Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
03:47, Saturday.July 04 2026
Những đặc trưng hình ảnh con người Đại Việt thời đại Lý-Trần
 
Thời đại Lý-Trần là một nét son sáng chói của lịch sử Việt Nam. Tại sao thế ? Vì thời đại đó đã hiện hữu những con người đặc trưng nhất, đẹp nhất, hào hùng nhất trong lịch sử nước nhà. Đó là Vua Lý Thái Tông - tổ thứ bảy của dòng thiền Vô Ngôn Thông, vua Lý Thánh Tông - tổ thứ hai của phái thiền Thảo Đường, vua Trần Thái Tông - Thiền sư và nhà Phật học lớn, vua Trần Nhân Tông - tổ sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử …
DẪN NHẬP :
 
1- Tính cấp thiết đề tài và mục đích nghiên cứu :
         Thời đại Lý-Trần là một nét son sáng chói của lịch sử Việt Nam. Tại sao thế ? Vì thời đại đó đã hiện hữu những con người đặc trưng nhất, đẹp nhất, hào hùng nhất trong lịch sử nước nhà. Đó là Vua Lý Thái Tông - tổ thứ bảy của dòng thiền Vô Ngôn Thông, vua Lý Thánh Tông - tổ thứ hai của phái thiền Thảo Đường, vua Trần Thái Tông - Thiền sư và nhà Phật học lớn, vua Trần Nhân Tông - tổ sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử … Họ mang vẻ đẹp tinh khiết của một đóa sen trong bùn, sống trong sắc tài, nhung lụa, quyền lực những vẫn không đắm nhiểm, vượt lên tánh thức thường tình của con người, điều phục thân tâm, thể nhập phật tánh thường hữu. Tất cả những con người siêu việt ấy dù là Thiền sư hay một ông vua cai trị đất nước  thì họ vẫn là một con người siêu thoát, ung dung tự tại giữa cuộc đời. Họ đem ánh sáng đạo Phật hòa vào cuộc đời, khiến đời thêm tươi sáng, họ thể hiện tinh thần nhập thế, tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên cao nhất. Chính những yếu tố này tạo nên nét đặc trưng con người Đại Việt trong thời đại Lý-Trần, và chính những con người Đại Việt khổng lồ này đã viết nên trang sử vẻ vang dân tộc.
         Khi chiêm ngưỡng những con người vĩ đại ấy, người viết suy nghĩ : nếu trong xã hội này, con người biết vươn đến một lối sống tỉnh giác, biết nhận ra  giá trị đích thực của cuộc đời cũng như giá trị chân thực của đời người thì mỗi tự thân con người hãy tìm cho mình một con đường đi có ý nghĩa nhất. Con đường ấy không gì hơn con đường mà các vị Thiền sư cũng như các vị vua tiêu biểu đời Lý - Trần đã đi và đã thực hiện. Và nếu như con người trong xã hội ngày nay và ngày mai làm làm được điều đó, chắc chắn chắn rằng lịch sử Việt Nam sẽ tiếp tục viết lên trang sử hào hùng dân tộc. Cho nên người viết suy nghĩ việc tìm hiểu những nét đặc trưng của con người Đại Việt thời Lý-Trần là một điều vô cùng cần thiết, vì qua việc tìm hiểu này mà chúng ta lấy đó làm tấm gương soi rọi cuộc đời mình, chúng ta cũng sẽ ảnh hưởng chí khí hào hùng, phong cách thoát tục, đạo đời không hai của con người Đại Việt thời Lý-Trần. Từ vì suy nghĩ này mà người viết chọn đề tài : “Những đặc trưng hình ảnh con người Đại Việt thời đại Lý-Trần”
2 – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
         Để làm sáng tỏ đề tài, người viết bám sát hai vấn đề trọng tâm của đề tài là : con người Thời đại Lý-Trần một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ để vươn đến giải thoát hoàn toàn; một mặt làm lợi ích cho chúng sanh bằng cách phục vụ đất nước, dân tộc. Trong quá trình triển khai, người viết sử dụng ba tác phẩm Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông, Cư Trần Lạc Đạo của Trần Nhân Tông, Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ để làm sáng tỏ các vấn đề trên. Bên cạnh đó trong quá trình nghiên cứu, người viết dựa vào nguồn tư liệu Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải của HT. Thích Thanh Từ, Văn Học Phật Giáo Thời Lý Trần Diện Mạo Và Đặc Điểm của Nguyễn Công Lý, Khóa Hư Lục của HT. Thích Thanh Kiểm ...
3 – Phương pháp nghiên cứu :
        Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết vì muốn cho mọi người nhìn thấy được tâm hồn, khí phách, việc làm đặc trưng của con người Đại Việt trong thời đại Lý-Trần đẹp như thế nào, kiệt xuất như thế nào, giải thoát tự tại như thế nào mà người viết sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, thống kê.
 
NỘI DUNG :
 
I.                   BỐI CẢNH LICH SỬ VÀ VĂN HỌC PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN :
1-                 Bối cảnh lịch sử thời Lý-Trần :
         Sau khi nước ta được giải phóng khỏi ách thống trị ngoại xâm, giai cấp phong kiến nhanh chóng tiến hành xây dựng nhà nước Đại Việt. Buổi đầu dựng nước của một quốc gia non trẻ sau nhiều năm bị ách đô hộ ngoại xâm đè nặng, tất cả chỉ với vốn liếng tinh thần quý báu là tư tưởng yêu nước, tinh thần dân tộc không bao giờ mất. Với tinh thần quý báu đó, dân tộc Đại Việt đã phục khởi mạnh mẽ, hồi sinh những tiềm năng, làm thay đổi bộ mặt của đất nước. Tốc độ phát triển thể hiện rõ qua các lĩnh vực kinh tế, nông, công, thương nghiệp, hành chính quân sự. Đặc biệt về vấn đề tôn giáo. Tuy tầng lớp lãnh đạo rất sùng thượng đạo Phật, nhưng họ không hề bài xích các tôn giáo khác. Nhìn chung tất cả đã thể hiện sự quan tâm đúng mức và những chính sách phù hợp của bộ máy nhà nước đương thời. Vì thế, sau ngày giành độc lập chưa đầy 100 năm, dân tộc ta đã thắng quân Tống, ba lần đẩy lui bước tiến của quân xâm lược Nguyên Mông-một đế quốc hùng mạnh từng gom thâu trọn Châu Á và một nữa Châu Âu.
        Nhân tố tạo nên những kỳ tích trong thời đại này là con người. Quan trọng hơn cả, cái được xem là tinh thần thời đại, chính là hình ảnh con người tự tin, hào hùng, phóng khoáng mà đời sau khó gặp lại. Ngay giữa lòng xã hội phong kiến, những mẫu người tuyệt vời mà muôn đời sau thế nhân vẫn ngưỡng mộ, họ đã hình thành và phát huy tối đa năng lực bản thân để cống hiến và xây dựng bảo vệ non sông đất nước.
