Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
03:11, Saturday.May 23 2026
Hai mạch Nho - Thiền trong thơ ca Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du
 
Trong thơ ca của nhiều tác giả thời Trung đại có hiện tượng tồn tại hai mạch thơ Nho và thơ Thiền. Các nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du đều có những biểu hiện đó. Hai mạch Nho và Thiền trong thơ ca cũng là một đặc điểm quan trọng của các tác giả này. Sự cộng hưởng của hai yếu tố tư tưởng này càng nâng cao bản lĩnh sáng tác của tác giả và đôi khi làm nên những tác phẩm giá trị.

Trong thơ ca Trung đại Việt Nam, có nhiều tác phẩm không chỉ do nhà nho thuần túy hay thiền sư thuần túy sáng tác mà có khi, trong một tác giả có cả thơ Nho lẫn thơ Thiền. Tư tưởng Nho và Thiền ảnh hưởng đến thơ văn của nhiều tác giả. Nó tạo nên mạch ngầm trong thơ văn của họ. Ở các tác giả như Nguyễn Trãi (1380 -1442), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1581), Ngô Thì Nhậm (1746-1803), Nguyễn Du (1765-1820), tình trạng phức tạp đó rất rõ nét. Hai mạch tư tưởng, hai mạch thơ ca này đã chảy suốt sự nghiệp thơ ca của các tác giả này.

1. Nguyễn Trãi (1380-1422)

Thời đại của Nguyễn Trãi là thời Nho giáo độc tôn, ảnh hưởng của Nho giáo đã bao trùm không khí thời đại. Bản thân Nguyễn Trãi là một nhà nho hành đạo, tích cực và có công lớn với đất nước.

Nguyễn Hậu Trai nói: “Nguyễn Trãi có được môn học chính tông…” (Ức Trai thi tập – Nxb Văn Học, HN, 1994, tr. 661). Nguyễn Trãi cũng là một nhà Nho ẩn dật không thành, môt nhà nho mang tư tưởng Nho giáo nhưng là kiểu Nho giáo bình dị, thiết thực. Thơ của Nguyễn Trãi chủ yếu là là thơ Việt Nho, chất Nho nhưng mang bản sắc Việt: “Hằng lấy đạo trung làm Nghĩa cả” (Bảo kính cảnh giới, 6). Những quan niệm của Nho giáo đã được vận dụng linh hoạt, tài hoa: “Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược, Có nhân, có trí, có anh hùng” (Bảo kính cảnh giới, 5). Học phong Đông A và tinh hoa văn hóa Tam giáo thời Lý Trần đã ảnh hưởng lớn đến Nguyễn Trãi. Cuối đời Nguyễn Trãi tự ý thức về bản thân, tự đánh giá cuộc đời mình: “Ta dư cửu bi nho quan ngộ” (Thân ta bị cái mũ nhà nho làm cho lầm lỡ – “Đề Từ Trọng Phủ canh ẩn đường” – Ức Trai thi tập).

Nguyễn Trãi có một vị trí quan trọng trong công tác làm sáng tỏ tư tưởng Việt Nho như trung hiếu Việt Nho, đạo lý Việt Nho. Nhưng mặt khác Nguyễn Trãi còn là một nhà văn hóa. Thế kỷ XV văn hóa dân tộc, thành tựu của văn hóa Lý - Trần đã bị giặc Minh tàn phá nặng nề. Sau khi “bình Ngô”, Nguyễn Trãi “đã có ý thức phục hưng văn hóa Lý - Trần, văn hóa Tam giáo” (Thạch Trung Giả - “Từ tâm sự qua mọi giai đoạn của cuộc đời đến Thiền trong thơ của Nguyễn Trãi” – Hải Triều âm, số 9-10, tháng 4/1975, tr.163 - 1930). Đồng thời, nhiều bài thơ của Nguyễn Trãi cũng mang phong cách Thiền: “Đề Đông Sơn tự”, “Du Nam Hoa tự”, “Tống tăng Đạo Khiêm qui sơn”…

