Ai có thể giúp Kiều?
Chúng ta phải tìm cách độ những người đang và đã sa vào hoàn cảnh như ThúyKiều. Những người đang ăn chơi, tàn hoại thân thể và tâm hồn mình cũng cầnngười đến cảm hóa. Trong Kinh có câu: 'Dâm phòng, tửu tứ vô vi thanhtịnh đạo tràng.' Quán rượu và nhà chứa đều là những đạo tràng mìnhphải đi vào để cứu độ. Phải biến những chỗ đó làm những đạo tràng thanhtịnh để hành đạo chứ không nên nhắm mắt lại, nói rằng những chỗ đó khôngcó. Nhắm mắt lại thì không chuyển hóa được. Không độ được. Không độ đượcmột Mã Giám Sinh hay một Tú Bà thì có biết bao Thúy Kiều sẽ rơi vào nhữngổ nhện đó. Giải tán được một ổ nhện là cứu được không biết bao nhiêu nhữngcô thiếu nữ. Ở Bangkok, Manila hay Sài Gòn bây giờ có rất nhiều những ổnhện như vậy. Đây là chuyện xảy ra ở tất cả các thành phố lớn. Các cô gáimười ba, mười bốn ở miền quê lên thành phố bán bánh nuôi em có thể bị lọtvào những ổ đó rất dễ dàng. Ban đầu họ chỉ cho vài chục đồng hay một chỗở, sau đó họ dụ: 'Con làm cái nghề đó thì sẽ nhiều tiền gởi về nhà. Làmnghề này một ngày thì được họ cho mấy trăm, mấy ngàn đồng, thấy khỏe quá.Rồi mới lún từ từ vào sâu. Ở Sài Gòn cũng có những trẻ em bụi đời, những'người Việt gốc me' (không có nhà, ngủ dưới gốc cây me.) Nếu sa vào ổ nhệnrồi thì muốn ra rất khó. Ngày xưa dưới thời ông Thiệu ông Kỳ có ngã tưQuốc Tế, ngã tư Chú Lía... ghê gớm lắm. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, vấnđề này còn to lớn hơn. Phải có kế hoạch, phải biết rõ tình trạng thì mớicó thể hành đạo ở những chỗ đó. Có khi nào các thầy, các sư cô nghĩ tớichuyện đi đến những chỗ ấy để hành đạo không? Nếu các thầy cứ ở chùa màthuyết Pháp thì tiếng Pháp của các thầy làm sao tới được những người đaukhổ như Thúy Kiều? Nếu quý vị muốn đem đạo Phật đi vào cuộc đời thì phảinghĩ đến đạo Bụt nhập thế, nghĩa là Phật giáo nhân gian. Ngày xưa sư GiácDuyên đã làm chuyện ấy.
Rất ngộ nghĩnh là Kiều đã tự tử, đã được bán cho một thương gia giàu có(Thúc Sinh), đã được một ông đại tướng (Từ Hải) cưới về, và đã đi tu nữa,vậy mà cũng không thoát ra được. Cô đã tìm mọi cách để thoát ra. Nhưng sốphận vẫn đưa cô về lầu xanh, làm vật chơi cho người khác. Rốt cuộc làchính một ni sư đã cứu Kiều và đem Kiều về nếp sống bình thường, cho Kiềucơ hội gặp lại cha mẹ và người yêu cũ.
Vớt người trầm luân, đó là công việc của một sư cô. Điều này đã xảy ratrong quá khứ. Hiện nay, những thanh niên Việt Nam đã không có hạnh phúcđi theo băng đảng ở Mỹ rất nhiều. Tình trạng này lan sang cả Canada và ÂuChâu. Các thầy, các cô có làm được gì để giúp những người ấy hay không?những bài thuyết pháp của quý vị có động tới được những thanh thiếu niênđó không? Trước khi là thanh niên du đãng thì họ cũng đã là những thanhniên bình thường. Các thầy đã giảng được cho các thanh niên bình thường ấychưa?