        Những người tiêu biểu của thời đại Lý-Trần, những người thuộc tầng lớp lãnh đạo, là những người có những chi phối nhất định trên mọi lĩnh vực của đời sống, sinh hoạt, tư tưởng của nhân dân. Thấm đẩm tư tưởng Phật giáo, không xa lìa cội nguồn, không đánh mất bản sắc, chính họ đã thể hiện một tinh thần cởi mở, bình đẳng, vị tha đúng theo tinh thần cởi mở của Phật giáo. Vua Lý Thái Tông- tổ thứ bảy của dòng thiền Vô Ngôn Thông, vua Lý Thánh Tông-tổ thứ hai của phái thiền Thảo Đường, vua Trần Thái Tông-thiền sư và nhà Phật học lớn, vua Trần Nhân Tông-tổ sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ở những vị vua này, tư tưởng dân chủ, tinh thần nhân đạo truyền thống đã bắt gặp người cùng chí hướng là tinh thần bác ái trên cơ sở bình đẳng vô sai biệt đối với vạn pháp của nhà Phật. Họ dễ dàng cởi bỏ những vướng mắc câu chấp, nhị nguyên và sống trọn vẹn với chân lý. [1]
Sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử :
Dòng thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thành lập là một dòng thiền đầu tiên ở Việt Nam do một vị Thiền sư Việt Nam làm sơ tổ. Một điều chắc chắn không thể phủ nhận, dòng thiền Trúc Lâm cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ ba dòng thiền : Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông Và Thảo Đường, đồng thời tiếp tục chịu ảnh hưởng của thiền tông Ấn- Hoa. Qua những nhận định trên, chúng ta có thể nhận ra được những nét cơ bản đặc sắc của Thiền Tông Việt Nam thời Lý - Trần. [2]
2-                  Văn học Phật giáo thời Lý-Trần :
     Thời Lý-Trần, văn học Phật giáo cực thịnh, ảnh hưởng sâu sắc đến văn học, do thế đã tồn tại một bộ phận văn học Phật giáo. Các nhà nghiên cứu thừa nhận Phật giáo Lý-Trần là tinh hoa, là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam và văn học Phật giáo Lý-Trần là tinh hoa, đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam. [3]
       Văn học Phật giáo Lý- Trần không chỉ kế thừa những thành tựu trước đó mà còn ảnh hưởng đến văn học giai đoạn sau để đem lại cho văn học Việt Nam cái chất phóng khoáng, rộng mở, tùy tục ; một cái nhìn lạc quan, tạo nên một bộ phận “văn thơ Thiền thế sự”  và một ấn tượng đẹp trong lòng người đọc qua bao thế hệ. Có thể nói văn học Phật giáo Lý- Trần là một tiếng nói rất riêng, tiếng nói ấy chính là tinh hoa của thời đại Phật Giáo cực thịnh, là tinh hoa của văn học Phật giáo Việt Nam, góp phần làm cho nội dung vă học Việt Nam  thêm đa dạng, phong phú. [4]
       Văn học Phật giáo Lý- Trần đã phản ánh khá đầy đủ giáo lý nhà Phật, đó là bản thể luận và giải thoát luận. Cụ thể là các Thiền sư Lý - Trần đã từ khởi điểm sắc – không, trên quan niệm trung đạo luận để nhận thức thực tướng và giả tướng rồi đi đến triết lý vạn vật nhất thể, đạt đến chân như, Niết bàn. [5]
       Qua khảo sát các tác phẩm văn học Phật giáo Lý- Trần, chúng tôi nhận thấy có nhiều tác phẩm thuộc các thể loại như kệ, tụng cổ, nhữ lục, luận thuyết tôn giáo , thơ…  đã biểu lộ một trạng thái tư duy nghệ thuật khác với kiểu tư duy của Nho giáo. Kiểu tư duy này gắn liền với tư tưởng Thiền học, chú trọng đến tâm trực ngộ, trực cảm. Chúng tôi tạm gọi đó là trạng thái tư duy nghệ thuật thuộc kiểu trực cảm tâm linh. Văn học Phật giáo Lý- Trần thường hay sử dụng thể thơ tứ tuyệt ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Xuất phát từ tư duy Thiền, kiệm lời, vô ngôn, gợi nhiều hơn tả nên các Thiền gia ưa dùng thể tứ tuyệt. Thể thơ này mang tính ngắn gọn, hàm súc và có cấu trúc chặt chẽ rất phù hợp với các Thiền gia ghi lại một cách nhanh chóng kịp thời các trạng thái của giây phút mà họ giác ngộ, bừng vỡ, sáng tỏ chân lý, hoặc ghi lại các cảm xúc thiền. Bên cạnh đó đa số các tác phẩm văn học thiền thường được sử dụng thủ pháp ẩn dụ như gia hương, minh châu, bảo ngọc trân để chỉ Phật tính trong mỗi con người ; tâm viên ý mã để chỉ lòng người dao động ; liên phát lô trung chỉ chân tâm bền vững không sợ thử thách ; thủy nguyệt là sắc tướng hư ảo. Văn học Phật giáo Lý- Trần còn dùng những từ ngữ vượt thoát khỏi tư duy logic thông thường. các thiền sư sử dụng ngôn ngữ này với mục đích đánh mạnh vào tâm tư, dồn ép người đọc đến chổ tận cùng khiến họ ngơ ngác rồi bừng tỉnh, giác ngộ chân lý. Đây là những nghịch ngữ thường gặp trong văn ngữ lục, niệm tụng kệ hay các công án thiền, đó là hình ảnh kẻ điếc nghe đàn cầm, anh mù ngắm trăng rằm, đàn không dây, sáo không lỗ …
       Trên đây là những đặc điểm cơ bản nhất của Văn học Phật giáo Lý- Trần. Chính những đặc điểm đó đã làm nên nét độc đáo của một bộ phận văn học vốn được sáng tác dưới ánh hướng trực tiếp và sâu sắc tư tưởng giáo lý của tôn giáo vừa uẩn súc lại vừa gợi cảm nên thơ. Nhờ thế mà Văn học Phật giáo Lý- Trần đã có một tiếng nói riêng, khó lòng gặp lại trong văn chương Việt Nam. [6]
II.  NHỮNG ĐẶC TRƯNG CON NGƯỜI ĐẠI VIỆT TRONG THỜI ĐẠI LÝ TRẦN :
      Chúng ta phải công nhận rằng đời Trần là thời kỳ trăm hoa đua nở, thời kỳ mà các nhân tài kiệt xuất hội tụ, thời kỳ mà dân tộc đoàn kết một lòng đánh giặc xâm lăng, xây dựng đất nước hòa bình thịnh trị rực rỡ nhất trong lịch sử. Sở dĩ đời trần có một nét son sáng đẹp như vậy là vì thời ấy đã hội tụ những con người đại Việt mang nét đặc trưng tiêu biểu. Những con người một mặt phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát, một mặt xả thân bảo vệ xây dựng đất nước trong tinh thần vô ngã, tùy duyên bất biến, hòa quang hồng trần.
1.                  Con người giác ngộ (con người phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát hoàn
      toàn) :
       Con người không ngừng vươn tới sự giải thoát giác ngộ là một đặc trưng tiêu biểu nhất của con người Đại Việt thời đại Lý Trần. Hội tụ ở nơi họ là những phẩm hạnh cao đep thoát tục. Phải chăng như những đóa sen thơm tuy sống trong bùn mà không nhiểm mùi bùn, sống trong nhung lụa, uy quyền tột bực nhưng tâm vẫn không vướng mắc. Với tinh thần vô ngã, tùy duyên bất biến, họ tích cực đem ánh đạo hòa vào cuộc, làm cho cuộc đời thêm tươi sáng. Đó là một Trần Thái Tông, một Tuệ Trung Thượng Sĩ, một Trần Nhân Tông và còn nhiều còn nhiều bậc vĩ nhân khác nữa, nơi họ ẩn chứa tài năng xuất chúng, sự đốn ngộ hoàn toàn đã xây nên nền tảng Thiền học Việt Nam tự chủ, tự lực, tạo nên sức mạnh chống giặc bảo vệ non sông của dân tộc ta.
1.1.      Con người với phẩm hạnh cao cả, điều phục thân tâm để đạt đến giải thoát :
        Xu hướng chung của con người sống trong cuộc đời này là tìm sự hưởng thụ khoái lạc trong các giác quan, tìm địa vị, danh lợi, quyền lực, danh thơm tiếng tốt. Họ không hiểu rằng những thứ ấy vui ít khổ nhiều, là yếu tố dẫn đến sự tranh giành, đoạt lợi, xâu xé lẫn nhau, tạo nên bao cuộc chiến tranh đẩm máu xưa nay. Thế nhưng con người Đại Việt trong thời Lý - Trần lại không như vậy, với tinh thần vô ngã, vươn đến sự giải thoát tự tại ngay trong cuộc đời giả tạm này mà họ đã vượt lên trên bản tánh thường tình của con người, tu tập điều phục thân tâm. Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông là ba con người trong một phẩm chất, tuy sống trong sắc tài danh lợi mà vẫn không bị chúng làm đắm nhiễm.
       Trần Thái Tông là một trong những con người như thế. Toàn bộ sáng tác của Thái Tông mang tính chất chí khí của một tâm hồn luôn tự đánh thức mình, không để rơi vào tình trạng sống say chết mộng. Vua không phải là một người tầm thường chỉ muốn hưởng thụ những lạc thú cuộc đời, dù rằng những lạc thú đó đang nằm trong tầm tay của một người quyền uy tột bực như vua. Trái lại vua luôn tỉnh giác, không đánh mất mình trong thế giới hình sắc, âm thanh, hương vị và xúc cảm. Những sáng tác của Ngài đã thể hiện tinh thần tu tập, tẩy rửa tâm ô nhiễm, vươn tới đỉnh cao giải thoát ngay trong trần thế này. Trong đó “Khóa Hư Lục” của Trần Thái Tông là một tác phẩm đặc sắc thuộc thể tài luận thuyết, đã nói lên tinh thần tỉnh giác tu tập như vậy. Bằng những kinh nghiệm của bản thân, trong Khóa Hư Lục, Thái Tông đã dùng những từ ngữ, lời lẽ thống thiết tựa hồ “máu chảy ở đầu bút, nước mắt thấm trên giấy”, Ngài đã đã sử dụng bút pháp tả thực để mô tả con người từ hình thể bên ngoài đến nội tâm bên trong nhằm tự cảnh tỉnh mình, cảnh tỉnh mọi người :“Trai khoe ném quả bởi dáng tươi, gái cậy nghiêng thành vì vẻ đẹp. Thoạt cười người mất nước ; cười tiếp kẻ nghiêng thành. Tranh đẹp khoe danh, ganh hay dành lạ, xem ra vẫn vòng luân hồi, rốt cuộc cũng đường sinh hóa”.  [7] Bản tính con người như thế đó, khi tuổi xuân đang mơn mỡn, sức khỏe đang tràn trề  thì họ cứ mãi mê chạy theo sắc, theo danh, tìm cách hưởng thụ các món ngon vật lạ trên cuộc đời này :  
“Mũi lưỡi tham hương say đắm vị
Mắt tai ưa sắc chuộng âm thanh.