Trước Nguyễn Trãi không xa, tuy Phật giáo không còn thịnh trước sự lớn mạnh của Nho giáo nhưng Phạm Nhân Khanh (đỗ Tiến sĩ, khoảng 1373- 1377) đã giao du với Lãm Sơn quốc sư (Thiền phái Trúc Lâm), Lương thế Vinh (đỗ Trạng Nguyên năm 1463) đã viết tựa cho “Nam tông tự pháp đồ” của thiền sư Thường Chiếu (Thiền phái Vô Ngôn Thông). Mạch Thiền vẫn còn lưu dấu trong thời Nho độc tôn. Nguyễn Trãi thường gắn bó với mảnh đất Côn Sơn quê ngoại, nơi ông đã từng sống, từng ẩn dật. Đó cũng là nơi Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang thị tịch (1334). Nơi đó cũng là cửa ngõ của trung tâm Thiền học Trúc Lâm Yên Tử. Nguyễn Trãi thường giao du với tăng đạo Khiêm, viếng An Tử Sơn (“Đề An Tử sơn”), và thăm Hoa Yên Tự. Chính nơi đây Trúc Lâm nhất tổ Trần Nhân Tông thờ Phật.

Nguyễn Trãi cũng từng đến Tào Khê (Thiều Châu) – trung tâm thiền học của Lục Tổ: “Vạn lý Nam lai sơn thủy viễn, Nhất sinh năng kỷ quá Tào Khê” (Muôn dặm từ Nam non nước thẳm, Một đời mấy bận tới khe Tào). Nguyễn Trãi có nhiều tình cảm với Lục Tổ Huệ Năng. Tác giả dùng ý thơ của Lục Tổ – “Bồ đề bổn vô thụ, Minh kính diệc phi đài…” – để viết: “Vô thụ phi đài, ngữ nhược tâm” (Chẳng đài chẳng thụ vẫn lòng truyền – “Du Nam Hoa tự” – Đào Duy Anh dịch). Tác giả cũng nhắc đến lịch sử của những thiền phái và cảm giác thanh thoát nhẹ nhàng khi đến Nam Hoa tự: “Môn thiền nhất phái Tào Khê thủy, Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần” (Trước cửa Tào Khê dòng nước chảy, Lâng lâng gột sạch mọi trần duyên).

Trong thơ Nguyễn Trãi, ta thấy có ảnh hưởng của thơ thi xã Bích Động, Nguyễn Phi Khanh và có cả Tuệ Trung Thượng sĩ. Câu thơ “Bụt ấy là lòng Bụt há cầu” cũng tương tự với “Tâm tức Phật- Phật tức tâm” (“Phật tâm ca”). Ở bài “Thu dạ khách cảm”, “Thuật hứng, 17” là những kinh nghiệm về cuộc sống dưới cái nhìn Thiền học: “Đành hay thương hải đòi thời biến, Đã biết nhân gian mọi sự không” (Thuật hứng, 17) hay: “Đáo đầu vạn sự giai hư ảo, Hưu luận Phàm vong với Sở tồn” (Sau cùng vạn sự đều hư ảo, Chớ luận Phàm vong với Sở tồn – “Thu dạ khách cảm”). Ở bài “Mộc cận” (hoa râm bụt), tác giả dùng nghệ thuật chơi chữ để phản ánh triết lý Phật giáo:“Vết nhơ chẳng bén, Bụt làm lòng…Sự lạ cho hay chuyện sắc không”. Ngôn ngữ Thiền, lời thơ Thiền làm cho tác giả không còn là nhà nho mà là một là một nhà nho có tâm hồn Thiền đích thực: “Nhất niệm tức lai thiên niệm tức, Kê trùng tự thử liễu tương tranh” (Một nghĩ đã thôi nghìn nghĩ hết, Chỉ nghe tiếng dế, tiếng canh gà) (Ức Trai thi tập, bài 65). Tác giả cũng đề cập đến giới hạn của ngôn ngữ thông thường khi diễn tả Thiền ý: “Cá trung chân hữu ý, Dục ngữ hốt hoàn vương” (Cảnh trông như có ý, Muốn nói, bỗng quên lời – “Du Tiên Sơn tự”). Cuối cùng tác giả quyết định:“Lão khứ cuồng ngôn hưu quái ngã, Lâm kỳ ngã diệc thượng thừa Thiền” (Già ngông còn lạ chi đâu, Rẽ đường ta cũng đi tu thượng thừa – Phan Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình dịch).

