Thời gian thắm thoát trôi nhanh quá, mới đây mà đã gần đến ngày Tiểu tường của Thầy rồi. Giờ này, tôi ngồi đây hồi tưởng lại những kỷ niệm mà Thầy trò gặp nhau trong thâm tình đạo vị và sống chung dưới mái chùa Xuân Thọ thân thương bé nhỏ.
Tôi cũng không biết phải bắt đầu từ đâu? Nhớ lại ngày đầu tiên Thầy dẫn tôi vào Tổ đình Phật Bửu, quận 3 để cư trú đi học. Trước khi vào Sài Gòn Thầy có dạy tôi: “con phải nhớ lấy ba điều này để làm hành trang sống ở xứ người. Đó là: “Tài, kỵ nhất là bộc lộ - Khí, kỵ nhất là hung hăng - Tâm, kỵ nhất là hẹp hòi”. Và Thầy còn dạy: “Mình ăn cây nào phải rào cây nấy”. Thầy nói: “So ra thì Quảng Lợi cũng có phước, được ở với Hòa thượng Phật Bửu, ngài là người rất hiền từ, đức độ, luôn quan tâm và tạo điều kiện cho chúng Tăng tu học”.
Sau khi tốt nghiệp Trung Cấp Phật Học Bình Thuận, tôi không thi vào Học Viện Phật giáo mà nộp hồ sơ thi vào trường đại học đời (ngành Công Nghệ Thông Tin). Tôi rất lo sợ khi Thầy biết được sẽ la rầy và buồn tôi, tại sao tôi không thi vào Học Viện Phật giáo. Tôi không ngờ được, là khi tôi đọc báo Tuổi Trẻ thấy có tên mình được trúng tuyển vào đại học, tôi rất vui mừng - nhưng tôi vui chỉ có một mà sư phụ lại vui đến hai. Nhìn Thầy, tôi vô cùng xúc động, những suy nghĩ lo sợ trước đây đều tan biến và thay vào đó là sự kính quý Thầy. Lúc đó, tôi ước gì mình được đậu vào Học Viện Phật giáo thì Thầy mình sẽ vui hơn nữa, (vì thế hệ của Thầy chỉ biết chuyên tu và chỉ nghiêng về nội điển mà thôi). Thầy đã dành dụm số tiền hiếm hoi và kêu gọi Phật tử Xuân Thọ gửi cho tôi một ít tiền để hàng tháng mua sách vở học.
Mỗi tháng tôi qua Linh Quang Tịnh Xá thăm Thầy và Thầy đã làm tôi rất xúc động đến rơi nước mắt, đó là mỗi lần qua Linh Quang, tôi đều thấy có một mâm cơm để sẵn.Thầy bảo: “Con ăn cơm đi!”. Tôi hỏi: “Thầy dùng cơm chưa?” - Thầy trả lời: “Dùng rồi, con ăn đi!”. Thế là, tôi ăn một cách ngon lành, sạch trơn hết luôn. Trời ơi! Tôi đâu biết đó là phần cơm mà thị giả dọn cho Thầy, Thầy nhịn cho tôi ăn. Từ đó, tôi không dám qua thăm Thầy vào giờ cơm chiều nữa, vì sợ Thầy nhịn đói và làm phiền đến người khác. Có lần, đợi đến sáu giờ rưỡi chiều tôi mới qua thăm Thầy nhưng khi tôi đến thì thấy mâm cơm vẫn còn nguyên. Thầy hỏi tôi: “Sao giờ này con mới qua? - Thầy đợi con từ chiều đến giờ để qua ăn cơm đó!”. Tôi nói: “Sao Thầy không dùng cho nóng mà đợi con? Con đã ăn cơm rồi”. Vậy mà Thầy vẫn lấy chén sớt ra phân nửa cho tôi còn Thầy dùng phân nửa. Tình thương Thầy dành cho tôi như trời cao biển rộng, tôi cảm thấy lòng mình thật ấm áp, thấy mình hạnh phúc vô biên. Thầy đã cho tôi một sức mạnh để vượt qua phong ba bảo táp của cuộc đời, Thầy đã cho tôi niềm tin và sức mạnh để đi tới. Đứng bên cạnh Thầy tôi thấy mình thật nhỏ bé và muốn được sự che chở, cưng chiều của Thầy.
Kính bạch Giác linh Thầy,
Những ngày Thầy còn sống, con chưa kịp đền đáp công ơn và trả hiếu cho Thầy, vì con còn phải vân du trên bước đường học vấn. Nghe Thầy bệnh, con về thăm Thầy. Con cũng không hay biết là Thầy đã mang chứng bịnh ngặt nghèo (ung thư bao tử), cứ nghĩ là Thầy ăn không được nên bị kiệt sức thôi. Đến khi Hòa thượng Phật Bửu về thăm và đưa Thầy vào bệnh viện Nguyễn Trãi để trị bịnh, lúc đó con mới biết Thầy mang trọng bịnh không thể nào qua khỏi được. Khi nghe tin này, con có cảm giác không gian như ngừng chuyển động, lòng con lúc này mới thật sự lo sợ, cái sợ này không phải như cái sợ của lần trước mà là cái sợ của sanh ly tử biệt, cái sợ của chim non mất mẹ.