Phong trần khách nọ lang thang mãi
Ngày vắng xa quê vạn dặm trình”.  (Khóa Hư Lục)
        Dưới con mắt Thiền sư, một con người đã nhìn thông suốt bản chất thật của cuộc đời, Ngài thấy rằng dù trai dáng tươi, gái nghiêng thành, dù cho đắm vị, chuộng âm thanh thì tất cả chỉ tạm bợ, thoáng qua. Con người đâu hay rằng chạy theo những thứ đó không khác gì tự mình ôm lấy khổ đau, vì các dục vui ít khổ nhiều, vị ngọt thì ít nhưng cay đắng tràn ngập. Vả lại, cuộc đời thoáng qua nhanh, mong manh như hạt sương trên đầu ngọn cỏ :
          “Xưa kia má hồng sắc thắm, ngày nay xương trắng tro tràn. Mây mịt mùng khi mưa lệ chứa chan ; trăng hiu hắt chốn gió sầu lay động. Canh khuya vắng, thần sầu quỷ khóc ; tháng năm chầy ngựa xéo trâu quần. Lửa đóm lập lòe dưới đám cỏ xanh ; tiếng trùng nỉ non trên hàng dương trắng. Bia mộ nữa chìm, phủ đầy rêu biếc ; chăn trâu hái củi, dẫm sạt lối mòn. Dẫu có văn chương nức tiếng ; dù cho tài sắc nghiêng thành. Nào ai có khác chi ai ; rốt cuộc đều về một mối. Mắt bị sắc lôi lên núi kiếm ; tai theo tiếng gọi đến rừng lao. Đầu mũi ngửi khói tanh hôi ; trong lưỡi ngậm hòn sắt nóng. Thân khiếp sợ đồng sôi tưới tắm ; ý chua cay vạc lửa nấu nung. Trần gian dù trăm năm ; địa ngục một ngày một tối”. (Khóa Hư Luc) [8]
Sanh, lão, bịnh, tử là khổ, thế mà con người đâu hay biết, cứ mãi làm khách phong trần lang thang từ kiếp này sang kiếp khác, Ngài khuyên chúng ta :
              “ Vươn mình nhảy thoát hố tử sinh, búng tay xé toang màn ân ái. Chẳng nề trai, chẳng nề gái, đều cũng khứng tu; dù rằng trí, dù rằng ngu, hết đều có phận. Ví chưa đạt tâm Phật ý tổ, hãy nương nhờ trì giới tụng kinh … phá sáu giặc làm sáu thần thông, hòa tám khổ làm tám tự tại… Này các ngươi ! Duy cái sắc thân này, làm thế nào để thoát, nên hãy nghe đây :
Vô vị chân nhân khối đỏ ngầu
Hồng hồng trắng trắng chớ lòe nhau
Ai hay mây cuốn trời quang đãng
Xanh biếc bạt ngàn rặng núi sâu”  (Khóa Hư Lục) [9]
Dưới trí tuệ của một bậc tỉnh thức, ngài thông suốt “huyễn sắc cũng chính là chân sắc”, ở trong cái huyễn mộng vẫn tiềm tàng cái chân thật, mê và ngộ như bàn tay úp và ngửa. Cho nên “Ai hay mây cuốn trời quang đãng”, khi ánh sáng giác ngộ xuất hiện, tự nhiên mây mù của ngã chấp, của tam độc tham, sân, si tự nhiên tan biến. Chính vì vậy ở ngay trong cuộc đời này, ngay tại trong sắc thân giả tạm này, con người hãy tỉnh thức tu tập, tẩy rửa tâm ô nhiểm, thành tâm sám hối các tội lỗi đã gây ra. Ngài khuyên chúng ta hãy tu tập cho đến khi không còn giới nào trì, kinh nào niệm.
       Đọc Khóa Hư Lục chúng ta cảm thấy lời văn cảnh tỉnh nhưng không khô khan, mà đọc lên nghe như đang thưởng thức một áng văn chương tuyệt tác bởi ngôn từ trau chuốt mượt mà êm ái như suối chảy thông reo. Ngài  mô tả tướng sinh, già, bịnh, chết của con người mà ta nghe như mình đang thưởng thức một bức tranh sinh động về bốn mùa xuân, hạ, thu đông. Chúng ta thử đọc một vài đoạn, ví dụ như Ngài mô tả tướng sanh của con người như sau  “Một trời trong sáng, nơi nơi liễu thắm hoa hồng ; muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh ca bướm lượn”.  Hay Ngài mô tả tướng lão của con người : “Trời chiều sắp gác non đoài, nước chảy rót về đông hải. Tướng người già ấy, mùa hạ trong năm. Trời nóng nứt đá, làm muôn vật đều khô ; nắng gắt chảy vàng, khiến trăm sông hầu cạn. Hoa tàn liễu rạc, …”.  Hình ảnh đầy màu sắc sinh động, ngôn từ thi ca nhưng ẩn chứa nghĩa lý thâm sâu. Ý  tha thiết hùng hồn phản chiếu một ý chí dõng mãnh, quyết xa lìa mọi cám dỗ hư ảo của cuộc đời. Chính vì vậy những lời cảnh tỉnh ấy có sức thu hút lạ lùng, có sức mạnh truyền tải vào tâm thức người đọc sự bừng tỉnh, cảm nhận được sự vô thường tạm bợ, những nỗi khổ đau của kiếp người.
       Nếu như Trần Thái Tông ngày đêm sám hối, trì giới tụng kinh, giữ gìn các căn không cho đắm nhiễm theo trần thì Tuệ Trung Thượng Sĩ từ bỏ mọi công ước, những giới điều trói buộc tâm thức, bước vào thể nhập thực tại  :
Đi cũng thiền,
Ngồi cũng thiền ;
Một đóa sen trong lò lửa hồng.
Khi không có ý khí thì tăng thêm ý khí
Được nơi an định hãy cứ an định.
                                                                    (Phật Tâm Ca)
Đối với Tuệ Trung Thượng Sĩ, việc tu tập đã vượt ra ngoài các pháp phương tiện, bởi tâm của ông đã được thuần thục nên không cần kềm giữ, quản thúc nó. Sự thanh tịnh và trong sáng của tâm thức lúc nào cũng có mặt trong từng hơi thở, từng hành động cử chỉ đi, đứng, nằm ngồi. Vì là một con người đã đập vỡ khái niệm nhị nguyên, chấp thủ nên Ngài cho rằng : Trì giới và nhẫn nhục là những việc làm giả tạo mà mình đã tự đặt ra để ràng buộc lấy mình :
“Trì giới và nhẫn nhục
Thêm tội chẳng thêm phúc
Muốn siêu việt tội phúc
Đừng trì giới nhẫn nhục”  [10]  
Bởi vì theo Ngài, những vấn đề này được đặt trên căn bản nhận thức “nhị kiến”, vấn đề không phải trì giới và nhẫn nhục mà là vượt lên trên trì giới và nhẫn nhục. Chúng ta thấy rõ ràng, không phải Tuệ Trung khuyên mọi người đừng trì giới và nhẫn nhục mà trì giới nhẫn nhục khi đứng trên phương diện luân lý đạo đức thì phải làm nhưng đứng trên phương diện chân tâm thì quan niệm phân biệt tội- phúc, trì giới-phá giới, nhẫn nhục-sân nhuế là một trở lực lớn :
“Như người leo lên cây
Đang yên tự chuốc nguy
Nếu đừng leo cây nữa
Trăng gió làm được gì”.
Chúng ta sở dĩ phải trì giới nhẫn nhục vì tâm chúng ta xao động chạy theo trần cảnh, chứ nếu tâm không xao động thì trì giới nhẫn nhục để làm gì. Vì điều đó ví như tự mình đang bình an rồi tự leo lên cây tự chuốc lấy nguy hiểm. Cho nên trì giới nhẫn nhục mà mình không kẹt vào ý niệm mình đang trì giới- nhẫn nhục, đây là điều mà tuệ Trung muốn nhắm tới.
