Chúng ta có thể so sánh hai trường phái thơ Nho - Thiền qua các quan niệm như Thế gian – Xuất thế gian (Bản thể luận), Đạo - đời (Giải thoát luận), các quan niệm triết luận cơ sở Thiên (nhiên), Lý, Trung… và các tiêu chuẩn cơ bản như Cao, Hùng, Thâm, Tri âm…
Quan niệm đầu tiên, bao quát nhất là quan niệm về “bản thể”. Đó là “bản thể của vũ trụ”, trong đó đồng thời chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức đều đồng nhau về chất. Như vậy, về mặt tư duy, Nho giáo có cơ sở là ý thức, nhưng ý thức đối với Thiền chỉ là cơ sở ban. Phần nhiều các học giả như Phùng Hữu Lan, Đỗ Tùng Bách đều cho rằng tư duy Thiền căn cứ vào “Hình nhi thượng học”. Hình nhi thượng học biểu hiện ở thơ Nho chủ yếu tập trung vào các vấn đề Thiên, Mệnh, Nhân - “Sau bằng yên mệnh vui cùng đạo” (“Mạn hứng” – Lý Tử Tấn). Bản thể được các nhà nho tập trung vào thông qua không gian – thời gian vĩnh viễn hoành tráng - “Chân vượt ngoài trần giới” (Đề Sài Sơn tự - Lê Thánh Tông). Đối với Thiền, bản thể đó được biểu đạt bằng các khái niệm về Hữu, Vô, Sắc, Không, Pháp thân (Chân như, Tự tánh, Chân thân…), “Chân thân thành vạn tượng, Vạn tượng tức chân thân” (Thiền sư Y Sơn) (“Hoá vận”). Tương tự như “Sắc (tướng) tức thị không (tướng) không (tướng) tức thị Sắc (tướng). Cả sắc và không đều không có Tự tánh (vô thường, vô ngã) nên chúng chính là một. Khổng Tử có bàn đến “vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã” (Luận ngữ), các nhà Lý học cố gắng phát triển luận điểm đó, nhưng Trần Thái Tông đã nhận thức rất sáng suốt: “Mạc vị vô tâm vân thị đạo, Vô tâm do cách nhất trùng quan” (“Ngữ lục vấn đáp môn hạ”). Tinh thần thiền “chẳng bị các pháp có không khống chế” (“Bá Trượng ngữ lục”). Quan niệm giải thoát luận Thiền học trong thơ Thiền là quá trình từ bỏ tối tăm, mê lầm, vươn tới giác ngộ, đạt đến chỗ tự tại, chân như… Bằng phương pháp trực tiếp (đốn ngộ), thiền sư nhìn cuộc sống với cặp mắt giác ngộ bản thể. “Lúc mê sinh ra “không” và “sắc” - Khi ngộ không còn “sắc” với “không” vì cuối cùng theo Tuệ Trung thượng Sĩ: “những điều gọi là sắc, không, mê ngộ - Xưa nay vẫn chung một lối” (“Ngữ lục”). Bằng sự giác ngộ bản thể, nhà thơ Thiền cảm thấy tự do, hạnh phúc, vui (hỷ xã), lạc (cực lạc).
Quan niệm về cái vui, đối với nhà nho có cái vui đạt đạo của Nhan Hồi, có cái vui trong cuộc đời của Khổng Tử, “người quân tử lúc chưa đạt cái chí thì vui ở cái ý muốn của mình. Lúc đã đạt được, thì vui ở chỗ được, cả đời lúc nào cũng vui” (“Khổng Tử gia ngữ” – Tai ách, XX). Nguyễn Thiên Túng vui nhìn núi (“Xuân nhật tức sự”), Lý Tử Tấn vui cùng Đạo và mệnh (“Mạn hứng). Quan niệm “lạc” đó được các nhà Lý học phát huy và đi vào thơ ca một cách mạnh mẽ. Nhưng theo Đỗ Tùng Bách, họ thiếu thực chứng nên diễn đạt và biểu hiện còn mơ hồ.