BỒ TÁT QUÁN TỰ TẠI
Khi đọc Kiều, nghe những đau khổ và chán chường như thế, ta khôngthấy dễ chịu. Chúng ta đi tìm sự thật. chúng ta phải có câu trả lời chotình trạng. Đây không phải chỉ là tình trạng ngày xưa, đây cũng là tìnhtrạng bây giờ. Khi giảng Tâm Kinh Bát Nhã, tôi cũng đem Tâm kinh vào xã hội ngày. Tôi nói rằng một em bé ở Bangkok bị dụ làm gái ănsương, chiều đi sáng về, trông thấy những cô nữ sinh áo trắng đi học, ngẫmlại thân mình thì tủi. Các cô gái nhà lành thật may mắn. Thân phận em làthân phận ô uế của một cô gái ăn sương. Em có mặc cảm mình là con gái bỏđi, còn những cô nữ sinh kia là những cô gái đáng sống. không ai có thểcứu em bé này ra khỏi mặc cảm ô nhục, dơ bẩn, ngoại trừ Bồ Tát Quán ThếÂm. Bồ Tát nói như thế này: "Con không dơ mà mấy cô kia cũng không sạch.Sở dĩ mà con như thế này là vì xã hội kia như thế kia (Thử hữu cố bỉhữu thử vô cố bỉ vô.) Xã hội kia được như vậy là vì có những người nhưcon. Con làm ra xã hội và xã hội làm ra con. Không phải chỉ có con mớichịu trách nhiệm về con mà cả xã hội kia cũng phải chịu trách nhiệm vềcon. Con đừng có mặc cảm con là người duy nhất chịu trách nhiệm. Tất cảnhững nhà giáo dục, kinh tế, chính trị trong xã hội đều chịu trách nhiệmvề con cả.' Đó là ý 'Không dơ cũng không sạch, Không thêm cũng khôngbớt' trong Tâm Kinh Bát Nhã. Nghe Đức Quan Thế Âm nói như vậythì ranh giới giữa dơ và sạch, bên này và bên kia mới được tháo sạch vàmặc cảm của các cô gái ăn sương lúc đó mới có thể được tiêu trừ. Đó làgiọt nước Cam Lộ mà chỉ có đạo Phật mới cung cấp được. Cái thấy bất nhịnày chúng ta ít tìm thấy trong các truyền thống tôn giáo khác. Cái này nhưthế này là vì cái kia như thế kia. 'Thân phận con, cả xã hội đều chịutrách nhiệm. Con đừng có mặc cảm tội lỗi. Nếu người ta sống đàng hoàng,biết lo cho tất cả thì con đã không đến nỗi như thế này đâu.' Em bé sẽkhóc và ôm lấy chân Đức Quan Thế Âm: 'Xin Ngài dạy cho con cách để thoátra khỏi'. Lúc ấy Đức Quan Thế Âm mới bắt đầu dạy cho em được. Chúng tacũng phải làm như thế. Ngày xưa ở Sài Gòn có các sư cô làm chuyện đó. Ngàynay cũng vậy.
Có một em bé ở nhà quê lên bán bánh. Người cô không cho em ở vì em khôngcó tên trong tờ khai gia đình. Em ngủ ngoài nghĩa địa. Sợ ma. Một bữa nọTú Bà lại nói: 'Nếu con chịu ngủ với người ta thì con sẽ có nhiều tiền.Con được một trăm thì cô chỉ giữ lại hai chục để trả tiền nhà, tiền nước.'Nhà chứa không chánh thức; công an, cán bộ biết, nhưng được lo lót thìcũng để cho yên. Một sư cô thấy em bé nhỏ xíu, mới mười sáu tuổi mà đứngngoài được kiếm khách. Sư cô kêu em lại nói chuyện. 'Thôi, Tú Bà biếtliều không sợ chứa chấp con thì cô cũng liều. Thay vì ở nhà Tú Bà thì convề ở chùa đi.' Cô cho em ở đậu và giúp em một xe bán bánh mì. Sư cônày hiện đang sống ở Sài Gòn, đã và đang làm những việc như vậy. Đừng nóirằng những chuyện đó là những chuyện quá khứ, những chuyện minh không làmđược. Đó là một trong những chuyện đang xảy ra.