       Thừa hưởng những tinh hoa của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông rất ý thức về tính cách vô thường của cuộc sống và thao thức sự giải thoát tự tại. Tuy ở ngôi vị, Ngài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu học, thường ngày đến chùa Tư Phước trong cung để tu tập, Ngài thường ăn chay lạt, thân thể ốm gầy. Ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nội điển và ngoại điển . Những khi nhàn rỗi Ngài mời các thiền khách bàn giải về tâm tông (thiền) . Ngài tham học thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ, thâm đắc đến chổ thiền chỉ. [11] Vua đã dùng thì giờ trong mọi hành động cử chỉ nhỏ nhặt để tham quán :
“Chuyển tam độc mới chứng tam thân
Đoạn lục căn nên trừ lục tặc”.  [12] (Cư Trần Lạc Đạo Phú)
Đối với việc tu tập để chứng tam thân, Trần Nhân Tông cho rằng phải chuyển tam độc, đoạn lục căn, trừ lục tặc. Bởi vì tam độc là ba con rắn độc đáng sợ, chúng luôn ẩn núp nhưng lại chi phối thân tâm con người khiến cho sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) cứ chạy theo sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Chính chúng là đầu mối sinh tử, kéo chúng ta luân hồi sanh tử trong sáu đường biết bao giờ mới chấm dứt. Cho nên Ngài luôn tự điều phục các căn, thoát ra ngoài sắc dục, lợi danh và luôn trau dồi đạo lực tham thiền học đạo, ngiên cứu kinh sách :
“Xem Tam tạng giáo, ắt học đòi Thuyền uyển thanh quy;
Đốt ngũ phần hương, chẳng tốn đến chiên đàn, chiên bặc,
Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay nầy chẳng Phật Thích Ca ;
                         Cầm giới hạnh đoạn ghen tham, chỉn thực ấy là Phật Di Lặc”.
                                                                                                  (Cư Tần Lạc Dạo Phú)
Đến đây chúng ta nhìn nhận rằng trau dồi phẩm hạnh là một trong những đặc trưng của con người Đại Việt trong thời đại Lý Trần. Ở trong những con người ấy mang vẻ đẹp thuần khiết của một tâm hồn trong sáng luôn vượt lên chính mình, ở trong cuộc đời đầy cám dỗ mà vẫn giữ tâm vô nhiểm. Cho nên, chính sự hiện hữu của những cá nhân mang tính siêu việt đó là một trong những yếu tố hình thành nên nét son lịch sử của Phật giáo Việt Nam.      
1.2.      Quan điểm Phật tại tâm :
      Phật không ở đâu xa mà Phật ngay chính trong tâm thức mỗi người. Đây là tư tưởng đặc trưng nổi bật của con người Đại Việt thời Lý Trần. Với xu hướng “Phật giáo thiền biện tâm” hướng nội để nắm bắt được chân lý tối thượng, có thể nói là rất sáng tỏ trong Phật giáo đời Trần : “Không phân biệt là sống giữa đời hay sống ẩn dật trong rừng, không phân biệt là tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, chỉ cốt biện tâm”.
      Khái niệm có tính chất bản thể luận như tâm, phật, chân tâm, chân như…chính là chân tâm vốn có của chúng sanh vốn không sanh không diệt, không đến không đi. Vì một niệm bất giác khởi lên mà chúng sanh cứ mãi nhận giặc làm con, mãi làm khách trần trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, có biết đâu rằng :
“Lênh đênh làm khách phong trần mãi,
Ngày vắng xa quê vạn dặm trường”. (Khóa Hư Lục)
Bản lai diện mục được Trần Thái Tông thi vị hóa thành quê hương, là nhà, là nơi chốn trở về. Thái Tông nói trong bài “bàn về tọa thiền” : “Ôi ! những người học đạo chỉ cần thấy tính”. Theo vua “tính” là đối tượng của sự tu chứng, “tính” chính là Phật tính hiện hữu trong mỗi tâm thức con người, như lời Viên Chứng quốc sư khẳng định : “Sdhsinh là sinh  hơn bổn vô Phật, duy tồn hồ tâm” (trong núi vốn không có Phật, duy chỉ ở trong tâm). Trong bài tựa Kim Cương Tam Muội của Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông viết : “Bản tính huyền ngưng, chân tâm tạm trịch, dứt tuyệt ý niệm về tròn khuyết ; nếu không phải do thánh trí thì không tìm được giềng mối của nó ; nó không hợp, không tan, không còn, không mất…”. Mục tiêu của sự tu đạo là trở về tìm lại tính siêu việt đó vốn lâu nay bị vọng tâm che lấp. “Hãy quay đầu lại nhìn vào bên trong nội tâm” hay “Nếu có thể quay sang phản chiếu lại mình thì sẽ thấy được tánh mà thành Phật” (Khóa Hư Lục). Theo vua chỉ vì sự tập hợp huân nhiễm lâu đời mà phát ra sóng gió tri kiến của thần thức, vì chúng sinh buông mình theo con đường ô trọc che lấp nên không biết đem ánh sáng tuệ giác để chiếu soi, khiến cho bốn phương thành xứ lạ, mơ hồ không biết rõ lối về. Tu đạo tức là thực hiện sự trở về. Sám hối cũng là một phương tiện để trở về, tu giới định tuệ là bước trên con đường trở về. Vì chúng sanh có sẵn tuệ tính nếu không tập tọa thiền thì vẫn chưa có thể làm hiển lộ tuệ giác. Cho nên Thái Tông thao thức thực hiện tuệ giác để tìm được cái gì không sinh không diệt trong dòng đời sinh diệt, khổ đau, vô thường, vô ngã.
       Với chủ trương con người không cần đi tìm Phật ở đâu xa, Phật hiên hữu ngay tong tâm thức mình, tư tưởng đặc sắc này đã thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Phật Tâm Ca”. Tuệ Trung Thượng Sĩ đã hát bài ca về Phật ngay giữa trần thế này. Bài Phật tâm Ca của Thượng sĩ là tác Phẩm văn học Thiền được viết theo thể ca, một hình thức sáng tác chỉ xuất hiện trong các sáng tác của các Thiền gia đời Trần thuộc Thiền phái Trúc Lâm mà thôi. Theo thư tịch cổ, thơ văn Thiền phái chỉ còn bảo lưu hai văn bản được sáng tác theo thể loại này. Đó là Phật Tâm Ca của Tuệ Trung viết theo chữ Hán và Đắc Phú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca của Trần Nhân Tông viết bằng chữ Nôm. Phật Tâm Ca là một bài ca gồm 12 khổ, 55 câu. Số câu trong bài không hạn định, không gò bó về niêm luật, vần điệu… nó thích ứng cho cảm hứng sáng tác trong chiều hướng khai mở tâm thức và bừng sáng trí tuệ. Bài ca được thi hứng từ trong cảm nhận hỷ lạc chứng ngộ, cho nên nó không chỉ khai phóng từ một tâm hồn thi sĩ mà trên hết là ý chỉ thiền tông tuỵêt tác. Một tâm thức khai phóng tự tại hẳn nhiên sẽ tạo ra một áng văn chương đầy đủ chất thẩm mỹ, nghệ thuật. Bài ca kết cấu ý tứ chặt chẽ , giọng ca vừa mang chất liệu âm hưởng thiền, vừa giàu hình ảnh văn học đã đem đến cho người đọc một cái nhìn thoáng mở. Và như thế bài Phật Tâm ca không chỉ giá trị về nội dung tư tưởng thiền học mà còn mang tính đặc sắc âm vang nghệ thuật thi ca Thiền tông. [13]
       Theo Tuệ Trung, Phật và tâm Phật hợp nhất với tâm ta. Cái nguyên lý ấy cũng là nguyên lý của tâm ấn mà Phật truyền cho Tổ, Tổ Tổ tương truyền. Đó chính là “pháp dĩ như nhiên”, là như thị, là ý nghĩa đích thực của thực tại :
“Mày ngang mũi dọc cũng như nhau
Phật và chúng sanh không ai khác.
Ai là phàm, chừ ai là thánh ?
Muôn kiếp sưu tầm mất căn tính
Không tâm không thị cũng không phi
Không kiến chẳng tà cũng chẳng chính”. (Phật Tâm Ca)
Ranh giới phân biệt là nguồn gốc mê lầm chấp trước, nó cản trở tâm thức chúng ta thể nhập với bản thể chân như. Cho nên, theo Tuệ Trung để trở về với tánh Phật là phải tiêu diệt “nhị kiến”, bởi lẽ :
“Phật, Phật, Phật không thể thấy được
Tâm, tâm, tâm không thể nói được”
Phật tính không thể dùng trí mà biết được, không thể dùng thức mà hiểu được mà chỉ có thể trực nhận “tâm địa nhược thông huệ nhật tự chiếu” mà thôi.
“Tâm là Phật
Phật là tâm,
Tính huyền diệu thì sáng, linh và thông suốt xưa nay,
Mùa xuân tới, hoa xuân cười,
Mùa thu về, không chổ nào là nước thu không sâu”.
