Thả một bè lau.
Giác Duyên nghe nói rụng rời:
‘Một đời nàng nhé thương ôi còn gì!’
Nhưng đạo cô không nói một đời. Chỉ nói kiếp sống từ khi Thúy Kiều sinh racho đến khi Kiều chạm vào đáy đau khổ (hitting the bottom) phải tự tử ởsống Tiền Đường thôi.
Sư rằng: ‘Song chẳng hề chi,
‘Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều.
‘Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,
‘Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm.
‘Lấy tình thâm trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.
Tuy bị ràng buộc trong vòng tình ái nhưng Kiều không phạm lỗi tà dâm. Đâylà nói tới đêm đầu tiên Thúy Kiều được gần Kim Trọng. Hai người rất mênhau nhưng Thúy Kiều nhất định không phạm giới thứ ba. Chính nhờ Thúy Kiềumà Kim Trọng không bị phạm giới tà dâm. ‘Giữ gìn cho tôi và giữ gìn choanh. Để cho ngày hôm nay còn tươi sáng và để ngày mai chúng ta vẫn sẽ còncó nhau.’ Đó là một câu trong bài hát Hộ Trì Sáu Căn. Trongsuốt mười năm lưu lạc, Thúy Kiều nhớ mãi hình ảnh đêm đó. Đó là một sựnâng đỡ rất lớn cho Thúy Kiều trong những lúc đau khổ. Nếu hai người phạmgiới thứ ba trong đêm hôm đó thì Thúy Kiều đã mất một hình ảnh rất đẹp,không thể đem theo trong suốt mười lăm năm để chống đỡ với những đau khổ.Hành động bán mình chuộc cha của Kiều cũng là một hành động chuyển nghiệprất tốt.
‘Hại một người cứu muôn người
‘Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng.
Hai câu này nói đến chuyện Từ Hải chết và cứu được muôn dân khỏi nạn đaobinh. Chỗ này gượng ép vì Kiều đâu có muốn hại Từ Hải!
‘Thửa công đức ấy ai bằng?
‘Túc khiên191 đã rửa lânglâng sạch rồi.
‘Khi nên trời cũng chiều người,
‘Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.
‘Giác Duyên nhớ đến nghĩa nhau,
‘Tiền Đường thả một bè lau rước người.
‘Trước sau cho vẹn một lời,
‘Duyên ta mà cũng phúc trời chi không!’
Đạo cô khuyên ni sư Giác Duyên làm một chiếc bè lau để đợi vớt Kiều ở sôngTiền Đường. Trong thời gian 1965-1966, đất nước Việt Nam đau khổ cùng cựcvì chiến tranh. Tôi có cho đăng một đoạn Kiều này trong tờ báo Giữ ThơmQuê Mẹ mà tôi đang chủ trương lúc đó, lấy tên là Thả Một Bè Lau. Thân phận Việt Nam chua xót, đau khổ giống hệt thân phận Thúy Kiều.Khi thì phải đi với Pháp, khi thì đi với Nhật, với Mỹ… như một cô gáigiang hồ. Đau khổ cùng cực! Từ tấm thân làm nô lệ đến tấm thân đi vàochiến tranh, không có gì khác nàng Kiều hết. ‘Thanh lâu hai lượt thanhy hai lần.’ Thanh y là bị làm đầy tớ, nô lệ cho nước ngoài. Thanhlâu là làm gái giang hồ. Mối tình với những chủ thuyết Đại Đông Á,Mác-Xít, Tư Bản… là mình buộc lấy mình. Tự nhiên, khi không mà tự buộcmình trong những chủ thuyết như vậy để khổ. Vương vấn vào những mối tìnhnhư vậy thì chỉ làm lớn thêm khổ nhau. Chiến tranh là do đâu? Do chỗ mìnhquấn mình vào những hoàn cảnh đó, đi đôi với những thế lực ngoại quốc đó.Mời quý vị đọc lại mà xem:
‘Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,
‘Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.