Bên cạnh đó, quan niệm và cảm hứng về thiên nhiên của hai trường phái đều thống nhất, “vạn vật nhất thể”. Nhà thơ nho phản ánh quan niệm đó bằng mối quan hệ nội tâm – ngoại cảnh. Những nhà nho ẩn dật lấy thiên nhiên làm bầu bạn, cái con với cảm hứng trữ tình. Nhà thơ hành đạo lấy thiên nhiên để gởi tâm sự, chí khí nhưng cũng có không gian lưu lạc, không gian ly biệt thấp thoáng trong thơ đi sứ của Nguyễn Trung Ngạn, thơ Nguyễn Húc, thơ Nguyễn Trãi trước khi chiến thắng. Thời gian trong thơ Nho giới hạn bởi đời người - “Ngậm ngùi thay cuộc trăm năm” (“Bạc Nguyễn gia lăng”- Nguyễn Phi Khanh), và sự giới hạn đó được nhấn mạnh - “Vô tình tuế nguyệt nhãn tương hoa” (Ngày tháng vô tình làm mắt sắp mờ) (“Họa Tân Trai vận” - Nguyễn Trãi). Không gian trong thơ Nho có độ rộng của vũ trụ nhưng thường chỉ mang tính tượng trưng và có dấu hiệu của sự giới hạn -“Trời muôn trượng thẳm làu làu sạch” (“Thơ vịnh mười hai tháng” – “Hồng Đức quốc âm thi tập”). Ở đây, ý thơ chủ yếu tập trung vào chiều cao. Thiên nhiên trong thơ Thiền chính là biểu hiện bình đẳng của bản thể qua cái nhìn bản thể, qua trí tuệ Bát nhã, thiên nhiên vừa hòa với lòng người vừa mang tính con người, bộ lộ tình yêu, cảm xúc con người. Thiên nhiên trong thơ Thiền vì thế mà tỏa sáng, thông suốt, lạc quan: “Gió lộng không chia cao với thấp - Trăng soi chẳng ngại chiếu trăm bè” và tiếp xúc với sự sống “Mầu thu đậm nhạt tùy duyên sắc - Bùn sao vương được đóa sen hè” (“Ngữ lục” -Tuệ Trung thượng sĩ).
Về “pháp (phép tắc), theo quan niệm các nhà thơ Nho, pháp không ngoài các thứ như cách điệu, thanh luật, đối ngẫu, thiên pháp, cú pháp, tự pháp. Người học làm thơ phải từ đây mà bắt đầu, không được trái phép” (“Giang tây thi phái tiểu tự” - Lữ Bổn Trung). Pháp (phép tắc) trong nghi lễ, trong thi ca được các nhà nho tuân thủ nghiêm nhặt, nhưng “nếu giữ cứng ngắt một pháp thì bị pháp trói buộc” (“Giang Tây thi phái tiểu tự” -Lữ Bổn Trung). Thiền sư và thơ Thiền đầy những phá cách để được tự tại, để thấy “vạn pháp chi tâm tức Phật tâm” (Tuệ Trung Thượng sĩ). Pháp ở đây là sự vật hiện tượng, phá cách ở đây diễn ra trong nhận thức hoàn thiện, không giống với hiện tượng nổi loạn ở phương Tây hiện đại .
