó là con trai, nó có đủ sức để tựlo.
Tấc lòng cố quốc tha hương,
Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
Đó là tâm sự ngổn ngang, không có định, không có an lạc của Kiều. Cuốicùng, trở về với tình trạng hiện tại, Kiều chỉ thấy mình đang thiếu Từ Hảithôi:
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Hoàn toàn không có khả năng sống an lạc trong hiện tại thành ra đã tu haichùa rồi mà vẫn không thành công.
Vào khoảng đầu truyện, có một câu thơ nói lên sự khiếp đảm của một conngười không biết tương lai vận mệnh của mình ra sao (câu 218.) Đó là lúcKiều đi chơi Thanh Minh về mơ thấy Đạm Tiên cho biết mình có tên trong sổđoạn trường. Kiều thức giấc trong một tâm trạng lo sợ, hoàn toàn mù tịt vềtương lai.
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
Thức dậy một mình giữa đêm khuya, Kiều thấy mình rất cô đơn. Nghĩ đếntương lai cô không biết cái gì sẽ xảy ra cho mình. Hoảng sợ, lo lắng. Cuộcđời đoạn trường của Kiều bắt đầu từ chỗ đó. Kiều đã bước ra khỏi thời thơấu thiên đường, trở thành một cô gái lớn, nhưng không biết sẽ đi về đâu.Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh. Có thể Kiều cũng sẽ đi một mình như ĐạmTiên ngày xưa; biết bao người giàu sang thăm viếng, hâm mộ sắc đẹp vàtiếng hát của mình nhưng khi chết thì mình hoàn toàn trơ trọi. Khi Kiều bỏQuan Âm Các trốn đi cũng có câu: ‘Đêm khuya thân gái dặm trường’. Thức dậy nửa đêm với cảm giác cô đơn và sợ hãi.
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
Hoa trôi bèo giạt đã đành,
Biết duyên mình biết phận mình thế thôi!
Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi,
Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn.
Càng lo nghĩ chừng nào thì những đợt sóng của tâm hành càng nổi lên mạnhmẽ chừng đó. Càng suy nghĩ tới sự cô đơn của mình thì sự sợ hãi lại cànglớn lên. ‘Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi, Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn.’
Không phải người đàn bà trong trường hợp cô đơn mới cảm thấy sợ hãi. Ngườiđàn ông khi thấy một mình một bóng cô đơn, không ai hiểu mình cũng sợ hãi,không biết cái gì sẽ xảy ra trong đời mình. Đời một con người thế nào cũngcó những giai đoạn may và những giai đoạn rủi. Chuyện may rủi này có thểkhông phải là ngẫu nhiên. Chúng đều có những nguyên nhân gần hay xa. Lâmvào tình trạng khó khăn mà bên mình có được một người hiểu mình, thươngmình, yểm trợ cho mình thì đỡ lắm. Khi cô đơn, gặp tai nạn và khổ đau màmột thân một mình hoàn toàn cô đơn thì ta sẽ đau khổ tột độ. Nhưng nếu bêncạnh mình có vài người hay ít nhất là một người hiểu, thương nâng đỡ vàbảo vệ cho mình thì hay vì khổ một ngàn lần mình chỉ khổ chừng một trămlần thôi (hoặc có thể ít hơn.) Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta phảibiết đầu tư nơi bạn bè. Cũng như biết mùa đông sắp tới thì phải cưa củi đểdành cho những ngày quá lạnh. Không có củi đốt thì mình sẽ chết cóng.Chúng ta làm thế nào để có được một, hai, ba... người bạn. Những người bạnđó sẽ là những người đứng cạnh mình, nâng đỡ, bảo vệ mình trong những lúcmình đau khổ, yếu đuối nhất. Xây dựng tăng thân là một việc làm quantrọng. Tăng thân không hẳn chỉ là những người cùng thực tập theo đạo Bụt;bạn bè nuôi dưỡng, giúp đỡ nhau trong cuộc đời cũng là một hình thức tăngthân. Trong khi đọc ‘Con về nương tựa nơi Tăng’ chúng ta phải hiểuTăng bảo là một viên ngọc quý. Đừng coi Tăng bảo là những phần tử đang tutập với mình mà thôi. phải thấy ở trong đó có những người anh, người chị,người em đích thực của mình. khi mình lâm nạn thì chính những người đó đếnôm lấy mình nói: ‘Chị đừng sợ! Em đừng sợ! Có em đây. Có anh đây. Không cógì mà sợ.’ Mỗi ngày sống ta phải đầu tư nơi huynh đệ, nơi tăng thân củamình. Ta phải quán chiếu, thấy được những khó khăn, khổ đau của nhữngngười sống xung quanh và thực tập làm vơi đi những nỗi khổ đó. Khi bạnmình nở được một nụ cưòi thì chúng ta cũng đã đặt thêm được một viên gạchxây dựng tình bằng hữu. ‘Sáng cho người thêm niềm vui, Chìều giúp ngườibớt khổ.’ Đó cũng đồng thời là sự thực tập đầu tư cho tương lai, đểdành củi cho những ngày mưa. Tất cả những gì mình làm mình sẽ được hưởngtrong tương lai. Tất cả những gì mình làm mình sẽ được hưởng trong tươnglai. Hai phía đều dính líu tới nhau. Tình luôn luôn đi với nghĩa. Mộtngười thực tập thông minh thì trong đời sống hàng ngày luôn luôn đầu tưvào các bạn. Những lúc các bạn có vấn đề, yếu đuối, sa xuống thấp thì mìnhđứng gần, có mặt: ‘Có chị đây. Em đừng lo! Có em đây. Anh đừng lo!’ Vàmình chăm lo thật sự cho người đó chứ không phải chỉ lo vì bổn phận củamột người trong tăng thân. Làm được điều đó thì đi đâu mình cũng có cảmtưởng được nâng đỡ. Đó là lời Bụt dạy khi Ngài dạy về Tứ Vô Lượng Tâm: khithực tập tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỷ và tâm Xả đi đâu mình cũng thấy có sự chechở, bảo vệ và nâng đỡ. Một người thực tập ‘Sáng cho người thêm niềmvui, Chiều giúp người bớt khổ’ thì không có cảm tưởng cô đơn, lẻ loitrong cuộc đời. Đường dài nhưng mình đi một cách rất vững chãi an lạc.Đường càng dài thì càng được đi xa. Không sợ, không thấy ‘đường xa nghĩnỗi sau này mà kinh.’ Đường càng xa, càng đi càng thích. Dù có nhữngkhó khăn, trên đường của mình vẫn có chim, có bướm, có cây. Mình khôngsống một mình. Mình sống với các bạn.
Buổi sáng, sau khi ngồi thiền ta nên nhắc mình: hôm nay ta phải dâng chongười một niềm vui. Nếu buổi sáng đi qua mà ta không làm được cho mộtngười nào vui thì ta không thực tập được sự đầu tư đó. Buổi chiều, nguyệngiúp người bớt khổ, ta sẽ quán chiếu xem người huynh đệ nào đang cần sựsăn sóc của ta. Và buổi tối, ngồi thiền xong, ta quán chiếu lại để thấyngày hôm nay ta có làm công việc đầu tư ấy đàng hoàng không. Buổi sángchúng ta đã cho ai được niềm vui? Buổi chiều ta có giúp ai được bớt khổ?Đó là một thực tập rất quan trọng. Làm điều đó cũng chính là làm cho mình.Lân mẫn, lo lắng cho họ tức là lân mẫn lo lắng cho chính mình. Đời một conngười thế nào cũng có những lúc khó khăn, đen tối, bệnh tật, lo sầu. Nếuchỉ có một thân một mình, người ta sẽ không thể nào sống nổi. Người ta tựtử thường là vậy: hoàn cảnh khó quá, không thể nào vượt thoát. Nhưng nếucó được một người bạn, người anh hay người chị bên mình trong lúc đó thì ýtưởng tự tự sẽ bớt đi bảy mươi, tám mươi phần trăm. Tự tử không phải vìchán đời mà vì sợ. Sợ rằng mỗi ngày mình đều phải sống như vậy thì đau khổquá, chịu không nổi. Sống trong chánh niệm, thấy người xung quanh đi,đứng, nói, cười... mình cũng phải nhìn để thấy rằng họ cũng đang có nhữngnỗi khổ, niềm đau. Người nào cũng có vấn đề riêng của họ. Không phải chỉcó một mình mình mới có vấn đề thì mình trở nên khó chịu với những ngườixung quanh. Đôi khi thấy được những vấn đề của người xung quanh rồi mìnhlại thấy vấn đề của mình không quan trọng mấy và tự nhiên nỗi đau của mìnhnhẹ đi. Tới giúp người kia tự nhiên mình có niềm vui và vấn đề của mìnhcũng tan biến. Thực tập này rất quan trọng. Có những nỗi khổ đau lớn gấptrăm, ngàn lần nỗi khổ đau của mình mà mình không thấy. Mình chỉ nghĩ rằngnỗi khổ đau của mình là lớn nhất. Đó là một nguyên do khiến mình đau khổvà tự giam trói mình trong ngục tù chủ quan.