Hai mạch Nho Thiền trong thơ Nguyễn Trãi rất rõ và phong phú, đó là hai phương diện quan trọng trong thơ ca Ức Trai.

2. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1581)

Ông là nhà nho có cái nhìn thời thế rất sâu sắc, độc đáo. Ông học được những kiến thức Nho học từ Lương Đắc Bằng (thuộc phái Tượng số học của Tống Nho). Học trò suy tôn ông là Tuyết Giang – một bậc chân nho.

Cuộc đời ông gắn với nhiều giai thoại có tính chất kỳ diệu. Ông sống tích cực: “chí hướng về việc nghĩa tha thiết vương vấn trong lòng từ thuở bình sinh” (Phụng căn tòng phát hành thuật hoài). Lý tưởng nhân nghĩa theo ông là điều quan trọng nhất để giúp cho dân có cuộc sống bình yên no ấm: “Đồ thán dân giai nhẫm tịch tê, Tối thị đế vương nhân nghĩa cử” (Dân từ chỗ lầm than đều bước lên chỗ chiếu ngồi yên ổn, Quan trọng nhất là đế vương nêu cao nhân nghĩa” – “Liệt Khê trú doanh”)

Nhiều ý tưởng nho học dựa trên tiêu chuẩn nhân đạo, nhân giả, vương đạo được tác giả dùng để nhận xét thời cuộc (“Quá hữu giang, 1”…). Với cái nhìn nhân đạo và bản lĩnh của một tâm hồn lớn, nhà thơ khuyến khích quan điểm khoan giảm: “Nhân giả túng năng suy bất nhẫn, Căng linh bản vị nhất phân khoan” (Nhân giả nào ai người chẳng nỡ, Xót thương khoan giảm bớt phân ly – “Cảm hứng thi, 6” – Hữu Thế dịch). Nho học đã trở thành một mạch tư tưởng chính trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Tuy nhiên ta vẫn gặp thái độ như Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi tương tự ở Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Nho quan tự tín đa thân ngộ” (Tự biết “cái mũ nhà nho” đã làm cho tấm thân mắc nhiều lầm lỡ – “Ngụ hứng, 3”, ”Bạch Vân am thi tập”). Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan với nhà Mạc nhưng ông cũng thấy được sự đổ nát từ bên trong. Ông đã dâng sớ chống tham nhũng. Về trí sĩ, ông lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ như là một tín đồ nhà Phật. (Cha ông là Văn Định, cũng đã từng lấy đạo hiệu là Cù Xuyên).

Về quê, ông tích cực xây chùa, mở trường học. Thường ngày ông cùng với vài nhà sư, một số bạn bè dạo chơi các danh thắng trong đó có núi Yên Tử – trung tâm thiền học Việt Nam. Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm chơi chùa Phổ Minh (ngôi chùa được xây dựng từ thời nhà Trần), ông đã sánh Pháp giới của nhà Phật với quan niệm Trời của Nho gia: “Pháp giới ưng đồng thiên quảng đại” (Pháp giới sánh ngang tầm rộng lớn của trời). Đến tiết Trung nguyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm hy vọng ở lòng yêu thương rộng lớn:“Từ bi ta muốn nhờ công sức, Cứu được bao người chịu khổ oan” (Trung nguyên tiết xá tội – Đinh Gia Khánh dịch). Nhà thơ rất cảm hứng khi đọc kinh Phật (Độc Phật kinh hữu cảm). Ông tâm đắc triết lý sắc không: “Xuân hoa phong nguyệt không mà sắc” (Tân quán ngụ hứng, 12). Tư tưởng Thiền có lẽ đã gây chấn động trong nhận thức của tác giả: “Vị Phật na tri vô hữu tướng, Đáo thiền phương ngộ bổn lai ky (cơ)” (Chưa Phật nào hay vô hữu tướng, Đạt thiền mới biết bổn lai cơ – “Tân quán ngụ hứng, 18”).