Quan niệm về Hình nhi thượng học, trước thời Hán, của nhà nho chưa hoàn thiện nên quan niệm về Lý chưa sâu đậm. Về sau “Lý” được xem là biểu thị qui luật tự nhiên của Hình nhi thượng”. Nhưng trong thơ Nho, trong lời bình thơ Nho ở Lê Thánh Tông và các thế hệ từ ông về sau vô cùng sùng kính quan niệm Lý học này. Dĩ nhiên đó là “do phạm trù Lý học được xây dựng trong quá trình tiếp thu Phật học, Đạo học, phát triển Nho học, nên cặp phạm trù (Lý – Khí) này chịu ảnh hưởng của phạm trù Lý - Sự (Hoa Nghiêm tông)”. Với Thiền, “Lý” tức là chơn lý thật tánh, là thể tánh chơn thật của tất cả pháp, Lý là thể tánh của “sự” (tất cả pháp), “Sự” là hiện tượng của “Lý tánh”. Quan niệm về “trung” của thơ Nho là thành thật hết lòng (“niềm cũ sinh linh đeo ắt nặng” – “Tự giới” - Nguyễn Trãi), thường nó biểu hiện qua mối quan hệ vua – tôi. Trong ứng xử, hành động nho sĩ còn vận dụng một chữ trung khác - Trung dung (“Làm người thì giữ đạo trung dung” – Tự giới, Nguyễn Trãi). Với Thiền, Trung (Trung đạo) có nghĩa là “Viên thông”, là tự tại tâm. “Vô thị vô phi tự tại tâm” (Phải trái đều không chính là tâm tự tại) ("Tự tại" – Tuệ Trung Thượng sĩ). Quan niệm về tiêu chuẩn “thâm” của thơ nho là “thâm” về sự, về lý, về thế giới tâm hồn, về kinh nghiệm thi ca, kinh nghiệm thế tình sâu sắc, phát hiện ra “Bui một lòng người cực hiểm thay” (“Mạn thuật, IV” – “Quốc âm thi tập”), “Khôn biết lòng người vắn dài” (Ngôn chí, V – “Ức Trai thi tập”). Thâm trong thơ Thiền là “thâm về Bát nhã”, cảm nhận bản thể bằng ý thức vô tướng. “Thâm ở đây là siêu việt số lượng, không phải đối với cạn nói sâu, cũng như chữ đại của Đại Bát Nhã, không phải đối với nhỏ mà nói lớn, mà là siêu việt số lượng, nếu có số lượng thì không được gọi là đại, nếu có số lượng thì không được gọi là thâm” (“Bát nhã tâm kinh lược giải” –Thích Duy Lực). Sự khác nhau của hai trường phái về giá trị “thâm” chủ yếu không hẳn là hai khái niệm nằm ở hai hệ thống mà ở tính đơn giản và phức tạp của khái niệm, độ sâu của khái niệm “thâm”.
Quan niệm tri âm cũng được hai trường phái vận dụng, người tri âm trong thơ Nho là rất ít, thông thường nhà thơ chỉ còn lại chính mình - “Quay lưng bóng xế ngâm thơ một mình” (“Bạc Nguyễn gia lăng” – Nguyễn Phi Khanh), “Sau loạn không ai người quen cũ” (Thu dạ khách cảm – Nguyễn Trãi). Các thi sĩ Thiền càng ít người tri âm hơn “Tương thức mãn thiên hạ - Tri âm năng kỷ nhân” (Quen biết khắp thiên hạ - Tri âm được mấy người) (Tuệ Trung thượng sĩ).
Quan niệm về sự so sánh đánh giá của trường phái này đối với trường phái kia, có thể thấy quan niệm kỳ thị của nho sĩ đối với Thiền học có tiền lệ từ Đường Vũ Tông, Hàn Dũ, sau này ở nước ta như Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Lê Thánh Tông, Vũ Quỳnh, Nguyễn Dữ… (Đó cũng là một đặc điểm quan trọng của văn học Nho giáo nước ta thế kỷ XIV – XV). Ngược lại, Mâu Tử đánh giá Nho so với Thiền “đó là hoa chưa là trái” (“Lý hoặc luận”). Thiền sư Cứu Chỉ thì cho rằng Nho chìm đắm trong cái “Hữu”. Về sau Ngô Thì Nhậm, Hải Âu đã đánh giá nhà nho tiêu biểu là Hàn Dũ khá lý thú: “Đồ đệ bạch với thầy (Hải Lượng) rằng: Xương Lê đã đến bậc nhất của phù đồ chưa? Thầy đáp rằng: Mới đến bậc ba, bậc bốn. Xương Lê cũng theo ý (theo ý riêng mình và tất (câu chấp), chẳng bằng không có ý, không có tất mới thật tốt” (“Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”- Ngô Thì Nhậm).
Về quan niệm giao lưu, vay mượn ngôn ngữ, hai trường phái bên cạnh nhau, trong tư thế độc lập và có thể mượn ngôn ngữ của nhau để diễn đạt ý tưởng của trường phái mình. “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” (Không Lộ) (“Thiền uyển tập anh”). Vừa mang âm hưởng của Lâm Tế - “Trường khiếu nhất thanh thiên địa thu” (Lâm Tế ngữ lục), vừa sử dụng thuật ngữ “thái hư” của Nho. Ngược lại thiền sư cũng sử dụng khái niệm “hành tàng” của Nho - “Sâu thời dấn áo chừ, cạn thời xắn gọn - Dùng hay bỏ chừ theo lẽ hành tàng” (“Phóng cuồng ngâm” - Tuệ Trung Thượng Sĩ). Những quan niệm khá phong phú của hai trường phái vẫn phân định khá rõ hai loại hình thi ca.
