Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
04:30, Saturday.May 23 2026
Từ văn hóa – văn học, góp phần xác lập hệ thống Phạm trù triết học Việt Nam Cổ Trung Đại
 
Là một đất nước có nền văn hóa lâu đời, đất nước Việt Nam không thể không có một bản lĩnh tư tưởng – triết học. Dĩ nhiên đó là những thành tựu về triết học còn rời rạc, chưa thành hệ thống rạch ròi, hoàn chỉnh.
1. Đặt vấn đề

Là một đất nước có nền văn hóa lâu đời, đất nước Việt Nam không thể không có một bản lĩnh tư tưởng – triết học. Dĩ nhiên đó là những thành tựu về triết học còn rời rạc, chưa thành hệ thống rạch ròi, hoàn chỉnh. Gần đây, khoa học xã hội đã có những thành tựu liên quan được công bố quanh: “Các phạm trù văn hóa Trung cổ”, “Hệ thống quan niệm văn học Trung Quốc”, “Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học Trungg đại Việt Nam”… tại sao ta lại không xác lập hệ thống triết học Cổ Trung Đại Việt Nam.

2. Phương thức tiếp cận
Trước hết, phương thức tiếp cận vấn đề phạm trù triết học Việt Nam Cổ trung đại không tách rời khỏi hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội VIệt nam. Thao tác tiếp cận cần lưu ý giới hạn, chọn lọc, khu biệt những nguyên tắc vận dụng, chỉ tập trung vào những nguyên tắc có ý nghĩa, nằm ở tính hợp lý.
Ngững nguồn thông tin được thu thập xuất phát từ khoa học khảo cổ, văn hóa học, lịch sử, xã hội học, từ các văn bia, lễ hội, những biểu tượng, những tác phẩm văn học dân gian, văn học viết (trong dạng thức văn - sử - triết bất phân), những khuôn mẫu được thừa nhận, những tác phẩm “Văn học hóa triết học”…
Đối chiếu, chú giải các tài liệu thu được, chồng các văn bản văn - sử - triết phức hợp ấy với nhau ta tìm ra được những ký hiệu triết học dân tộc. Tiếp theo, thao tác trừu tượng hóa, khái quát hóa ta có được những quan niệm phạm trù quy luật cơ bản. Những phạm trù này được thiết lập những quan hệ tạo thành những hệ thống nhỏ. Từ các hệ thống nhỏ này lại liên hệ nhau tạo thành hệ thống mang tính chỉnh thể. Chúng ta cần thừa kế những thành tựu của những công trình về “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”, “Lịch sử văn hóa Việt Nam”, “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, “Đạo lý làm người trong tục ngữ ca dao”, “Nguyễn Đình Chiểu và đạo làm người”, “Lịch sử văn hóa Việt Nam”…
Trong văn học, cần lưu ý các tác phẩm: tục ngữ, ca dao (chứa những tư tưởng triết học rời rạc được phát biểu gần như vô thức), truyện thơ Nôm, các tác phẩm của Khương Tăng Hội, Mâu Tử, văn học đời Lý – Trần, “Thiền uyển tạp anh”. Các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du…

3. Các các tầng văn hoá và các phạm trù triết học
Theo Trần Chí Lương, văn hóa của bất cứ dân tộc nào cũng gồm ba bộ phận, ba tầng: tầng vật chất, tầng phương thức chỉ đạo giá trị, tầng tâm thái quan niệm - tư duy. Tầng văn hoá vật chất Cổ trung đại Việt Nam còn giữ lại ở những di tích lịch sử, những công trình chống ngoại xâm và thiên tai, những dấu vết cung điện những công trình kiến trúc… đang bị tàn phá theo thời gian. Tầng phương thức chỉ đạo giá trị là những triều đại phong kiến thống trị luôn vận động thăng trầm, hiện nay chỉ còn lưu lại trong sử sách. Sâu sắc và lâu bền nhất là tầng tâm thái quan niệm - tư duy. Nó tồn tại như cơ tầng tâm thức cơ bản của dân tộc. Vì vậy ta tìm thấy ở tầng tâm thái quan niệm – tư duy nhiều tư liệu triết học quí báu.

3.1. Các quan niệm văn hóa xã hội Cổ trung đại Việt Nam
Các quan niệm văn hóa xã hội Việt Nam được qui định bởi yếu tố nhân chủng, địa lý, sinh thái Việt Nam. Các Quan niệm đó có tính lịch sử - văn hóa của quan niệm, và đồng thời nó phản ánh các phương pháp cảm nhận đời sống của người Cổ Trung Đại.
Trước hết cần đề cập đến quan niệm về con người tiếp nhận quan niệm “dĩ nhân vi bản”, “thiên nhân cảm ứng” của Trung Hoa, Ấn Độ; người Việt từ lâu đã xác lập hệ thống dọc (trật tự) quần chúng – vua – trời, hệ thống ngang: con người với con người – với xã hội (hài hòa mềm dẻo).
Ngoài ra còn phải kể đến hàng loạt quan niệm: biến dịch, nhân đạo (thương người như thể thương thân), quan niệm tiết dục, vô ngã, trung quân, trung dân (Nguyễn Đình Chiểu)…