Chính tư tưởng Thiền đã làm phong phú và nâng cao bản lĩnh Nho học cùng bản sắc trí tuệ trong thơ và đời Nguyễn Bỉnh Khiêm.

3. Ngô Thì Nhậm (1746-1803)

Đến thế kỷ XVIII, Nho giáo – đặc biệt là Tống Nho – đã được các Việt Nho sử dụng trong thế chủ động, trong không khí tình hình học thuật và nghiên cứu ở giới nho sĩ đã phát triển rất cao. Ngô Thì Nhậm đã có những đóng góp lớn lao cho nhà Tây Sơn trong đại phá quân Thanh, trong các văn kiện quan trọng của Quang Trung, từ cầu hiền, đòi đất, cầu hôn… Ông xứng đáng là một nhà Nho hành đạo tài ba, nhà nho đi sứ thành công, nhưng cũng đóng góp không nhỏ vào học thuật Phật giáo thế kỷ XVIII.

Trước hết, Ngô Thì Nhậm là nhà Nho có chí lớn. Bị chúa Trịnh Tông ruồng bỏ, ông theo Tây Sơn và thể hiện trọn vẹn phong cách một nhà nho hành đạo. Ông ca ngợi Gia Các Vũ Hầu: (Gia Các Vũ Hầu miếu). Ông ca ngợi những tấm gương trung nghĩa như Quách Tử Nghi (Trường đoản cú). Thơ ông có một chiếc thuyền lẻ loi: “Nhân nghĩa làm sào, trung tín làm bánh lái, Đóng thành một chiếc bè, hàng năm giong lên vùng sao Đẩu” (Cô châu). Đó là con thuyền văn hóa Nho gia trong bối cảnh đất nước phân tranh.

Trong cuộc đời và thơ văn Ngô Thì Nhậm còn có một chất liệu khác: chất liệu Thiền. Thiền học từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII đã được nhiều bậc vua chúa ngưỡng mộ, trợ giúp. Đồng thời nhiều thiền sư Trung Quốc đã có mặt ở Đàng Trong. Vua Lê Huyền Tông, Trịnh Tráng xem hòa thượng Chuyết Công (1590-1644) (phái Lâm Tế) là Thầy. Năm 1678, vua Lê Hy Tông sám hốí với thiền sư Tông Diễn (1640- 1711) (phái Lâm Tế). Năm 1696, Nguyễn Phúc Chu nhận thiền sư Thạch Liêm (phái Tào Động) làm sư phụ.

Đặc biệt, thời này có sự đóng góp của thiền sư Chân Nguyên (1646-1726)
(phái Trúc Lâm) và thiền sư Hương Hải (1627-1715) (phái Trúc Lâm). Thiền sư Hương Hải dịch và chú giải khoảng 30 tác phẩm kinh và ngữ lục. Thiền sư Chân Nguyên và các đệ tử khắc in và trùng san các tác phẩm như: “Thiền uyển tập anh”, “Kế đăng lục”, “Thánh đăng lục”, “Thượng sĩ ngữ lục”… Lúc này, phái Liễu Quán đã được thành lập. Các trí thức như Lê Quí Đôn đã chú giải kinh “Kim cương”, sách “Kiến văn tiểu lục” (Lê Quí Đôn) ca ngợi thiền sư Hương Hải. Phạm Quí Thích nhận xét: “Từ khi có đạo Phật, chưa bao giờ thịnh như ngày nay” (Lập Trai văn tập).