Quan niệm về Cái Đẹp, đối chiếu hai quan niệm nghệ thuật Nho – Thiền là cần thiết vì trước đây nó bị gán cho những phẩm chất chung của thi ca Trung đại. Nếu chủ nghĩa Ấn tượng nhằm vào sự trực tiếp, chủ nghĩa Tượng trưng nhằm vào sắc thái và sự tương ứng, chủ nghĩa Siêu thực nhằm vào sự siêu việt thì cả Nho - Thiền đều tập trung vào bản chất. Tuy vậy, nguyên tắc nghệ thuật cả hai thật sự khác nhau.
Xét từ góc độ mỹ học, Nho học nói chung và thơ Nho nói riêng đều có những phạm trù mỹ học cơ bản như Mỹ, Văn, Thần, Giao, Cảm, Cương dương… Trong cảm quan thẩm mỹ của chúng ta, thơ Thiền cũng có những vấn đề tương ứng nhưng có một số khác biệt về phạm trù “mỹ”. Nho gia có cái đẹp của người quân tử phát huy sự nghiệp, cảnh thái bình, cảnh giới của nhân, thiên hạ một nhà… Bên kia “thiền học như gió nhẹ mạnh thổi tạt vào vườn thơ, như bông hoa nhờ gió mà thụ phấn, như gió lay cành làm rụng hoa, gây nên biết bao là tan tác, biết bao là rực rỡ, chiếu rọi lên màu sắc vi diệu của Thiền”. Vì “Thiền là chiếc dao gọt ngọc của thi gia” (“Trả lời Tuấn thư ký”- Nguyên Hiếu Vấn), Thiền “có tính chất rất thi vị” (R.H.Blyth) nên có sự hợp thuận tiện giữa Thiền và thơ”. Đi vào thơ Thiền, nói như Emily Dickinson là “cảm nghiệm được cái áo diệu của Thiền, cái năng lực chuyển hóa khổ đau thành cái đẹp và triển khai cuộc sống con người đến vô hạn của thơ và đạo”. Cái đẹp của Thiền nằm ở tất cả sự vật hiện tượng, mọi sự vật đều có tiềm năng của cái đẹp mẫu mực không phân biệt, vì Thiền là năng lực tự chuyển hóa. Cái đẹp của thơ Thiền nằm ở những hình tượng cá biệt - “Tượng trưng, ước lệ trong thơ ca Nho giáo thường hướng tới cái chung, hướng tới cộng đồng thẩm mỹ bằng những hình ảnh quen thuộc với mọi người như tùng, cúc, trúc, mai… còn tượng trưng ước lệ trong thơ Thiền dường như là những hình tượng thẩm mỹ cá biệt”. “Nó (cái đẹp từ thơ Thiền) rất gần với cảm quan thẩm mỹ hiện đại” (“Thơ thiền Việt Nam..”- Nguyễn Phạm Hùng). Đó là Wabi trong thơ Haiku. Chu Dịch hàm chứa những quan điểm mỹ học, còn thiền sư – các tác giả thơ thiền không nói đến mỹ học nhưng cái đẹp trong thơ Thiền đã tồn tại thực sự. Dễ thấy nhất trong thơ Thiền là cái đẹp cao nhất nằm trong vẻ đơn sơ và bình dị. Cái cao – đẹp – hùng bàng bạc trong thơ Thiền ở tất cả mọi nơi, vì tất cả không gian đều là “Phật tính”, “Phật quốc”, cái mỹ của Thiền luôn viên dung tận thiện và luôn trở về thực tại, trực nhận hiện thực nhiệm mầu, cái cao cả – sâu sắc – kỳ diệu của Thiền là ở đó.