Tôi nghe bác sĩ nói bịnh ung thư bao tử là nó đau nhức nhất trong tất cả các loại bịnh ung thư - mà sao thấy Thầy vẫn lạc quan, ung dung, tự tại làm ai nấy đều rất ngạc nhiên. Tôi nghe Thầy nói: “nó đau lắm chứ, chỉ có người tu hành mới chịu đựng nỗi thôi, chứ còn người bình thường không chịu nỗi đâu”. Hòa thượng Phật Bửu nói: “còn nước còn tát”. Đến chiều ngày mùng 7 tháng 2 Ất Dậu, Thầy hấp hối, tôi mới gọi điện cho Hòa thượng Phật Bửu để thỉnh ý xin đưa Thầy về chùa. Hòa thượng đồng ý và ngài đến bệnh viện đưa Thầy lên xe về Phan Thiết.
Chiếc xe cứu thương của bệnh viện Chợ Rẫy đưa Thầy về đến Ông Đồn thì xe ghé lại đổ xăng, lúc đó trời vừa chạng vạng. Trên xe mọi người đều xuống xe để đi vệ sinh, chỉ còn mình tôi ngồi lại với Thầy. Bỗng nhiên lúc đó có một em bé độ chừng tám tuổi, đứng bên hông xe nhìn Thầy bằng cặp mắt kính cẩn. Tôi nhìn thấy em với hai mắt đỏ hoe và khóc không thành tiếng, trên tay em có cầm một xấp vé số. Tôi nghĩ thầm đứa bé này con nhà ai mà lễ phép quá, tôi tính xuống xe để cho tiền em nhưng lúc đó sư phụ nắm chặt tay tôi nên không thể đi được. Đến khi có sư Minh Trí trở lại tôi nhờ sư trông Thầy giùm. Tôi vừa xuống xe, chưa kịp lấy tiền cho - thì thấy em đã bỏ đi. Tôi gọi: “Con ơi, đứng lại cho Thầy hỏi chuyện!”. Tôi càng gọi, em càng bỏ chạy, em đã băng qua đường … rồi biến đâu mất. Lúc đó, tôi vừa thắc mắc, vừa lo sợ, không biết đây là cái điềm gì mà kỳ lạ quá, tôi chưa từng gặp bao giờ? – Tôi nghĩ, nếu em là một đứa bé bán vé số bình thường thì khi gọi lại cho tiền, nó sẽ chạy đến liền, nếu nó không nhận tiền của tôi thì nó cũng mời tôi mua vé số. - Một đứa bé tám tuổi mà làm gì biết rơi lệ cảm với một người hoàn toàn xa lạ? – Và, tại sao nó mới vừa băng qua bên kia đường thì đã biến đi đâu mất? - Tôi ngồi trên xe mà lòng cứ bồn chồn thắc mắc mãi. Tôi kể lại chuyện này cho chú tài xế nghe, chú nói: “Từ xưa đến giờ con cũng chưa gặp bao giờ”. Câu chuyện này mãi đến bây giờ, tôi vẫn còn thắc mắc chưa hiểu được. Chắc là tôi phải nhờ quý vị thiện tri thức, độc giả giải thích giùm tôi.
Khi về đến chùa, Thầy khỏe lại và rất tỉnh táo, Thầy dặn dò các đệ tử chúng tôi, sau khi Thầy tịch, các con phải đoàn kết, một lòng chung lo Phật sự, lo cho đạo tràng Xuân Thọ này, ngày một phát triển đi lên. Trước hai ngày Thầy viên tịch, Thầy có kể lại những điềm chiêm bao mà Thầy mới vừa thấy, đó là hai mặt trời ở Tây Nam bán cầu xoay và chiếu vào người Thầy, hai mặt trời này rất mát và có rất nhiều màu xanh, đỏ, vàng, tím … giống như hào quang của đức Phật A Di Đà ở cõi Tây Phương Cực Lạc vậy. Thầy nói: “Thầy mừng lắm, từ xưa đến giờ Thầy chưa từng nhìn được thấy bao giờ, Thầy tin rằng chắc chán Thầy sẽ được vãng sanh. Thầy khuyên các con phải cố gắng niệm Phật tu hành, phải tin có thế giới Cực Lạc”. Thầy còn căn dặn: “các con không được truyền tin này ra ngoài nhiều vì sẽ có người không tin hoặc nghi ngờ về thế giới Cực Lạc rồi hủy báng mà mang tội đó”.
Đến 4 giờ 30 sáng ngày Rằm tháng 2 Ất Dậu, tôi lau người và thay hậu phục cho Thầy. Thầy tịch cách đó 16 giờ rồi mà người Thầy vẫn còn mềm mại và ấm áp, gương mặt vẫn còn sáng ngời như đang nằm ngủ vậy. Từ trong nhục thân của Thầy thoảng ra một mùi thơm, mùi thơm này không phải mùi của nước hoa, cũng không phải mùi của nhang trầm mà mùi thơm kỳ diệu lắm. Có phải chăng:
Hương các loại hoa thơm
Không ngược bay chiều gió
Nhưng hương người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay
Chỉ có bậc chân nhân
Tỏa khắp mọi phương trời.
(Kinh Pháp Cú - Phẩm Hoa)
Tôi đã chứng kiến và cảm nhận được sự ra đi của Thầy, hình ảnh thoát tục, siêu phàm của Thầy đã làm cho tôi vững chắc được niềm tin và xác định được đúng con đường mình đang đi tới.
Thầy ơi! Hôm nay, con đã đậu vào Học viện Phật giáo rồi, Thầy có vui không? Xung quanh con, ai cũng có Thầy Tổ để chúc tụng vui mừng - Còn con thì … tìm Thầy đâu chẳng thấy…!!
(Kính dâng lên người Thầy khả kính nhân mùa Vu Lan Báo hiếu về)
Mạnh Đông - 2006
Đệ tử Thích Quảng Lợi