Ngô Thời Nhậm sống trong không khí các tác phẩm của Thiền Trúc Lâm được sưu tập khá đầy đủ, thiền phái Trúc Lâm đã được phục hưng. Những kinh điển Đại thừa được du nhập khá nhiều bên cạnh sự sút giảm niềm tin vào Lý học ở giới trí thức. Trong gia đình họ Ngô, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Ức rất mộ Phật. Ngô Thì Nhậm viết “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh” với mục đích vừa tiếp nối Thiền phái Trúc Lâm vừa vừa tạo ra một tác phẩm lấy cảm hứng từ kinh “Viên giác”. Ở tác phẩm này, tác giả có kế thừa, trích dẫn hàng loạt các tác phẩm kinh điển như: Hoa nghiêm, Kim cương, Lăng nghiêm… Trong đó, đặc biệt ông ngợi ca phái Trúc Lâm. Trong tác phẩm, ông cũng đứng từ đỉnh cao Thiền học để đánh giá Lý học.
Từ những cố gắng biểu dương thanh phong Thền Trúc Lâm, ông lập Trúc Lâm thiền viện ở phường Bích Câu. Có khi ông được ví với Trúc lâm đệ tứ tổ. Trong thơ ông có bài tiếp nối motip hoa mộc cận (hoa râm bụt) từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm trước đó: “Xuân hoa ta tận đan thành Phật, Sắc tướng di lai bản tự thiền” (Hoa xuân tàn hết, riêng được thành Phật, Sắc tướng khác tục, vốn tự cửa thiền dời tới – “Cung cận hoa” – “Hoa râm bụt trong cung vua”).

Trong thơ ông có những phút giây siêu thoát: “Tiêu dao nhàn tại hồng mông thế, Cương tỏa hồi đầu liễu bất quan” (Người như rong ruổi đời mông muội, Danh lợi lòng xưa giũ sạch rồi – “Tức cảnh, 3” – Đỗ Ngọc Toại dịch).

Tuy có đôi lúc lưu lạc và rời khỏi chính trường nhưng thực tế cuộc sống của ông là: “Thiền viện dục tiền, thiền vị ổn, Khấu quan tiêm thủ não đa phương” (Muốn khép phòng tu, tu chẳng trót, Tay măng gõ cửa dễ làm ngơ – “Họa Trùng dương tiểu chước chi tác” – Đỗ Ngọc Toại dịch)

Tuy mến mộ đạo thiền nhưng nhìn chung, Ngô Thì Nhậm vẫn là một nhà nho. Một nhà nho hành đạo, sáng tác nhiều tác phẩm thơ nho giá trị, dù ông vẫn đánh giá cao tư tưởng Thiền hơn Nho.

4. Nguyễn Du (1765-1820)

Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nho sĩ thế hệ Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Du… đã trở thành thế hệ các nhà nho tài tử. Nguyễn Du trước hết vẫn là nhà nho, nhà thơ Nho.

Đời ông cũng gắn với những tai họa “chiến tranh” cuối triều Lê. Tấm lòng cao cả của ông là tấm lòng thanh cao của cốt cách nhà nho: “Trạm trạm nhất phiến tâm, Minh nguyệt cổ tỉnh thủy” (Vằng vặc bầu tâm sáng, Giếng cổ nguyệt ngời gương – “Đạo ý” – Viễn Phương dịch). Nhưng đặc điểm ở Nguyễn Du còn là nhà nho đã vượt qua quan niệm: “Văn chất bân bân” để yêu mến văn chương.

Trong cuộc đời quan chức, có lần ông đã đồng cảm với Đỗ Phủ: “Mỗi độc nho quan đa ngộ thân, Thiên niên bất khốc Đỗ Lăng nhân” (Đọc câu “chữ nghĩa” lụy đời, Nghìn năm lại khóc cho người Thiếu Lăng – “Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ” – Mai Quốc Liên dịch).
Đến thế hệ Nguyễn Du, Phật giáo đã được nhà Nguyễn ủng hộ. Nguyễn Ánh đã nhiều lần lánh nạn trong các chùa ở miền Nam. Khi lên ngôi, ông đã nhiều lần cho thỉnh Đại tạng, xây dựng nhiều ngôi chùa lớn ở kinh đô Huế. (các chùa đó đã có trước khi Nguyễn Du vào Huế và còn đến ngày nay như: Báo Quốc, Thiên Mụ, Ấn Tôn (Từ Đàm), Thuyền Tôn…). Lúc đó, phái Liễu Quán đã phát triển. Nhiều quan chức cuối Lê – đầu Nguyễn như Mạc Thiên Tích, Lê Quí Đôn, Trịnh Hoài Đức…
đã giao du với các thiền sư.