3.2. Các phương thức tư duy Cổ trung đại Việt Nam
Tư duy là ý thức ở trạng thái động, là hành động nhận thức của com người. Tư duy người Việt thiên về trực giác, cảm tính. Triết lý được định hình bằng tư duy khái quát hoá, vì vậy tư tư duy người Việt không có ưu thế về phân tích, thực nghiệm khoa học...
Nói theo Kant “mỗi phạm trù là chiếc gậy để tư duy chống đi”. Qua hoạt động của tư duy, mỗi phạm trù triết học bộc lộ ra. Cho dù thực tế, lối tư duy “đắc ý vô ngôn” ám ảnh không iít toàn bộ hệ thống các phạm trù triết học này…

4. Thử xác lập các phạm trù triết học

4.1. Vũ trụ

Vũ trụ: hiện hữu, bức tranh đa dạng về thế giới (gồm thiên nhiên, nội tâm, ý thức, tư duy).
Các phạm trù liên quan: bản thể, bản thể luận, đại ngã, trời đất, chân- thiện - mỹ… (“Vũ trụ chi gian giai phận sự” - Nguyễn Công Trứ).

4.2. Đạo
Khoa học về tự nhiên xuất phát từ chiêm nghiệm, quan sát cuộc sống, từ trực giác đến logic hoá thành khái niệm qua trừu tượng những sự vật hiện tượng.
Các phạm trù có liên quan: đạo lý, đạo đức, đạo làm người… (“Đạo trời nào phải ở đâu xa” - Nguyễn Đình Chiểu)

4.3. Mâu thuẫn
Gồm các cặp phạm trù: âm – dương; hữu – vô; thiện – ác; lợi - hại; tiến – thoái… trong thế đối lập, nhưng dựa vào nhau tồn tại, chuyển hoá nhau…

4.4. Vận động
Vận động: dạng thức sống động của trời đất, vũ trụ. Nó liên hệ với những phạm trù: dịch, sinh, chu kỳ vũ trụ. khứ (đi) – lai (về); cân bằng, quân bình, nhân quả, bản thể, thịnh – suy…
“Nhậm vận thịnh suy vô bố uý”
(Vạn Hạnh)

4.5. Không gian
Không gian vũ trụ là vô biên, đồng thời là môi trường cho con người và các sự vật hiện tượng tồn tại. Không gian là vô biên, trước hết nó chứa nền văn minh của khách thể.
“Lòng đi ba cõi hương bay chín trời”
(“Quan ÂmThị Kính”)
“Trong trời đất ba ngàn thế giới”
(“Lục súc tranh công”)

4.6. Thời gian
Thời gian là qui ước, con người Cổ trung đại xem thời gian là vĩnh cữu.
Thời gian ba kiếp: “Ví chăng duyên nợ ba sinh” – “Truyện Kiều”
Thời gian 10 kiếp: “Chờ qua kiếp khác đủ mười” – “Quan Âm Thị Kính”.
Đơn vị thời gian vi mô là sát na. Thời gian hiện tại là thực: “Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ” (Sư Khánh Hỷ - “Thiền uyền tạp anh”).

4.7. Con người
Với tư cách là một thực tồn, con người là bộ phận hữu cơ của thế giới. Có sự vận động từ con người đạo lý, con người vũ trụ đến con người cá nhân. Con người được trân trọng, mẫu mực là con người cảm thông với tạo vật – công bằng - khoan dung. Nó liên quan đến: bản ngã, vô ngã,…
Bằng lối tư duy nhân văn, con người được đề cao không chỉ ở cấp độ nhân bản mà hơn thế nữa –“Phật bản”:
“Làm trai có chí xông trời thẳm
Dẫm vết Như Lai luống nhọc mình”
(Không Lộ)
Hiền tài được chú trọng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” (Văn bia).
Con người giao hoà với thế giới thông qua các giác quan và những hành động.

4.8. Trí tuệ
Trí tuệ giúp con người nhận thức, tích luỹ tri thức, sáng tạo ra văn hoá. Nó liên quan đến các phạm trù: ý thức, nhận thức, vô thức, nhận thức sai lầm, cố chấp. Tướng - Thể - Dụng.
“Thấy tỏ tâm không, không sắc tướng
Sắc không, ẩn hiện mặc vần xoay” (Viên Chiếu)
“Cáo tật thị chúng” (Mãn Giác)

4.9. Yêu thương
Yêu thương thuộc về nhân sinh quan. Yêu thương và thù hằn là hai dạng năng lượng khác nhau. Nó liên quan đến các phạm trù: nhân – nghĩa; trung - hiếu; nghĩa - lợi, khoan dung; hoà; hoà; tích hợp…
“Văn tế thập loại chúng sinh” (Nguyễn Du)
“Thương người như thể thương thân” (tục ngữ)