                                                                 (Phật Tâm Ca)
Khi chấp nhận Phật tại tâm và khi tâm được thông, thì mặt trời chân tâm chiếu sáng, lúc đó chẳng còn tà, chẳng còn chính, chẳng còn mê và ngộ, chẳng còn sinh tử và Niết bàn, tất cả chỉ là thực tại hiện tiền như chính nó vốn là : “mùa xuân tới, hoa xuân tươi cười ; mùa thu về, không chổ nào là nước thu không sâu”. Chính vì vậy ông có cách sống của một người đạt đạo, phóng túng, tiêu dao, ung dung tự do. Ông không quan tâm ăn chay hay ăn mặn, chẳng niệm Phật với ngồi thiền, không trì giới và nhẫn nhục, thoát khỏi cuộc sống náo động của vật dục sai khiến. Đó là cách sống tự nhiên tùy hứng, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì, đói ăn, khát uống, mệt ngủ, sống trong trần thế nhưng Tuệ Trung đang rong chơi ngoài cõi thế.
        Quan điểm “Phật tại tâm” của Trần Nhân Tông cũng không khác gì Phật tại tâm của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, bởi chân lý chỉ có một mà thôi. “Phật tại tâm” của Trần Nhân Tông thể hiện nổi bật trong Cư Trần Lạc Đạo Phú. Cư Trần Lạc Đạo Phú là một áng văn Nôm được viết theo thể phú gồm 10 hội, viết về tư tưởng thiền. Có thể nói tác phẩm này là bản tuyên ngôn của con đường sống đạo mà Phật giáo Đại Việt đã đề ra và chi phối toàn bộ tư tưởng cuộc sống người dân lúc bấy giờ.
“Bụt ở trong nhà ;
Chẳng phải tìm xa.
Nhân khuấy bản nên ta tìm Bụt ;
Đến cốc hay chỉn Bụt là ta”. (Cư Trần Lạc Đạo Phú) [14]
 
Tục ngữ ta cũng có câu : “Bụt ở trong nhà mà lại đi cầu Thích Ca ngoài đường”, nên Bụt chính là Đức Phật, còn nhà là tâm của chúng ta. Trần Nhân Tông cho rằng Phật có sẵn trong tâm chúng ta mà chẳng cần tìm đâu xa. Rõ ràng tư tưởng này được tiếp thu và kế tục từ người Thầy (Tuệ Trung) của mình cũng như được tiếp thu từ Trần Thái Tông- cho rằng hãy tìm Phật ngay trong chính bản thân mình, tìm Phật phải quay vào nội tâm mà tìm. Chân tánh của chúng ta lúc nào cũng nằm nguyên đấy nhưng do vì “khuấy bản” một niệm vô minh khởi, do vọng tâm che lấp nên không thấy được, nếu cứ chạy theo ảo ảnh tìm phật bên ngoài thì chúng ta càng tìm càng xa. Tư tưởng này cũng chính là tư tưởng của Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói trong kinh Pháp Bảo Đàn : “Phật là giác … quy y giác nơi nội tâm thì mê không sanh, ít ham muốn, biết vừa đủ, xa lìa tài sắc”. Trần Nhân Tông kế thừa hoàn chỉnh lời Phật dạy : “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” nên Ngài khuyên mọi người hãy quay về giác ngộ Phật tánh có sẵn trong chúng ta :
“Vô minh hết Bồ đề thêm sáng ;
Phiền não rồi đạo đức càng say
Buông lửa giác ngộ, đốt hoại rừng tà ngày trước ;
Cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tính thức thuở nay”. (Cư Trần Lạc Đạo Phú)
Ngọc báu tuy có sẵn trong tâm nhưng nếu không mài không dũa thì nó không sáng được, vì vậy con người hãy gột sạch phiền não, trau dồi đạo đức, cầm kiếm trí tuệ quét cho KHÔNG tâm thức thuở nay. Khi tâm được thông thì Phật tánh tự nhiên hiển lộ.
       Với ưu thế của “Phật giáo thiền biện tâm” này, yếu tố con người được đề cao tột độ, được phát huy triệt để trong đời sống hằng ngày, cũng như trong đời sống chính trị xã hội của đất nước. Ưu thế hướng nội biện tâm này là người nào thực hành cũng được, không phân biệt tại gia hay xuất gia, không phân biệt thành thị, chợ búa hay độc cư trên núi, trong rừng. “Phật giáo thiền biện tâm” quả là một Phật giáo bình đẳng, quảng bá trong quần chúng chứ không phải riêng của Tăng sĩ. Từ vua quan cho đến dân chúng cùng tu tập, cùng biện tâm để cùng nhau xử lý các vấn đề cá nhân, quốc gia dân tộc cho thật chu toàn như chủ trương vạch định. Sức mạnh của Phật giáo Thiền đời Trần là ở đây. Sở dĩ có một thiền phái như thế ở thời nhà Trần vì xã hội có nhu cầu, đòi hỏi một hình thức Phật giáo chủ lưu như vậy để tạo ra và vũ trang tư tưởng hệ cho lớp người lãnh đạo nhằm nâng cao tính tự cường, bất khuất, sáng suốt và không cố chấp, đồng thời biết dựa vào sức mạnh toàn dân để tiến hành công cuộc dựng nước và giữ nước.
1.3.       Tư tưởng hòa quang hồng trần :
       Có thể nói đời sống sinh hoạt Phật giáo luôn gắn liền với đời sống sinh hoạt dân tộc. Với xu hướng hòa quang hồng trần, đạo Phật trong thời đại Lý-Trần đã đi vào cuộc đời làm cho đời thêm tươi sáng. Tư tưởng này là sự kết tinh của một tiến trình phát triển lịch sử Phật Giáo Việt Nam từ vua thời Lý Thánh Tông cho đến vua Trần Thái Tông và kế tiếp sau này là Tuệ Trung Thượng Sĩ và Trần Nhân Tông cũng như các thành viên Thiền phái Trúc Lâm. Vào thời Trần tư tưởng này được thực hiện triệt để vì nhu cầu bức thiết của đất nước được đặt ra là dân tộc đang đối đầu với sự xâm lược của quân Nguyên Mông hung hãn và thiện chiến, cho nên cả nước từ vua, quan cho đến thần dân đều phải đoàn kết một lòng, tập trung năng lực và trí tuệ xây dựng và bảo vệ đất nước.
        Tinh thần hòa quang hồng trần đã thể hiện rõ trong con người Trần Thái Tông trong việc đề ra các chủ trương xây dựng đất nước Đại Việt. Nhà vua đã thực thi nếp sống đạo theo tinh thần Thiền tông mà nhà vua đã hành trì để xử lý tâm, đó chính là “biện tâm”. Chính đặc trưng tinh thần Thiền học này, đã trở thành kim chỉ nam để Trần Thái Tông trong cương vị một nhà lãnh đạo tối cao của nước Đại Việt, nhà lãnh đạo tôn giáo với tư cách là vị Thiền gia chứng ngộ giải quyết các vấn đề liên hệ cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia, dân tộc. Hẳn nhiên phương thức hành trì thiền nó không chỉ tồn tại trong các ngôi chùa nguy nga mà nó có thể hoạt động ở bất cứ nơi nào dù thành thị, nông thôn, chợ búa hay núi non. Thậm chí nó có thể phát huy ngay giữ chiến trường để đối mặt với quân Nguyên Mông. [15]
        Kế tục lối sống “hòa quang hồng trần” của các vị tiền bối Thiền sư đi trước, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã thể hiện nó một cách trọn vẹn. Với một người phóng khoáng ung dung tự tại giữa cuộc đời như Tuệ Trung Thượng Sĩ thì lối sống “hòa quang hồng trần” càng được thể hiện đậm nét. Điều này thể hiện rõ trong lời nhận xét của Trần Nhân Tông về Thượng Sĩ như sau :
       “Thượng Sĩ sống giữa lòng thế tục, hòa ánh sáng mình trong cuộc đời bụi bặm; trong mọi cuộc tiếp xúc Thượng Sĩ luôn luôn giữ thái độ hòa ái nên chưa bao giờ gặp phải những trường hợp phiền nghịch. Do đó, Ngài có thể tiếp nối được hạt giống chánh pháp, dìu dắt những kẻ mới học. Ai đến tham cứu tìm học với Ngài cũng được Ngài chỉ dẫn sơ lược cho thấy phần cương yếu của đạo pháp khiến tâm họ có chổ nương tựa. Thượng Sĩ không bị ràng buộc bởi hình thức ; khi thì ẩn tàng, khi thì lộ diện, Ngài không chấp vào hình thức và danh từ”.  [16]
        Thật thế Thượng Sĩ là một người có những hành trạng lạ lùng siêu việt mà một người bình thường như chúng ta không thể tường tận hết được. Hành trạng của Ngài đã vượt ra ngoài mọi hình thức, chấp trước, khái niệm. Đối với một nhân cách như Thượng sĩ, những hình thức xuất gia và tại gia không trở thành quan trọng. Dù không được Thượng Sĩ trao truyền y bát, Nhân Tông đã nhận Thượng sĩ là bậc Thầy đã khai sáng tâm linh mình. Hành trạng của Thượng Sĩ là hành trạng của một vị Bồ Tát “hòa quang hồng trần” đem đạo vào đời, hòa vào cuộc đời, làm cho cuộc đời thêm sáng tươi.