Về phạm trù "văn", ở Nho rất được chú trọng; ở thơ thiền, “văn” là một phương tiện như vô vàn phương tiện khác để biểu hiện sự sống và cái đẹp vô tận của vũ trụ. Thiền ưu tiên cái đẹp không quá lệ thuộc ngôn ngữ, không chấp ngôn ngữ nhưng cũng không lìa ngôn ngữ. “Văn” đối với Thiền không phải là phương tiện duy nhất diễn đạt ý tưởng và cái đẹp. Thơ Thiền đôi khi chơi đùa trên sự bất lực của ngôn ngữ thông thường và cả ngôn ngữ thuộc văn hóa Nho gia, để phản ánh một dạng “văn của vô ngôn”. Tùy vào từng nhà thơ Thiền mà “văn” được hình thành một cách cá biệt với nghệ thuật tượng trưng – ước lệ sinh động, luôn mới lạ. “Văn” của thơ Nho ở thể cách, ngôn ngữ, thi đối…, “văn” của thơ Thiền có khi là tiếng thét, cái mím miệng, im lặng, nói ngịch, hay chỉ thẳng. Văn của thơ Nho (gồm Thiên –Địa – Nhân văn) được tán tụng là rồng, phụng, gấm hoa. Văn trong thơ thiền trải khắp “ba ngàn cõi”, khắp mọi nơi. Những nơi tối tăm, trần tục vẫn có thể là “văn” của thơ thiền, vì vậy nó gần với “văn” hiện đại - “Khắp cõi sa bà đâu cũng Phật” (Hà sa cảnh thị Bồ đề cảnh) (“Đáp Từ Đạo Hạnh chân tâm chi vấn” - Trí Huyền). Truyền thống đó tiếp nối từ Phật quốc (phẩm Phật Quốc – Kinh Duy Ma Cật, vốn được gợi hứng từ thành phố Vasali – Ấn Độ) đến từng bóng trăng đáy nước, đến hoa mai, giọt sương trong hiện thực… đều “sáng lạ lùng”. Trong khi thế giới lý tưởng mà giới Nho sĩ hướng tới là “Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng- Dân giàu đủ khắp đòi phương” (Cảnh tình mùa hè” – “Quốc âm thi tập”).
Về phạm trù “thần”, "thần" rất được các nhà thơ Nho ca tụng. Đó là hiện tượng thăng hoa, vô ngã của sáng tạo nghệ thuật. Có thể xem điều đó tương đương với những “khoảnh khắc đốn ngộ” không lặp lại trong thơ thiền. Vì Thiền đem lại những “niềm vui” biến con người thành thần thánh. Michalet nói "niềm vui là dấu hiệu của anh hùng. Khi một tác phẩm làm chúng ta vui, có thể tin một cách tuyệt đối rằng đó là một kiệt tác đích thực". Hiện tại, quá khứ, tương lai cũng đọng lại trong bàn tay kỳ diệu –“Kiền khôn rút lại đầu sợi tóc - Nhật nguyệt nằm quanh hạt cải mòng - Việc cả hiện bày tay nắm giữ - Ai hay phàm thánh với Tây Đông” (Thiền sư Khánh Hỷ) (“Thiền uyển tập anh”).