Nguyễn Du, trong cuộc đời lưu lạc, lúc ở Nghệ Tĩnh (Tiên Điền), cũng đã từng giao du đàm đạo với các cao tăng . Đó cũng là lúc ông viết “Văn tế thập loại chúng sinh”. Vào làm quan ở Huế, ông đã tiếp xúc với không khí văn hóa đậm bản sắc Phật giáo ở kinh đô này. Kiệt tác “Truyện Kiều” có nhiều đoạn mang dấu ấn Phật giáo khá rõ, trong đó đậm đà yếu tố nhân quả và triết lý Thiền. Nguyễn Lang (Thả một bè lau – Truyện Kiều dưới cái nhìn Thiền quán – Nxb Lá Bối), Nguyễn Thạch Giang (Truyện Kiều dưới cái nhìn Nho gia, Thiền gia – Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006)… đã bàn đến tính chất này.

Ngoài “Truyện Kiều”, ta cũng thấy yếu tố Thiền trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Bài “Đề Nhị Thanh động” mang đậm bản sắc và ngôn ngữ Thiền: “Mãn cảnh giai không hà hữu tướng, Thử tâm thường định bất ly thiền. Đại sư vô ý diệc vô tận, Phủ thán thành trung đa biến thiên” (Khắp cõi đều không đâu sắc tướng, Lòng này thường định, chẳng xa thiền, Đại sư vô ý mà vô tận, Buồn ngắm thành xưa bao biến thiên – Vũ Định Nhân dịch).

Ở bài “Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh thạch đài”, tinh thần thiền học của Nguyễn Du đã đạt đến mức độ sâu sắc: “Nhân liễu thủ tâm, nhân tự độ... Cập đáo phân kinh thạch đài hạ, Tài tri vô tự thị chân kinh” (Nguời ta hiểu được tâm, tức là tự độ rồi… Khi đến dưới đài phân kinh này, Mới biết kinh “Không chữ” mới thật là chân kinh). Yếu tố Thiền làm cho thơ văn của ông càng tăng thêm chiều sâu.

5. Kết luận

Giữa thơ ca của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du có ít nhiều sự tác động, ảnh hưởng của người thời trước đối với người sau. Dễ thấy nhất ở phong cách và quan niệm thơ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cũng vì thế mà có nhiều bài trùng lặp, nhầm lẫn giữa hai tác giả. Từ Ngô Thời Nhậm đến Nguyễn Du, tuy đối lập nhau và hai họ Ngô – Nguyễn mâu thuẫn nhưng hai họ từng cùng sống ở phường Bích Câu, cùng tài hoa lỗi lạc và họ đã từng biết nhau. Điểm giống nhau của họ là đều là nhà nho đi sứ, đều là nhà thơ Nho chịu ảnh hưởng Thiền.

Hai mạch Nho Thiền trong lịch sử văn học là một đặc điểm lớn của văn học Trung đại Việt nam. Sự độc tôn, biến thể, phân hóa của thơ Nho và sự tồn tại thầm lặng nhưng có khuynh hướng phục hưng của thơ Thiền là hai mạch quan trong trong lịch sử văn học. Nếu bỏ mảng thơ Thiền sẽ là thiếu sót vì có nhiều bài, chính sự cộng hưởng giữa hai phái đã làm nên những tác phẩm giá trị.

ThS. NCS. Huỳnh Quán Chi
(Trường THPT Lưu Tấn Phát, Cai Lậy, Tiền Giang)

Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này