‘Lại mang lấy một chữ tình,
‘Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
‘Vậy nên những chốn thong dong,
‘Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.
‘Ma đưa lối quỷ dẫn đàng,
‘Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.
‘Hết nạn ấy đến nạn kia,
‘Thanh lâu một lượt thanh y hai lần,
‘Trong vòng lễ giáo dựng gươm trần,
‘Kề răng hùm sói gửi thân tôi đòi.
‘Giữa dòng nước đẩy sóng dồi,
‘Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh.
‘Oan kia theo mãi với tình,
‘Một mình mình biết một mình mình hay.
‘Làm cho sống đọa thác đày,
‘Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!’
Đó không phải là số phận của riêng nàng Kiều. Đó là số phận của nước ViệtNam! Con đường thoát là con đường nào? Là phải tu. Không tu thì khôngthoát ra được. Phải nghe lời Tam Hợp đạo cô thả một bè lau. Cái bè lau cứuđược số mạng nước Việt Nam là sự tu học. Nếu không tu thì không thể đưađất nước ra khỏi tình trạng của Thúy Kiều. Hồi đó tôi đã thấy được rất rõrằng chỉ có sự tu học theo con đường của chánh pháp mới có thể cứu đượcđất nước ra khỏi con đường khổ đau. Và tôi đã đăng đoạn thơ này lên báo Giữ Thơm Quê Mẹ với tên là Thả Một Bè Lau. Tất cả công việcchúng tôi làm trong thời gian đó là kêu gọi mọi người thương nhau, chấpnhận lẫn nhau, đi theo con đường của từ bi, xóa bỏ hận thù. Nhưng tiếngsúng đã át tiếng thuyết pháp. Biết bao nhiêu người đi trên con đường củatừ bi xóa bỏ hận thù đã bị giam cầm, tra tấn và áp bức.
Nếu quý vị thấy được tình trạng của đất nước và dân tộc và thấy được rằngchỉ có con đường tu học, từ bi hóa giải hận thù mới đưa đất nước ra khỏigiai đoạn đau khổ hiện tại thì quý vị biết mình phải làm gì và không nênlàm gì. Công việc của chúng ta là thả một bè lau, đưa thuyền Từ của đạoBụt ra để tế độ đất nước. Phải tu mới được. Không có con đường nào khác.Tu với bản thân mình, thành lập tăng thân. Đem đọa lý Từ Bi như một chiếcbè để cứu Việt Nam ra khỏi giai đoạn đen tối mấy chục năm. Đó là con đườngthoát. Con đường thoát đó đã được chỉ rõ trong lời phán quyết của đạo côTam Hợp. Không cần tìm đâu xa, ngay trong truyện Kiều ta đã có thể thấyđược con đường giải t hoát của đất nước.
GIÓ TRĂNG MẮT MẶT MUỐI DƯACHAY LÒNG
Giác Duyên nghe nói mừng lòng,
Lân la tìm thú192 bên sôngTiền Đường.
Đánh tranh chụm nóc thảo đường,
Một gian nước biết mây vàng chia đôi.
Sư chị thương sư em lắm cho nên đã tìm tới bên sông Tiền Đường lợp một amtranh và ở lại đó để chờ Thúy Kiều. Có ai thương sư em bằng sư chị đâu!Chỗ sư chị ở, tuy nhỏ nhưng rất đẹp: Một gian nước biếc mây vàng chiađôi.
Thuê năm ngư phủ hai người,
Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông.
Biết Thúy Kiều sẽ tự tử ở đây nên sư chị thuê hai người ngư dân giăng lướichực sẵn. Tiền đâu mà thuê? Có lẽ vàng ngày xưa Thúy Kiều đã cho sư chị.Hai người ngư dân trọn năm không đánh cá nữa, chỉ ‘đánh người’ thôi. Thấy cá thì phải theo lời sư chị bỏ ra ngoài.
Một lòng chẳng quản mấy công,
Khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần!