4.10. Hạnh phúc
Là khát vọng vĩnh cữu của con người, tuỳ thuộc vào thái độ của người cảm nhận. Nếu triết học Ấn Độ (Védànta) không lạc quan cũng không bi quan thì tư tưởng Việt Nam thiên về lạc quan (Phan Ngọc, Lê Ngọc Cầu).
Nó liên quan đến các phạm trù: niết bàn, an lạc, thiên đường, bồng lai, đào nguyên…
“Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông”
(Huyền Quang)
“Đói thì ăn chừ, cơm tuỳ ý
Mệt thì ngủ chừ, làng không làng”
(“Phóng cuồng ngâm” - Tuệ Trung thượng sĩ)

5. Mối quan hệ của các phạm trù trong tính chỉnh thể
Từ từng phạm trù trên, mỗi phạm trù đã liên hệ, kéo theo nhiều phạm trù quan hệ gần gũi, làm thành từng hệ thống nhỏ độc lập tương đối. Từng hệ thống nhỏ này kết hợp lại tạo thành một cấu trúc hỉnh thể.
Con người không thể tách khỏi môi trường tự nhiên, xã hội và thế giới nội tâm. Đạo lý tự nhiên bao giờ cũng bao trùm các phạm trù khác, thẩm thấu các phạm trù khác (“Đạo có cơ sở là cái lý tự nhiên, mà gốc là tình người” – Ngô Thời Nhậm – “Đáp Hải Phái Đoàn Hầu”). Có thể xem các phạm trù trên liên hệ với nhau theo một sơ đồ lập thể (cubism) hoặc hình mạng (network), một phạm trù có thể liên hệ với tất cả các phạm trù khác nhưng đồng thời một phạm trù cũng tương tức – tương nhập với các phạm trù khác.

6. Tính chất những phạm trù tiết học Việt Nam
Qua giao lưu, tiếp biến, tích hợp từ nhiều nguồn khác nhau, lại hình thành trên nền văn hoá lúa nước, lại thường xuyên nhuộm màu khói lửa chiến tranh, con người Việt Nam Cổ trung đại vẫn hiên ngang khẳng định mình nhưng có lẽ chưa có điều kiện để hoàn chỉnh và nâng cao hệ thống triết lý dân tộc. Hơn nữa, tư duy nặng về tiếp biến - âm tính cũng không thuận tiện cho tư duy triết học. Nên về chất, triết học Cổ trung đại Việt Nam vẫn chưa phải là một hệ thống khép kín và chưa có thể đối sánh ngang tầm với triết học Ấn – Hoa.
Léopold Cadìere quan tâm đến triết học bình dân Việt nam (philosophie pupulaire Annamite), nhiều nhà văn hoá học Việt Nam đã quan tâm đến: tín ngưỡng dân gian bản địa, tín ngưỡng phồn thực và nguồn gốc của Kinh Dịch nguyên thuỷ… Tất nhiên nhiều yếu tố triết học đậm nhạt đã xuất hiện trong thời Cổ Trung đại.
Có nhiều phạm trù vay mượn vỏ ngôn ngữ Ấn Hoa nhưng đả được chọn lọc và đi vào văn hoá dân gian, văn hoá dân tộc, nó có hiện tượng khác đi bởi môi trường văn hoá Việt Nam, hoặc có khi được sử dụng với thang giá trị mới của người Việt. Nên từ đó, nhiều phạm trù đã đi xa hơn, tạo một khoảng cách đáng kể với kinh điển chính thống để nhập cuộc vào vào cuộc sống thiết thực rất đời thường. Người Việt “chỉ tiếp thu những gì phù hợp với đạo lý có sẵn ở Việt Nam” và “những học thuyết, tôn giáo từ nước ngoài (…)được khai thác, vận dụng kết hợp với lương tri nhân dân để trở thành triết lý đạo đức dân gian” (Nguyễn Thế Việt – “Truyền thống và cách tân…” - Tạp chí Văn học, 06/1983).
Về cơ bản, các phạm trù triết học Việt Nam Cổ trung đại vẫn trong môi trường Triết học Phương Đông, thuộc loại hình Triết học vĩnh cữu (Perennis philosophie)…

7. Kết luận
Từ những phạm trù triết học được xác lập, ta có thể góp phần tạo những cơ sở cần thiết cho khoa học lịch sử tư tưởng Việt Nam. Trong thế vận động, ta có điều kiện để tìm thấy những tiền đề cần thiết trong sự giao lưu với tư tưởng thiết học Phương tây, chủ nghĩa Mác –Lênin…
Xác lập các phạm trù này đồng thời hình thành chức năng dự báo trong tiến trình vận động và phát triển dân tộc, góp phần giải thích lịch sử bằng triết học của văn hoá, triết học của chính trị… Tuy nhiên, đây chỉ là một cách tiếp cận, một đề xuất, cần nhiều đóng góp, sửa chữa, hoàn thiện.
Th.s Huỳnh Quán Chi

(Cảm ơn tác giả đã gởi bài viết này)
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này