      “Hòa quang hồng trần” là tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ tác phẩm Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Vì là một con người đã vượt lên trên mọi hình thức cũng như mọi khái niệm lưỡng nguyên, Thượng Sĩ mời mọi người đi thẳng vào thể nhập diệu tính thực tại, bỏ những công ước những giới điều trói buộc tâm thức con người :
“Đi cũng thiền,
Ngồi cũng thiền;
Một đóa sen trong lò lửa hồng.
Khi không có ý khí thì tăng thêm ý khí,
Được nơi an định hãy cứ an định”. (Phật Tâm Ca)
“Một đóa sen trong lò lửa hồng” đã nói lên tư tưởng nhập thế, hòa vào cuộc đời của Tuệ Trung Thượng Sĩ, tuy ở trong cuộc đời đầy cám dỗ bụi bặm nhưng lòng vẫn sáng trong không vướng bùn nhơ, tuy ở trong nhà lửa của lão bịnh tử mà vẫn an nhiên tự tại. Thượng Sĩ tuy không lạy sám hối, không trì kinh ngồi thiền nhưng tâm luôn chánh niệm tỉnh giác “đi cũng thiền, ngồi cũng thiền”. Vả lại Ngài là bậc ngộ đạo sống với chân tâm thường lạc rồi thì cần gì chấp nệ hình thức giữ giới hay nhẫn nhục mà theo Ngài trì giới và nhẫn nhục thêm tội chẳng thêm phước, ví như người đang bình an rồi leo lên cây tự chuốc lấy nguy hiểm cho mình nên Ngài là người không quan trọng việc ăn chay hay ăn mặn, xuất gia hay cư sĩ, trì giới hay nhẫn nhục. Chính vì những yếu tố này khiến Ngài dễ dàng hòa vào cuộc đời, giúp ích cho đời, cụ thể là đóng góp hết sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
      Trần Nhân Tông-Sơ Tổ phái Thiền Trúc Lâm, vì là học trò của Tuệ Trung Thượng Sĩ nên hơn hai hết, Ngài thừa hưởng nhân cách “hòa quang hồng trần” siêu phàm thoát tục của Thầy. Trong hội thứ nhất của Cư Trần Lạc Đạo Phú ông khẳng định rõ :
“Mình ngồi thành thị ;
Nết dụng sơn lâm,
Muôn nghiệp an nhàn, lặng an nhàn thể tính ;
Nữa ngày rồi tự tại thân tâm” (Cư Trần Lạc Đạo Phú)
Tuy làm vua, sống trong nhung lụa quyền lực, sống trong cảnh ồn náo đua chen của cuộc đời nhưng những thứ ấy không làm tâm ngài xao động, lòng ngài vẫn thanh tịnh vô nhiễm, bởi vì muôn nghiệp lặng, thể tính an nhàn, thân tâm tự tại. Cho nên trong thời gian này là thời gian Ngài chưa xuất gia, hình thức một người Phật tử tại gia nhưng tâm đã lìa tục, vượt thoát ra khỏi tài, sắc, danh, lợi. Trên phương diện này Ngài thành lập yếu chỉ tu đạo như sau :
“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”. (Cư Trần Lạc Đạo Phú)
Theo kinh nghiệm tu chứng của sơ Tổ, sống trong cuộc đời, an trú trong “đạo” thì phải biết tùy duyên, đói thì ăn, mệt thì ngủ, tâm trí nhẹ nhàng như mây bay gió thổi không vướng măc, không não phiền. bởi lẽ trong nhà có sẵn ngọc báu rồi thì tìm kiếm làm gì. Ngọc trong nhà chính là phật tánh có sẵn nơi mỗi con người, bây giờ nó đã hiển lộ, hằng ngày sống với chân tánh ấy thì kiếm tìm gì cho nhọc sức. Hành giả sống trong cuộc đời, hòa nhập với cuộc đời, đem lợi ích cho đời nhưng “đối cảnh vô tâm”. Đây chính là lối sống “hòa quang hồng trần” tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên.
       “Cư trần lạc đạo phú” trở thành hệ tư tưởng chính cho thiền phái Trúc Lâm hoạt động trong bối cảnh lịch sử nước ta luôn đối diện với giặc ngoại xâm. Theo Đoàn Thị Thu Vân trong bài Tuệ Trung Thượng Sĩ Và Thiền Phong Đời Trần thì tinh thần bài kệ cũng là tôn chỉ của Sơ tổ và là tư tưởng nhất quán của Thiền phái được thể hiện qua bốn điểm : “ 1. Hãy nên sống hòa mình với đời, không câu chấp. 2. Hành động tùy duyên, tức là làm việc cần làm, đúng lúc phải làm và không trái quy luật tự nhiên. 3. Tự tin vào mình, trở về khơi dậy tiềm lực của chính mình, không tìm cầu tha lực. 4. Không câu nệ vào bất cứ cái gì, dù thiền hay Phật”.
2. Con người nhập thế ( tích cực xây dựng an lành cho chúng sanh bằng cách phục vụ đất nước dân tộc và những người có ân nghĩa đối với cuộc sống mình) :
         Hình ảnh con người nhập thế là một nét đặc trưng nhất của Phật giáo thời đại Lý - Trần. Thế nhưng truyền thống nhập thế này đã có mặt từ thời Đức Phật. Thế Tôn vẫn thường nhắc nhở các vị Tỳ kheo : hãy du hành vì lợi ích số đông, vì lợi ích của chư thiên và loài người. Cả cuộc đời đức Phật đi khắp đó đây thuyết pháp độ sanh, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho tha nhân. Tinh thần này đã được truyền thừa mãi đến muôn đời sau khi mà đạo Phật tồn tại ở thế gian này. Các vị Thiền sư Việt Nam nói chung, Phật giáo trong thời đại Lý – Trần nói riêng đã tiếp nhận tinh thần ấy một cách triệt để. Các ngài không chỉ lấy tông chỉ : “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” (kinh Viên Giác) ứng dụng trong quá trình tu tập mà biết phát huy tinh thần ấy thành tinh thần nhập thế tích cực, phù hợp với tình hình xã hội, đất nước  lúc bấy giờ. Có thể nói rằng tinh thần nhập thế của Phật giáo được phát huy cao nhất trong thời đại Lý trần.
        Con người thời đại Lý - Trần đã được những nhà lãnh đạo và tầng lớp trí thức trang bị tinh thần vô ngã. Với tinh thần ấy con người không hề khiếp sợ điều gì, kể cả cái chết, bởi đã phó thác thân mình cho sinh tử chuyển vần, “sanh như mặc áo, tử như cởi áo”, có gì đáng để bận tâm đâu, điều còn lại là sống sao cho đúng, cho có ý nghĩa. Vì vậy khi cần phải chống giặc cứu nước, họ sẵn sàng xả thân, coi cái chết nhẹ tợ mảy lông. Đã không sợ chết nên không bao giờ đầu hàng dù địch mạnh hơn ta ngàn lần. Nhờ vô ngã con người mới hành động vô tư, đặt quyền lợi của dân của nước lên trên quyền lợi cá nhân. Tinh thần vô ngã này khiến họ tự tin vào nền độc lập tự chủ nước nhà, họ tin tưởng hơn vào thắng lợi vẻ vang của đất nước, lòng tin là động lực mạnh mẽ thúc đẩy họ tham gia vào việc : giữ vững quyền tự chủ dân tôc, xây dựng hòa bình đất nước. Như lời nhận xét trong sách khảo sát đặc trưngnghệ thuật của thơ thiền Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XIV CỦA Đoàn Thu Vân như sau : “ Nhờ bản lĩnh tự tin này mà con người Đại Việt thời đó đã không sợ địch, dù địch lớn mạnh hơn mình nhiều lần và có bề dày chinh phục Á-Âu đáng nể sợ …”. Không chỉ chế phục được sự khiếp sợ, quân dân ta thời Lý Trần còn xóa nhòa được mặc cảm về một đất nước nhỏ bé vừa thoát khỏi ách đô hộ. Tuy là một nước còn non trẻ nhưng đã có sự vững chãi về tư tưởng và đường hướng xây dựng đất nước tự chủ độc lập.
