|
VỌNG TÍNH
VỌNG TÍNH
Tính chất hư vọng, không có mà bày đặt thành có. Vd. đi đêm thấy bóng cây. Tưởng là ma. Thấy giây thừng cho là rắn. Vọng tính là một trong ba tính được Tông Duy Thức thành lập:
Hai tính kia là Giả tính và Thực tính. Tính hư giả nghĩa là không có thực thể, chứ không phải là không có gì hết. Vd. cái nhà, cái bàn đều do nhiều nhân duyên cấu thành, cho nên không có thực thể. Còn Thực tính là tính chân thực.
Vọng tính cũng được gọi là biến kế sở chấp tính: nghĩa là do tưởng tượng, bày đặt ra mà có. Kế là so đo, bày đặt. Biến là khắp nơi. Vd. thấy cái thân năm uẩn này, chúng sinh khắp nơi đều so đo, bày đặt ra có “ngã”, có cái ta thường còn ở trong đó. Giả tính cũng được gọi là y tha khởi tính: nghĩa là do nhân duyên hòa hợp mà thành chứ không phải là tánh tự nó có.
Thực tính còn được gọi là viên thành thực tính, nghĩa là tồn tại thật sự, đầy đủ.
Sách Duy Thức lại còn mở rộng ba khái niệm trên mà lập ra ba vô tính:
1. Tướng vô tánh: như chấp cái giây thừng thấy ban đêm là rắn. Cái giây ấy có tướng là con rắn, nhưng không phải là rắn.
2. Sanh vô tánh: do nhân duyên hòa hợp mà sinh có cái bàn, nhưng cái bàn đó không có thực thể. Tách rời nhân duyên hình thành cái bàn, thì cũng không có cái bàn.
3. Thắng nghĩa vô tinh: Chân Như, Niết Bàn là chân thực, tồn tại tự nó. Không có nhân duyên nào sinh ra nó, mà tự nó tồn tại như vậy, sự tồn tại của nó khó có thể nghĩ bàn, và tư duy được, đối với người phàm, chưa giác ngộ.
|