Về phạm trù “giao cảm”, trong thơ Nho khá rõ ở quan hệ hai chiều nội tâm ngoại cảnh, trong khi “giao cảm” đối với thơ Thiền đó là một biểu hiện đơn giản của triết lý “tương nhập” (vừa là thẩm thấu vừa bao hàm tồn tại giữa chủ khách thể, giữa sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác). Thơ Thiền Nhật Bản có phạm trù “awave”, đó là “bi cảm, thao thức xao xuyến trước vẻ đẹp não lòng của sự vật…” (“Bashô và thơ Haiku”- Nhật Chiêu) hay của trà đạo, đó là sự hòa hợp, cảm giác hòa nhập với thiên nhiên và những người khác. Khả năng giao cảm, tương nhập đối với Thiền còn xuất hiện trong mối quan hệ không gian – thời gian, nguyên nhân – kết quả, ngã – bản thể, pháp – vạn pháp, một – tất cả…
Về phạm trù “Tượng - ý”, “tượng và ý” được biểu hiện qua sự giải thích ký hiệu các Quẻ, Hào trong Kinh Dịch, thuộc quan hệ trong ngoài, bản chất – hiện tượng. Tất cả các những bài thơ Nho trong mọi thời điểm đều được phạm trù này qui định. Tượng - ý với thơ Thiền chủ yếu là diễn tả các quan hệ Tướng – Thể – Dụng của Tánh. Tất cả sự vật hiện tượng, vạn hữu, vạn vô đều thuộc về một tâm, một ý, một bản thể. “Tượng” trong thơ Thiền linh hoạt, cá biệt, nhưng chỉ phản ánh một triết lý duy nhất là “chân như”, “bản lai diện mục” với những khoái cảm thẩm mỹ. Tượng - ý trong thơ Nho bị khống chế bởi không gian cao, xa, rộng, thời gian, tuổi tác, dịch biến, số lượng tăng giảm, mất còn…
Về phạm trù mỹ học "Số", thơ Nho phản ánh các quan niệm về cương thường, trời đất, qua các số 2, 3, 5… Thơ Thiền chủ yếu phản ánh quan niệm về “tâm” tương ứng các số: không (Vô tâm), một (Nhất tâm), hai (nhị nguyên, phân biệt), nhiều (đa) (đa tâm)… “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (“Cáo tật thị chúng”- Mãn Giác) vận dụng “một”; “Pháp bản như vô pháp” (“Đáp Lý Thái Tông…” - Thiền sư Huệ Sinh) dùng “không”.
Về phạm trù “Lạc”, thường được nhấn mạnh trong thời điểm khai ngộ, hoặc “thường lạc” trong đời sống hàng ngày của các tác giả thơ Thiền - “Khô mộc phùng xuân hoa giác phát” (Cây héo vào xuân hoa nở dậy) (Viên Chiếu) (“Thiền uyển tập anh”). Tình trạng chưa “chứng” sự “giác ngộ”, sẽ có ảnh hưởng lớn đến việc đánh giá được niềm vui (lạc) trong những thời điểm sáng tác những bài thơ chứng đạo. “Nhàn không cần nhàn” cũng thuộc về phạm trù này - “Vô vi cư khoáng dã - Tiêu dao tự tại nhàn” (Mênh mông quãng đồng rộng - Tùy ý tự rong chơi) (“Đáp tăng vấn” - Hiện Quang).
Về phạm trù “Dương cương”, trong thơ Nho có thể đối chiếu với cái đẹp hàm chứa quan niệm về “cao”, về “hùng”, “Cao” với thơ Thiền là vượt trên “nhị nguyên”, “hùng” với Thiền là “đại hùng” của sự “vô ngã”, “vô úy” vì đã “làm chủ vũ trụ, gốc xưa không rời” (“Ký Phổ Tuệ tôn giả” - Trần Anh Tông). Con người có năng lực trở về gốc (Tự tánh), làm chủ chính mình cũng là làm chủ sự vật hiện tượng trong tinh thần tự chủ cao độ, đó là cuộc cách mạng vĩ đại của bản thân. Điều đó cũng phản ánh trong những tính cách coi thường bổng lộc, coi thường sinh tử (“sinh tử nhàn nhi dĩ” - Tuệ Trung thượng sĩ), “bất bái quốc vương” của truyền thống Thiền…
Về phạm trù “Âm nhu”, với thơ Nho là những cảnh đẹp dịu nhẹ, tiết điệu trầm lắng (đạm, nhã).Với Thiền, quan niệm giá trị mỹ học Sabi (tịch) phần lớn là những nét đẹp âm nhu “cô liêu, tịch lặng, cổ xưa, đơn sơ…”, vô ngã cùng với các quan niệm vô tác, vô cầu. Thơ thiền tỏa sáng, sinh khí tràn vào các sinh vật nhỏ bé như con ốc, con dế, chiếc lá, bông hoa…, từ “trúc biếc hoa vàng” (Thiền sư Thiền Lão) đến “hạt cát, hạt bụi” trong thơ Đạo Hạnh. Nhưng từ cái nhỏ nhoi, vô dụng vẫn giao cảm, tương nhập với vũ trụ. Con ếch nhỏ nhoi nơi góc vườn nhảy vào giếng, con dế hát ca có thể làm xao động vũ trụ theo cảm quan Thiền.