Nếu sư cô nọ có thể giúp em bé kai thì sư cô cũng đã có thể giúp những embé khác. Ngoài sư cô cũng còn biết bao nhiêu những sư cô khác đang làmđược chuyện này. Đây không phải là chuyện lý thuyết. Sự thật ở Sài Gòn bâygiờ có những sư cô buổi sáng mở chùa cho trẻ con bụi đời vô học. Các cônói: 'Nếu các con chịu khó học được bốn tiếng đồng hồ thì trưa nay sẽ đượcăn cơm chay.' Giữ con nít ở trong chùa để các em khỏi ra được làm du đảnghay đào bới trong những đống rác. Ăn trưa xong các em có thể lăn ra ngủ. Ởlại học buổi chiều từ ba đến sáu giờ thì các em lại được ăn cơm chiều.Nhìn bề ngoài thấy giống như trẻ em mỗi ngày được cung cấp mấy giờ học vàhai bữa cơm. Kỳ thực kết quả lớn lắm! Các cô đã giữ được cho các em khỏisa vào những ổ nhện và khỏi trở thành những trẻ em du đảng. Cho một em ăntrưa chỉ tốn 25 cents thôi. Ở Tây phương, 25 cents thì mua gì được! Nhưngvào tay sư cô, 25 cents là một bữa ăn cho em bé. Bao nhiêu công việc nhưvậy. Rất đẹp, rất hay. Đạo Phật là như thế, không phải là đạo nói trêntrời dưới biển. Thúy Kiều bây giờ nhiều lắm. Có khắp nơi. Chỉ thương hạicho cô Thúy Kiều của cụ Nguyễn Du không thôi thì rất bất công. Cô này đãcó người thương rồi, đã có một sư cô tên Giác Duyên lo cho rồi. Còn biếtbao nhiêu Thúy Kiều nhỏ tuổi, dại dột hơn Thúy Kiều này đang ở khắp nơitrên quê hương mình. Đọc truyện Kiều với cái thấy này thì truyện Kiều trởthành ra Kinh. Ích lợi như đọc Kinh.
NỬA TỈNH NỬA CẢNH
Tú Bà đã hứa sẽ lo cho tương lai của Kiều và để Kiều dưỡng bệnh ở lầuNgưng Bích. Đây là những câu thơ đẹp tả cảnh quanh lầu Ngưng Bích; đồngthời nói lên tâm trạng nhớ thương của Thúy Kiều:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Núi xa, trăng gần. Những cồn cát màu vàng, những con đường chạy về nơi xatắp có màu hồng của Đất. Hình ảnh đẹp. Có tương phản (xa - gần, cát vàng -bụi hồng, cồn nọ - dặm kia) và có kếp hợp (ở chung). Có động (cát - bụi)và có tình (non - trăng). Hay một phần nữa là ở chỗ ngắt nhịp. Thay vàngắt ở chữ thứ tư như những câu tám thông thường trong lục bát (ví dụ: Cátvàng cồn nọ/ tấm trăng gần/ ở chung. Hơi thơ vì vậy khác thường, không đềuđều một điệu.
Tâm tình thương nhớ và khổ đau sẵn có xúc chạm với cảnh đẹp làm tâm trạngKiều càng thêm xao xuyến:
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya.
Nửa tình nửa cảnh mà chia tấm lòng.
Tâm con người không ở đó. Không thật sự có mặt cho cảnh trí trước mặt vàcũng không thực sự có mặt cho những tâm tư của mình.
Tưởng nhớ người yêu, băn khoăn vì lời thề chưa trọn:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,70
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Tưởng nhớ cha mẹ:
Xót người tựa cửa71 hômmai,
Quạt nồng ấp lạnh73 nhữngai đó giờ?
Sân lai73 cách mấy nắngmưa,
Có khi gốc tử74 đã vừangười ôm.
Người chị cả trong nhà nghĩ rằng mình đã không làm tròn được bổn phận củangười con lớn. Trông vời cố hương, nghĩ về thân phận. Không biết mình sẽđi về đâu trong tương lai:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu.
Buồn trông nội cỏ dàu dàu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh,
Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi.
Chung quanh những nước non người,
Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu.
Ngồi ngắm cảnh mà trong lòng thì buồn. Chữ buồn trông lặp qua lậplại đến bốn lần khiến cái buồn thêm vị sắt se, thấm thía. Tâm người ngắmcảnh tràn vào cảnh, khoác lên cảnh vài sắc thái xa xa, man mác, dàudàu, bàng bạc trong những câu thơ tài tình.