Chuyện gặp lại sư em giống như có sự chuyển vận luân hồi, đã định trước.
Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
Ngư ông kéo lưới vớt người,
Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa.
Trên mui lớt mướt áo là,
Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương.
Giác Duyên nhìn thật mặt nàng,
Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai.
Chưa chết hẳn, chỉ mới uống nước hơi nhiều thôi.
Mơ màng phách quế hồn mai,
Đạm Tiên thoát đã thấy người ngày xưa.
Rằng: ‘Tôi đã có lòng chờ,
‘Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
Cô này kể công quá! Đã nói mười lăm năm sau mới gặp mà tại sao phải chờtới mười lăm năm ở đây? Đi chơi trong thời gian ấy phải hay hơn không! Cáicô Đạm Tiên này cũng không có tự do và thảnh thơi gì hết!
‘Chị sao phận mỏng phúc dày,
‘Kiếp xưa đã vận lòng này dễ ai!
‘Tâm thành đã thấu đến trời,
‘Bán mình là hiếu cứu người là nhân.
‘Một niềm vì nước vì dân,
‘Âm công cất một đồng cân đã già.
Cán cân đã già về phía hạnh phúc, non về phía đau khổ. Lấy bớt bên phíakhổ đau thì phía hạnh phúc chĩu xuống.
‘Đoạn trường số rút tên ra,
‘Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau.
- ‘Tên chị đã được rút ra khỏi sổ đoạn trường, vì đức chị đã nhiều, nợ đãtrả hết. Mười bài thơ ngày xưa chị đóng góp vào tập thơ của hội ĐoạnTrường em trả lại cho chị vì chị không còn là một hội viên của Hội nữa.’Hai câu thơ này vẫn còn vướng văn phạm Trung Hoa: Đoạn trường thơ. Phải nói là Sổ Đoạn trường và Thơ Đoạn trường thì mới là đúng với văn phạmViệt. tuy nhiên nếu ta đọc hai câu thơ này theo kiểu đọc hai câu ‘giócây trút lá trăng ngàn ngậm sương’ thì cũng thấy hay.
‘Còn nhiều hưởng thụ về sau,
‘Duyên xưa tròn trặn phúc sau dồi dào!’
- ‘Từ đây về sau duyên phước của chị sẽ đầy đủ.’
Nàng còn ngơ ngẩn biết sao,
Trạc Tuyền! nghe tiếng gọi vào bên tai.
Giác Duyên gọi: ‘Trạc Tuyền! Trạc Tuyền!’ Sư chị nhất định kêu nóbằng ‘em’, quyết bắt nó về tu trở lại, không cho đi hoang nữa cho nênquyết gọi nó là ‘Trạc Tuyền’ chứ không xưng là ‘phu nhân’ nữa.
Giật mình thoát tỉnh giấc mai,
Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn.
Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên,
Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
Sướng quá! Chết mà không chết. Thức dậy thì thấy có sự chị ngồi một bên.Đây là giây phút hạnh phúc nhất của Thúy Kiều. Có ai đang ngồi trong thấtniệm mà tự nhiên nắm lấy hơi thở: ‘thở vào - tỉnh lặng’, thở ra - mỉmcười’, rồi nhìn lại thấy sư chị mình đang ngồi một cách thân ái bên mìnhkhông? Ngưòi đó là người có hạnh phúc. Phép lạ này các sư cô và sư chú cóthể thực hiện được bất cứ giờ phút nào. Đừng sống với một con ma, hãy trởvề với hơi thở mầu nhiệm. Hãy tỉnh dậy để thấy rằng bên mình đang có mộtsư chị rất ngọt ngào và vẫn thương mình sâu sắc như ngày nào. Vì lâu naymình đang chạy theo một con ma nên không biết rằng sư chị luôn luôn có mặtđó. Sư chị là ai? Đó là câu hỏi. Đừng nói sư chị không có mặt đó; nói nhưvậy là oan lắm! Sư chị Giác Duyên luôn luôn có mặt. ‘Thập phương NhưLai lân niệm chúng sanh như mẫu ức tử.’ Sư chị luôn nghĩ đến mìnhnhưng mình lại đi trốn sư chị, không tìm về với sư chị đó thôi. Hàng ngàysống với một con ma, thì sư chị có cũng như không. Phải tỉnh dậy mới gặpsư chị được! ‘Giật mình thoát tỉnh giấc mai’ Luôn luôn hạnh phúcbắt đầu từ chỗ tỉnh thức.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng.