Về phạm trù “tài tử”, xuất hiện muộn trong mạch thơ Nho, phản ánh phong cách sinh động, nghệ thuật của các nhà nho tài tử. Truyền thống tài tử trong thơ thiền phải kể đến Hàn San, Thập Đắc, Cuồng Vân (Nhất Hưu Tông Thuần – Nhật)… với những bài thơ thiền thế tục; thơ thiền Việt Nam có những bài thơ phóng khoáng của Tuệ Trung Thượng sĩ…
Có thể nói, mỹ học Thiền là ý thức mới, làm mới thế giới đã tồn tại, sinh khí mới đó phản ánh bằng mỹ học “vô ngôn”. “Mỹ học vô ngôn” của Thiền tông đã mang đến cho thơ ca luồng sinh khí của một thế giới cảm xúc mới mẻ và mở rộng đến vô hạn”. Vì “Phật tánh của chúng sanh không phải nhờ nơi văn tự rồi sau mới được thanh tịnh, vì Phật tánh vẫn thanh tịnh” (“Đại Bát niết bàn”- phẩm Văn tự ), mỹ học “vô ngôn” đã bao trùm lên quan niệm mỹ học Nho, mỹ học của đại chúng làm nên nét đẹp riêng biệt. Nó phản ánh sự khác biệt đối với tất cả các phạm trù mỹ học cơ bản của Nho giáo.
Thiền sư có thể tiếp xúc với văn hóa Nho trước khi sáng tác và sống trong môi trường văn hóa xã hội Nho gia. Dù bị xem là pháp thế gian, mỹ học Nho vẫn có chỗ đứng ít nhiều trong thơ thiền (chiếm vị trí thứ yếu). Yếu tố Nho - Thiền có thể cùng tồn tại làm đẹp một bài thơ thiền - “Cây khô trổ hoa, xuân kiếp ngoại – Cỡi ngược voi ngọc đuổi kỳ lân”- Động Sơn Ngộ Bổn). “Cây khô trổ hoa”, “cỡi ngược voi ngọc” là ngôn ngữ Thiền, sự phá chấp; “kỳ lân” là biểu tượng lòng nhân của Nho giáo. Bài thơ “Trú Vạn Kiếp” (Lê Thánh Tông) có sự so sánh giữa “hoa Ưu đàm không rễ” (Thiền), “hạt thóc lép” (Trang Tử) và “công tích an dân” (Nho). Mỹ học Thiền xây dựng trên cơ sở mỹ học trần thế cũng như cảnh giới Thiền được xây dựng trên pháp giới (sự tướng sai biệt). Nhưng điều tập trung nhất trong thơ Thiền là vị giải thoát, trí tuệ giải thoát, vẻ đẹp giải thoát, giải phóng. Đó là phát hiện mới, tư duy mới, cái mới của sự vượt qua (đáo bỉ ngạn), có khi đó là sự “thao thức”, “Thiền bệnh”. Nhưng ở đó không có vẻ thê uyển, bi lụy của văn học lãng mạn, hay bi cảm của bi kịch. Đối với Nho sĩ Đường Tống, việc giao lưu với Thiền sư là thú tao nhã, nhưng về sau yếu tố Thiền trong thơ Nho thiên về trang điểm, gợi cảm xúc nhưng thứ yếu như những mái chùa trên núi cao, tiếng chuông trong sương khói… Thậm chí yếu tố Nho lấn át rõ rệt: “Khách đến thăm chùa tìm cảnh đẹp - Người thì đâu nhớ, nhớ non sông” (“Đề Kim Âu sơn Phong Công tự”– Vũ Quỳnh).
Tóm lại, tìm hiểu hai quan niệm mỹ học là góp phần khảo sát phần tâm lý văn nghệ của hai trường phái. Thơ nho thế kỷ XIV – XV tuy đã chiếm lĩnh hoàn toàn diện mạo văn học nhưng mạch thơ Thiền vẫn tồn tại khiêm tốn, vẫn tươi đẹp trong chính các Nho sĩ.
Cai Lậy, tháng 5/2008
ThS.NCS Huỳnh Quán Chi
(Trường THPT Lưu Tấn Phát, Cai Lậy, Tiền Giang)