       Tinh thần vô ngã còn tạo cho con người lòng vị tha-một yếu tố tối cần thiết đối với những người lãnh đạo muốn đem bình an, hòa bình thịnh trị đến cho toàn dân. Với tinh thần vô ngã, con người dễ dàng nhìn thấy “chúng sanh dữ Phật đồng”, một thể vô ngã trùm khắp thế giới chẳng còn chi ghét thương, chẳng còn chi sợ hãi, chẳng còn chi để nắm giữ nên họ có thể xả thân để xây dựng và bảo vệ non sông đất nước.
2. 1. Trong chiến tranh
        Chính vì đã được trang bị tinh thần vô ngã, vị tha đi mà các vua Phật tử thời Lý Trần, những người trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến đã thành công trong công cuộc bảo vệ đất nước, chống giặc ngoại xâm. Khi quân Tống và Nguyên Mông xâm lược nước ta, có hai giải pháp đặt ra cho các vua thời Lý Trần nhưng chỉ chọn được một : đầu hàng và để lại tiếng nhơ muôn đời hoặc phải đánh trả quyết liệt và quyết thắng. Đánh trả quyết thắng là giải pháp mà các vị vua thời Lý -Trần đã chọn lựa. Và khi đã chọn giải pháp này, họ đã thực hiện nó một cách triệt để, thống nhất tư tưởng từ vua quan đến dân  trong một kế hoặc phải đánh thắng địch dù hi sinh xương máu. Chính vì sự quyết tâm này mà vua, quan, dân thời Lý -Trần đã lăn xả vào cái chết để dành lại sự sống cho dân tộc, bảo vệ sự tồn vong của đất nước. [17] Họ, những vị Thiền sư, những nhà vua kiêm Thiền sư, những nhà Phật học thời Lý -Trần là những chứng minh hùng hồn nhất, đó là một Trần Thái Tông-một vị vua anh minh khai sáng nhà Trần, cũng là một vị Thiền gia ngộ đạo, đó chính là một Tuệ Trung Thượng Sĩ- một con người siêu thoát có những hành trạng khác thường, đó cũng là một Trần Nhân Tông- một vị vua có một không hai trong lịch sử Việt Nam, làm vua nhưng từ bỏ ngôi vị xuất gia hành đạo. Và còn rất nhiều rất nhiều những con người nổi bât khác như Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, … tất cả họ đã viết lên trang sử vẻ vang nhất trong lịch sử Việt Nam.
        Trần Thái Tông ngồi trên ngôi báu không phải để hưởng phú quý, đắm mình trong thanh sắc hoan lạc. Trái lại, lúc nào vua cũng ý thức trách nhiệm của một vị nguyên thủ quốc gia. Khi đất nước cần, vua đích thân chiến đấu, can đảm xông pha giữa lằn tên mũi đạn, đối mặt với quân thù, chứng tỏ bản lĩnh của một vị vua dũng cảm sáng suốt : “Tháng 10 mùa Đông năm 1241, người Tống sang cướp phá biên giới, vua sai tướng Phạm Kính Ân đem quân đánh tan quân giặc. Nhân đó, muốn biết tình hình quân địch, vua cải trang thân hành dẫn quân tiến sâu vào tận châu Khâm, châu Liêm, ban đầu người châu ấy bỏ chạy, sau họ mới biết, liền giăng xích sắt giữa dòng sông để ngăn đường thủy. Vua bèn sai quân nhổ vài chiếc cọc sắt đem về” (Việt Sử Thông Giám Cương Mục Chính Biên VI, 21). Sử còn chép : “Tháng 12 năm Đinh Tị 1257, quân Mông Cổ xâm phạm địa phận sông Thao, vua tự làm tướng đem quân chống cự” (Sđd).  [18]
        Song song với Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông đã đoàn kết được toàn dân, lãnh đạo tài tình hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược, đạt được thắng lợi vẻ vang, viết nên trang sử hào hùng dân tộc : “Những khi giặc Nguyên sang quấy rối, Ngài phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ tình đoàn kết quân dân, Ngài đã hai lần (1285 và 1288) đuổi được quân Nguyên, giữ gìn trọn vẹn đất nước. Dưới triều đai Ngài, hai cuộc hội nghị nổi tiếng được ghi vào sử sách : hội nghị tướng lãnh Bình Than, hội nghị những bô lão trong cả nước ở Diên Hồng để bàn mưu kế, tỏ quyết tâm chống giặc”. [19]
2. 2. Trong hòa bình
        Trong bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam, Trần Thái Tông ghi lại lời khuyên của quốc sư Viên Chứng đối với vua, khi vua bỏ ngôi lên núi cầu Phật : “Phàm người làm vua, lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy lòng của thiên hạ làm lòng của mình”. [20] Lời khuyên ấy thể hiện tinh thần nhập thế tích cực của con người Đại Việt thời Lý – Trần, phần nào bộc lộ lòng yêu nước, yêu dân tộc. Vâng lời chỉ dạy của Quốc sư, Thái Tông đã về lại ngôi vua làm tròn sứ mệnh mà đất nước dân tộc giao phó. Nhà vua đã từ giả Yên Tử, từ giả Quốc sư để trở về đời để hành đạo. Qua mấy mươi năm nhà vua đã : “lấy thân mình làm người đưa đường cho thiên hạ”. Trong sách Văn Học Phật Giáo Thời Lý-Trần Diện Mạo Và Đặc Điểm, nhà nghiên cứu Nguyễn Công Lý nhận xét rằng : “Đó là tinh thần quên mình vì người. Đây là đức tính tốt đẹp của nhà Phật và cũng là một truyền thống cao cả của tinh thần Việt Nam, vừa yêu nước lại vừa nhân văn” [21]
       Trong Bài Tựa Kinh Kim Cương Tam Muội, Trần Thái Tông bộc bạch : “Trẩm, vin vào đức làm chủ đất nước, dựa vào pháp để cai trị dân. Lo nghĩ gian nan, quên cả sớm tối. việc tuy có hàng vạn, giờ rãnh lấy khoảng thừa, thêm việc quý giờ, học thêm tiến ích …”. Trần Thái Tông không phải là một vị vua bình thường như bao ông vua khác mà tuy Ngài hình thức là một ông vua nhưng bên trong ẩn chưa một tâm hồn giải thoát, vô ngã, vị tha. Những yếu tố này trang bị cho nhà vua một tình thương lớn với tha nhân, cụ thể ở đây là thần dân của mình. Chính vì lẽ đó vua lấy đức làm chủ đất nước , dựa vào pháp để cai trị dân, làm việc quên cả sớm tối, lại không quên tranh thủ thời giờ tham thiền học đạo, sám hối tội căn. Trong Việt Giáo Thông Khảo Tổng Luận có đoạn chép rằng : “ Trần Thái Tông Ứng mệnh trời trao cho, nhận Chiêu Hoàng nhường ngôi, có đức nhân hậu, có tính giản dị chắc chắn, đánh giặc yên dân, mở khoa thi lấy người giỏi. Tể tướng thì chọn người tôn thất hiền năng, triều điển thì định ra lễ nghi hình luật, chế độ nhà trần do đấy hưng thịnh” [22]
       Nếu như Trần Thái Tông là một vị vua tài ba đức độ, đem tinh thần vô ngã vi tha của đạo Phật vào đời để trị nước an dân, đánh đuổi giặc ngoại xâm thì Trần Nhân Tông là một vì  vua lỗi lạc không thua kém. Sau khi đất nước sạch bóng quân thù, nhà vua đã bắt tay vào việc củng cố và xây dựng đất nước. Một mặt vua ngoại giao để đối phó với ý đồ xâm lược của triều đình nhà Nguyên, đồng thời tiến hành thực hiện một số biện pháp để xây dựng lại đất nước, sau khi đã bị chiến tranh tàn phá nhằm củng cố tiềm lực quốc gia cho mọi biến động có thể xảy ra.
        Biện pháp thứ nhất là công bố đại xá cho cả nước và tha tô thuế tạp dịch cho những vùng đã trải qua chiến tranh, còn miễn và giảm cho các vùng khác như ĐVSKTT 5 tờ 55a1-3 viết: “Tháng tư mùa hạ (năm Mậu Tý, 1288) Thượng hoàng ngự ở hành lang thị vệ (vì cung điện thời bấy giờ bị giặc đốt hết) đại xá thiên hạ. Phàm những nơi nào từng bị binh lửa cướp phá thì miễn tô thuế và tạp dịch toàn phần, còn chỗ khác thì tha hoặc miễn theo thứ bậc khác nhau”. Rõ ràng đất nước đã kinh qua chiến tranh và bây giờ phải tập trung mọi nỗ lực để xây dựng lại những gì đã bị quân thù đốt phá. Miễn giảm tô thuế và tạp dịch là nhằm mục đích đó. Và biện pháp này thực hiện mấy ngày sau khi vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng trở về kinh đô Thăng Long hôm 27 tháng 3 năm Mậu Tý (1288). Cho nên, sau đó thời tiết bất thuận lợi liên tiếp như “nắng mãi từ mùa hạ tháng 6 đến mùa đông tháng 10” của năm 1289, rồi “tháng 4 mùa hạ sông Tô Lịch chảy ngược (sông này có mưa lớn thì nước to lên mà chảy ngược)” của năm 1290, qua năm 1291 thì đói to “ngoài đường nhiều người chết đói”, vua ra lệnh “phát thóc không để chẩn cấp cho dân nghèo và miễn thuế nhân đinh” như ĐVSKTT 5 tờ 58b4, 59a5-60a7 và 59b9 -60a1 đã chép. Thế mà khi Lương Tăng và Trần Phu đến nước ta vào năm 1293, chúng đã thấy một đất nước Đại Việt giàu đẹp với một nền nông nghiệp phát triển, thương mại phồn vinh và công nghiệp sắc sảo.