Rất hay! Hai chị em được đoàn tụ. ‘Một nhà chung chạ sớm trưa.’ Buổi sớm có nhau, buổi trưa có nhau. Ở chung một nhà, thấy được sự quý giácủa nhau chứ không phải đi ra đi vô gặp không nhìn, mà lại nhìn đi chỗkhác. ‘Một nhà chung chạ sớm trưa’ là hạnh phúc lắm. Mình sống với các sưchị và các sư anh của mình và có đủ hạnh phúc để cho nhau. Mình đâu có cầnnhiều điều kiện vật chất để có hạnh phúc đâu! ‘Gió trăng mát mặt muốidưa chay lòng.’ Đủ những thức ăn cho thân thể và tinh thần. Giótrăng mát mặt là hạnh phúc khi mình được tiếp xúc với những mầu nhiệmcủa thiên nhiên. Khi bị giam hãm trong khổ đau thì gió có mát mình cũngkhông thấy mát, trăng có trong mình cũng không thấy trong. Khi được thảnhthơi rồi thì mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống xung quanhvà trong bản thân mình. Muối dưa chay lòng là chấp nhận nếp sốngđơn giản của nhà chùa. Chay lòng nghĩa là lòng không còn nhuộmnhững màu sắc ngoài đời nữa. Không đi kiếm những cái mà ngoài đời người tacho là thiết yếu cho hạnh phúc. Mình đã biết giá trị của những cái đó quárồi! Mình không đi tìm những chỗ ăn ngon, mặc đẹp, vinh hoa phú quý, bằngcấp này, địa vị kia nữa. Từ bỏ được rồi mình mới có thể sống một đời sốngthanh bạch. Muối dưa, nhưng rất hạnh phúc. Một bài thơ tôi làm tại PhươngVân Am có câu: ‘Muối dưa đắp đổi hôm nào cũng vui.’ Có thanh tịnh,có an lạc thì mình mới thấy những mầu nhiệm xung quanh mình:
Trăng sao vẫn đẹp đêm rằm
Bãi dương vẫn mướt sóng tùng vẫn xao
Lòng quê lòng vẫn khát khao
Hoa mai cứ nở đồi cao gọi mời
Tháng tư lá lục hoa cười
Cho trăng thêm tuổi, cho đồi thêm xuân
Vườn xanh cây mướp trổ bông
Trẻ thơ đùa giỡn trước sân nắng đào
Chợ văn bán sách lầu cao
Muối dưa đắp đổi hôm nào cũng vui.
Hồi đó thầy trò bán sách (theo đường dây thép) để có tiền mua muối muadưa: ‘Chợ văn bán sách lầu cao, Muối dưa đắp đổi hôm nào cũng vui.’ Cái vui của người xuất gia khác với cái vui ở ngoài thế tục.
