Từ thời Phật Giáo Bộ Phái, nhiều kinh điển Đại Thừa đã bị một vài bộ phái lên án là không phải do đức Phật thuyết, tuy nhiên, bất chấp các điều đó, các kinh điển Đại Thừa vẫn ngày càng trở nên có mặt phổ biến và được chấp nhận nhiều hơn.
Thời cận đại và hiện đại, quan điểm "Kinh Đại thừa không phải là Phật thuyết" được căn cứ vào làm nền tảng cho sự khởi xướng thành một phong trào nghiên cứu theo khuynh hướng "xét lại" có lẽ bắt đầu từ học giả Hồ Thích ( 胡適 / Hu Shih 1891- 1962 ) ở Trung Hoa. Sau Hồ Thích, các học giả Nhật Bản chịu ảnh hưởng của Hồ Thích, đã lấy quan điểm này làm tiền đề và tiếp tục đi theo hướng nghiên cứu đó. Khi Phật Giáo Nhật Bản truyền qua Phương Tây, quan điểm này một lần nữa được chấp nhận và kế thừa rộng rãi.
Nguồn thứ hai, có lẽ là do ảnh hưởng của hội Pali Text Society và những nhà truyền giáo Theravāda, một số quan điểm cực đoan từ đảo quốc Sri Lanka, trong đó có quan điểm này, bắt nguồn từ thời Phật Giáo Bộ Phái cũng được truyền qua Phương Tây. Như vậy, mặc nhiên nó được chấp nhận rộng rãi trong giới học giả phương Tây.
Gần đây, quan điểm này mới có sự đối kháng bởi quan điểm đối lập lại: “Kinh điển Đại Thừa chính là chính thống Phật thuyết” nhờ công cuộc truyền bá Phật Giáo Kim Cương Thừa - Vajrayāna của người Tây Tạng, và một số nhà nghiên cứu tư tưởng Hoa Nghiêm Tông ở Âu Mỹ (...). Mặc dù chỉ là một bộ phận nhỏ trong giới nghiên cứu, nhưng nhờ vậy, giới nghiên cứu phương Tây mới đi theo một hướng nghiên cứu mới toàn diện hơn, không phiến diện chủ quan như trước nữa. Khuynh hướng nghiên cứu mới nhất hiện nay là: Tìm lại và khôi phục lại đạo Phật Nguyên Thủy từ Đạo Phật Bộ Phái và Đạo Phật Đại Thừa, mà một số nhà nghiên cứu đi theo.
Nhìn chung, tất cả các cuộc nghiên cứu về nguồn gốc đạo Phật Nguyên Thủy và Phật Giáo Đại Thừa, đều là những công việc có cùng cách thức của công việc phục chế cổ vật của những nhà khảo cổ:
Phục chế:
- Tìm kiếm hiện vật mẫu
- Lắp ráp những mảnh rời
- Phục hồi những biến dạng
- Đối chiếu với các hiện vật khác cùng loại cùng thời kỳ
=> tạo ra một phiên bản phục chế.
Nhưng bởi vì công việc “Tìm lại và khôi phục lại đạo Phật Nguyên Thủy từ Đạo Phật Bộ Phái và Đạo Phật Đại Thừa.” hay đơn giản hơn là nghiên cứu về hiện trạng các bộ phái Phật Giáo ở Ấn Độ thôi, cũng khó khăn phức tạp hơn trăm ngàn lần so với việc phục chế cổ vật trong ngành khảo cổ, nên trong công việc này, những thành quả nghiên cứu của giới học giả phương Tây chỉ là những bước dò dẫm đầu tiên. Những công trình nghiên cứu dù nghiêm túc nhất, sâu rộng nhất, công phu nhất, và dù đáng tán dương, nhưng sự chính xác của nó so với lịch sử thì có lẽ không quá 60% (một mức độ mà chỉ có thể dùng để tham khảo!). Những công trình nghiên cứu còn lại, chỉ cần có tính chủ quan, hoặc phiến diện một chiều, ngày nay sẽ bị loại bỏ vì không còn ai ưa thích những sai lầm trong học thuật.
Cái cống hiến lớn nhất của giới nghiên cứu Phương Tây là những cống hiến về cổ ngữ học, khảo cổ học, tỷ giảo tôn giáo học, sử học tổng quát trong phạm vi hoặc liên quan đến Phật Giáo. Những nghiên cứu về mặt văn bản học mặt dù làm sáng tỏ nhiều bối cảnh của các kinh văn, nhưng cũng không thể đưa ra một xác quyết nào về nguồn gốc các kinh văn.
Nhìn chung, các quan điểm cá nhân của các học giả thì luôn chủ quan theo cách này hay cách khác, và họ nắm lấy các quan điểm ấy theo kiểu chấp nhận quan điểm này và từ bỏ những quan điểm khác, tùy thuộc vào những dữ kiện nghèo nàn mà hiện nay họ có trong tay.
Hy vọng trong tương lai, chúng ta sẽ có được những thành quả khả quan hơn về lĩnh vực nghiên cứu này, trước khi từ bỏ những quan điểm học thuật cũ ngày càng trở nên lạc hậu và bị từ bỏ bởi nhiều nhà nghiên cứu khác. (Như một quy luật của ngành khoa học nói chung và khoa học xã hội nói riêng, những thành quả nghiên cứu trước sau một thời gian đều bị thay thế bởi những thành quả nghiên cứu mới có chất lượng tốt hơn).
Tren Dinh Phu Van