        Để có một nền nông nghiệp và thương nghiệp phát triển phồn vinh như thế chỉ sau bốn năm chiến tranh chấm dứt, nền công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Đại Việt cũng phải phát triển song song. Nền công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp này trước mắt có nhiệm vụ xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Bao nhiêu dinh thự, thành quách, đình chùa và nhà dân bị quân thù đốt phá. Bao nhiêu cầu cống, đường sá bị giật sập cuốc bỏ vì yêu cầu chiến tranh. Thế mà khi Trần Phu đến kinh đô Thăng Long, thấy chung quanh kinh thành đã có bốn chiếc cầu bắc ngang. Trần Phu viết trong An Nam tức sự: “Giao Châu không có thành quách, tường đất thấp tè mà thôi. Phía tây có châu Hoa Phúc có sông vây quanh, phía trước có bốn cầu là Mạc Kiều, Tây Dương, Ma Tha, Lão Biên để thông việc ra vào”. Xa hơn kinh thành một chút, Trần Phu lại viết: “Từ sứ quán đi sáu mươi dặm thì qua cầu An Hoá, lại một dặm nữa thì đến phía bắc cầu Thanh Hóa. Trên cầu này có nhà mười chín gian”.
       Sự kiện đây chứng tỏ một đường lối chính trị nhân đạo để ổn định đất nước sau chiến tranh, làm cho mọi người cảm thấy yên tâm lao động xây dựng đất nước. Không chỉ có thế. Nó còn thể hiện tấm lòng độ lượng của bản thân những người lãnh đạo quốc gia đối với một bộ phận dân tộc có lỡ lầm.Thêm vào đó, phải tổ chức lại bộ máy hành chính nhà nước, mà đã bị quân sự hóa để phục vụ chiến tranh. Mùa xuân tháng 2 năm Canh Dần (1290), vua Trần Nhân Tông theo ĐVSKTT 5 tờ 58a5 đã “chọn quan văn chia đi cai trị các lộ”, để thực hiện việc cai trị theo pháp luật , từ đó tạo điều kiện sản xuất tốt cho người dân.  [23]
 
KẾT LUẬN :
 
        Nhìn chung, sở dĩ thời đại Lý - Trần là thời đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam với những chiến công vang dội chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, với những thành tựu về chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế như vậy là do thời đại ấy đã sản sinh những con người Đại Việt kiệt xuất có một không hai trong lịch sử nước nhà. Bởi lẽ con người là nhân tố, là chủ thể tạo nên lịch sử, thời đại huy hoàng bởi con người hào hùng, thời đại suy tàn bởi con người đánh mất mình trong xa hoa trụy lạc.
        Chúng ta tự hỏi những nguyên nhân nào đã tạo nên thời đại Lý - Trần và con người đặc trưng thời Lý - Trần như thế, phải chăng là do tư tưởng yêu nước và tinh thần dân tộc ? Tư tưởng yêu nước và tinh thần dân tộc hiển nhiên là yếu tố quan trọng hàng đầu, nhưng chưa phải là tất cả, mà yếu tố tạo nên thời đại và con người đặc trưng thời Lý – Trần chính là vào thời ấy đạo Phật là quốc giáo. Bởi vì các nhà lãnh đạo quốc gia thời bấy giờ vừa giữ vai trò một nhà lãnh đạo quốc gia, vừa có tư thế một nhà lãnh tụ Phật giáo. Phần lớn họ là những bậc anh hùng dân tộc, vừa có tài cai trị, vừa giỏi chiến lược, vừa có kiến thức quảng bác, vừa có tài kinh bang tế thế. Bên cạnh đó, họ cũng chính là những nhà Phật học uyên thâm đắc đạo như Vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ . Họ vừa có tư cách một Bồ tát tại gia, quên mình phụng sự chúng sanh, vừa có phong độ của một Thiền sư siêu phàm thoát tục, cho dù sống trong vàng son nhung lụa mà vẫn không bị phù hoa cám dỗ. Khi đất nước cần các Ngài có thể cầm gươm lên ngựa, đi trước ba quân, xông pha giữa lằn tên mũi đạn, cứu đất nước thoát khỏi ách ngoại xâm; khi đất nước hòa bình các Ngài dùng đức trị dân, đã có những đường hướng, những chính sách đúng đắn xây dựng đất nước như pháp luật nghiêm minh, chính trị ổn định, võ bị vững chắc, văn học được khởi sắc, giáo dục được cũng cố, kinh tế phát triển… Phật giáo đời Lý – Trần quả thật mang tinh thần nhập thế năng động, đáp ứng những nhu cầu bức bách của đất nước, đem đạo hòa vào đời, làm cho đời thêm tươi sáng. Chính những nguyên nhân này đã khiến cho thời đại Lý - Trần là thời đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam.
      Mỗi khi độc lại trang sử hào hùng của của thời đại vàng son lịch sử ấy, lòng chúng ta không khỏi dâng lên một cảm xúc khó tả. Hình ảnh những con người Đại Viêt đặc trưng đời Lý – Trần để lại cho chúng ta ấn tượng khó phai. Chúng ta nghĩ cho dù khó có thể có được một  triều đại vàng son Lý – Trần lần thứ hai trong lịch sử Việt Nam, nhưng nếu trong thời đại này chúng ta chỉ làm được một phần nhỏ của thời đại ấy thôi thì đạo Phật cũng rất tích cực trong sứ mệnh nhập thế, hòa ánh đạo vào cuộc đời, và nếu những người lãnh đạo quốc gia biết ứng dụng đạo phật vào đường lối xây dựng đất nước thì đất nước chắc chắn ngày một khởi sắc hơn.
 Tuệ Đạt


[1]Quảng Thảo. Chân Dung Con Người Trong Thơ Thiền Lý-Trần, Nxb Tôn Giáo, 2007, tr. 8-9
[2] Sđd, tr. 43
[3] Nguyễn Công Lý. Văn Học Phật Giáo Thời Lý-Trần Diện Mạo Và Đặc Điểm, Nxb Đại Học Quốc Gia Tp. HCM, tr.13
 
[4] Nguyễn Công Lý, sđd, tr. 18  
[5] Sđd, tr. 187  
[6]Sđd, tr.266-268
[7]Sa môn Thích Thanh Kiểm (dịch), Khóa Hư Lục, Hà Nội : Nxb Tôn Giáo, 2003, tr. 16
[8] Viện Văn Học. Thơ Văn Lý Trần, tập 2, quyển thượng, Hà Nội : KHXH, tr. 681 
[9] Sa môn Thích Thanh Kiểm (dịch), sđd, tr. 24
 
[10] Nguyễn Lang. Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, Hà Nội : Nxb Văn Học, 1994, tr. 344
[11]HT. Thích Thanh Từ, Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải, Thiền Viện Thường Chiếu, 1997, tr. 10
[12] Sđd, tr. 228
 
[13] Tham khảo bài viết Giá Trị Tư Tưởng Thiền Học Bài Phật Tâm Ca Của Tuệ Trung Thượng Sĩ của Thích Phước Đạt, tr. 3
[14]HT. Thích Thanh Từ, sđd, tr. 235
[15] xem tập san Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, số 34- tháng 3-2006,tr. 17   
[16] Nguyễn Lang, sđd, tr. 327
 
[17]xem Quảng Thảo. Chân Dung Con Người Trong Thơ Thiền Lý Trần, Nxb tôn Giáo, 2007, tr. 59
[18]qungduc.com
[19] Thích Thanh Từ, sđd, tr. 26
 
[20]HT. Thích Thanh Kiểm, sđd, tr. 60
      [21] Nguyễn Công Lý, Văn Học Phật Giáo Thời Lý-Trần Diện Mạo Và Đặc Điểm, Nxb Đại Học Quốc Gia Tp. HCM, tr. 222 
      [22] Tạp Chí Nghiên Cứu Phật Học, số 4-2007, tr. 30
 
[23]theo quangduc.com (TS. Lê Mạnh Thát. Trần Nhân Tông Con Người Và Tác Phẩm, Nxb Tp. HCM, 1999 )
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này