Hạnh phúc luôn luôn đơn giản. Hạnh phúc không bao giờ quá rắc rối. Ta cóhạnh phúc không? Sư em, sư chị có hạnh phúc không? Đó là câu hỏi: Nhữngđiều kiện của hạnh phúc đã có đủ; chỉ có vấn đề là ta có khả năng sử dụngnhững điều kiện hạnh phúc đó để sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiệntại hay không mà thôi. Ví dụ; gió trăng mát mặt. Hồi hôm trăng đẹp lắm,không biết quý vị có thấy không? Trăng đẹp, nhưng nếu tâm ta vẫn còn đivới một con ma thì trăng có đó cũng như không. Gió mát, nhưng tâm ta khôngở đó t hì gió có coi như là không có. Muối dưa đáng lý làm cho tâm hồnchúng ta ngày càng an tịnh thì chúng ta có thể nói: ‘Tại sao sống cực khổnhư vậy? Tại sao mà đọa đày tấm thân ở cái chốn khỉ ho cò gáy này?’ Tất cảđều do tâm mà ra hết. ‘Sư rằng: ‘Phúc họa đạo trời, Cỗi nguồn cũng ởlòng người mà ra.’ Đọc truyện Kiều, chúng ta có thể không đọc như mộttiểu thuyết mà đọc như đọc Kinh. Chất liệu của tuệ giác được chứa đựngtrong này rất nhiều, được biểu hiện bằng những hình ảnh thi ca rất đẹp.
Trong truyền thống đạo Bụt, muốn có hạnh phúc thì phải sống đơn giản. Thếgiới hôm nay lâm vào tình trạng khổ đau và bế tắc là vì người ta khôngthấy được hạnh phúc trong nếp sống đơn giản. Nhiều bậc giác ngộ nói rằngnẻo thoát cho thế giới ngày hôm nay là một nếp sống đơn giản (a simplelife style.) Nền văn minh hiện đại của chúng ta đã đi vào ngõ bí. Nếuchúng ta cứ tiếp tục đi theo hướng này thì chúng ta sẽ chết, nền văn minhnày sẽ bị tiêu diệt. Chỉ có một nẻo thoát thôi, là tìm về một nếp sống đơngiản mà hạnh phúc. Bây giờ ai cũng nghĩ rằng phải có xe hơi, tủ lạnh,trương mục, một số lương tối thiểu nào đó, một bằng cấp và phải được côngnhận thì mới có hạnh phúc. Nếu chưa có những điều kiện đó thì mình vẫn cócảm tưởng như mình bất lực, không phải là con người. Vì vậy ai nấy đều đưađầu vào guồng máy. Chỉ những người rất khương kiện mới nói rằng hạnh phúccủa tôi không phải là đi về hướng đó, hạnh phúc của tôi là đi về hướngkhác. Chúng ta tìm về một nếp sống đơn giản, có tự do và hạnh phúc. Muốidưa chay lòng có nghĩa là đã buông bỏ những đua chen trong cuộc đời, chấpnhận rằng chỉ có nếp sống đơn giản mới đem lại hạnh phúc thật sự mà thôi.Những người ở thành phố phải trả thuế rất nặng về nhà cửa và chức nghiệp(nhất là giới bác sĩ, kỹ sư, thương gia.) Nhiều người tự tử vì thuế. Thuếnặng quá, người ta phải chạy, không có thì giờ để thở, để tiếp xúc với ánhtrăng, với cơn gió thoảng. Muối dưa chay lòng là một điều kiện quan trọngđể ta có được cái hạnh phúc của gió trăng mát mặt. Tám chữ này có thể lànẻo thoát cho nền văn minh hiện đại. Ta có thể viết tám chữ này treo trongthiền đường. Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng. Thật đơn giản,giải pháp của đạo Bụt đối với nền văn minh mới!
Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau.
Đây là tả cảnh chỗ hai sư cô ở nhưng cũng đồng thời nói được tâm trạng thưthái, tự do của hai chị em. ‘Bốn bề bát ngát mênh mông’ nghĩa là họcó tự do. Chúng ta nhớ bài thiền tập:
Là hoa tươi mát
Là núi vững vàng
Nước tĩnh lặng chiếu
Không gian thênh thang.
Khi sống có tự do và buông thả thì tự nhiên ta có ‘không gian thênhthang.’ Quan trọng nhất là khi có ‘triều dâng hôm sớm’ mà ngheđược tiếng triều dâng. Mây lồng trước sau: cảnh là một cái khung,mây được lồng vào cảnh đó. Mây mong manh, đủ màu, đủ hình thái, rất đẹp.Tôi còn nhớ một lần ở Ba Lan, trước khi đi giảng tôi có tới thăm một họasĩ. Họa sĩ không vẽ gì hết, chỉ vẽ mây thôi. Hỏi tại sao, ông nói: ‘Thưa Thầy, tại vì chỉ có mây là đáng vẽ thôi!’ Nếu ông vẽ mây mà cóchánh niệm thì nhìn vào mây ông có thể thấy tất cả mọi cái khác đều cótrong mây. Lúc đó ông sẽ không còn kỳ thị giữa mây và không mây nữa. ‘Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau’ cũng là những mầu nhiệm của vũtrụ, nếu không thanh thản thì ta cũng không tiếp xúc được. Trong đời sống ‘một nhà chung chạ sớm trưa’ ta phải giúp nhau để cho những ngườikia (sư chị, sư anh hay sư em của mình) tiếp xúc được với những mầu nhiệmcủa sự sống đang có mặt hôm nay. Mùa xuân, cây cối xanh tươi. Cứ mỗi vàingày lại có một loại hoa mới xuất hiện. Có những đám mây rất đẹp, nhữngcơn gió rất mát. Những cái đó ta làm sao tiếp xúc được khi ta bị giam giữtrong sự tiếc thương quá khứ, lo lắng bất định trong tương lai, khi taquên đi giờ phút hiện tại. Là những người thương nhau, ta phải giúp nhaura khỏi tâm trạng lo lắng, tiếc nuối, buồn phiền để có thể tiếp xúc đượcvới những mầu nhiệm của sự sống trong giờ phút hiện tại. Sự thực tập củachúng ta là sự thực tập tiếp xúc. Nếu không tiếp xúc được với những mầunhiệm của hiện tại thì ta thực tập không được thành công. Thực tập tiếpxúc được với những mầu nhiệm trong hiện tại thì thời gian chúng ta ở lạiđây là thời gian hạnh phúc nhất trong đời và sau đó ta có thể tiếp tụcsống hạnh phúc ở bất cứ nơi nào.
Đọc đoạn này, chúng ta thấy sư chị rất dễ thương và rất thương sư em. Cóthể sư chị có nhiều nhiệm vụ ở những nơi khác nhưng cứu được sư em rồi thìhai chị em ở lại đó. Chúng ta hãy nhìn lại xem thử chúng ta đã được nhưThúy Kiều và Giác Duyên lúc này hay chưa. Ta có thấy rằng được sống với sưchị, sư em mình trong khung cảnh có trăng, có gió, có mây, có trời là hạnhphúc hay không?
Trong bản in của cụ Trần Trọng Kim thì đến đây thơ được chấm câu và ngắtsang đoạn khác nhưng tôi thấy không nên, phải đọc tiếp:
Nạn xưa trút sạch làu làu,
Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.
Tất cả những tai nạn vướng vào thân phận Thúy Kiều, làm cho Thúy Kiều ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, đều được trút sạch hoàn toàn. ‘Nạnxưa trút sạch làu làu.’ Sáu chữ này nói về sự chuyển hóa hoàn toàn củaThúy Kiều. Từ khi Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường, cái nghiệp quá khứcủa Kiều đã chấm dứt. Mỗi người chúng ta đều cso sông Tiền Đường, chúng tasẽ chấm dứt được tất cả những khổ đau và tai nạn của mình. Chúng ta đượcsinh ra lại trong một đời sống mới. Sông Tiền Đường đó có thể là XómThượng hay Xóm Hạ, New York City, Amsterdam hay Mineaplis…, bất cứ ở đâumà ta thấy rằng ta có thể chết được trong đời sống khổ đau vương vấn vàtái sinh lại trong đời sống thanh thản, nhẹ nhàng. Mỗi người trong chúngta đều có một sông Tiền Đường. Vấn đề là chúng ta đã tới được sông TiềnĐường đó hay chưa. ‘Nạn xưa trút sạch làu làu.’ Không có câu thơnào đẹp bằng! Đó là sự giải thoát hoàn toàn. Đó là sự buông bỏ tất cảnhững tai nạn, nghiệp chướng; nhờ mình chết được. Trong Thiền chúng ta códanh từ ‘chết đi sống lại’ (tuyệt hậu tái tô.) Nếu không chết đisống lại thì chúng ta không sinh ra được trong cõi Tịnh Độ; Tịnh Độ ngaytrong giờ phút này.
Cô nàng đã được giải thoát. Còn anh chàng thì sao? Đó là điều chúng ta sẽxét lại trong đoạn sắp tới. Bây giờ chúng ta hãy đọc chung lại đoạn này:
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng.
Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau.
Nạn xưa trút sạch làu làu,
Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.
Thời gian này (không biết rõ là được bao nhiêu tháng) là thời gian rấthạnh phúc của hai chị em. Cả chị và em đều lớn lên một cách rất mau. Tuyhai người rất thương yêu nhau, lưu luyến nhau nhưng chị bây giờ đã biếtdạy cho em và em đang quyết tâm thực tập đàng hoàng theo chị. Thúy Kiềusau đó chứng tỏ đã lớn lên vững mạnh và chuyển hóa lớn lao. Điều đó khôngđược nói tới trong sáu câu thơ này. Nếu viết lại truyện Kiều thì chỗ nàychúng ta phải viết về chuyện thực tập của hai bên. Ngày xưa khi ở Am ChiêuẨn sư chị không dạy cho sư em đàng hoàng. Khi lâm vào tình trạng bối rốikhổ đau thì sư em không biết cách giữ thân, giữ tâm. Kỳ này thì khác. Đứngvề phương diện tu tập và kinh nghiệm thì Thúy Kiều, tức ni cô Trạc Tuyền,bây giờ đã bước những bước rất dài. Kinh nghiệm khổ đau rất nhiều và kinhnghiệm tu tập trong giờ phút chót đã có đầy đủ. So với người con trai thìThúy Kiều đã bước những bước của người khổng lồ. Kim Trọng vẫn còn lẽo đẽođi trên con đường lận đận. Trên đường tâm linh, Kim Trọng còn đi lọt phíasau một quãng khá dài. Điều này chúng ta thấy rất rõ mỗi khi ở Làng Maimột, hai, ba năm về gặp lại những người bạn cũ. Những người ngày xưa cùngđi một đường với ta tại sao bây giờ vẫn chưa gỡ được những sợi dây mà mìnhthấy rất dễ gỡ! Đây là tâm trạng Thúy Kiều trong những câu thơ sau. ThúyKiều đã làm rất hay và làm một cách rất nhẹ nhàng, vô tướng để giúp ngườicon trai mình ngày xưa (người cũ, cố nhân.) Những người mình đã có cảmtình ngày xưa, mình có bổn phận phải độ họ thôi, mình phải độ cả nhữngngười khác. Nhưng họ là những người năằ trong diện ưu tiên. Giống như nămngười bạn tu của Tất Đạt Đa. Cùng tu chung với nhau, say này thấy Tất ĐạtĐa uống sữa, ăn cháo, ăn yoyurt… họ nghĩ ông này tụ hành không ra gì hếtvà bỏ đi. Nhưng tình đồng đạo còn đó nên khi thành đạo rồi Bụt nghĩ đếnnăm người và tìm tới vườn Nai độ họ. Chúng ta cũng vậy. Đạt tới sự nhẹnhàng rồi chúng ta phải đi tìm cha, tìm mẹ, tìm anh chị em, tìm người cũcủa mình để giúp họ. Đó là chuyện rất thông thường. Rồi quý vị sẽ thấyđiều này là một điều rất dĩ nhiên.
----o0o---