Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
07:19, Thursday.April 30 2026
Tánh không, Thuyết tương đối và Vật lý lượng tử (2)
 
Thế giới vi mô (microscopic) của cơ học lượng tử đã mang lại nhiều thách thức đối với sự hiểu biết thông thường của chúng ta, và đây chính là một trong những điều phi thường và thú vị của vật lí học hiện đại.
Vì ánh sáng có thể được thấy dưới hai dạng, hoặc là hạt (particle), hoặc là sóng (wave), và vì nguyên lí bất định (principle of uncertainty), ta không thể nào biết được một điện tử có chức năng gì và nó đang ở đâu20, và khái niệm vật lí lượng tử về sự chồng chập21 mang lại một cách hiểu hoàn toàn mới lạ so với vật lí học cổ điển, vốn cho rằng mọi vật đều có tính cách chỉ định và có thể tiên đoán được. Thí dụ, trong thí nghiệm tư tưởng nổi tiếng của ông Schrödinger về con mèo: một con mèo được đặt trong một cái thùng chứa chất phóng xạ có 50% khả năng phóng ra chất độc giết chết nó. Trong trường hợp này, ta phải đặt giả thuyết là cho đến khi nắp thùng được mở ra, con mèo này vừa sống lại vừa chết, và điều này có vẻ như là một nghịch lí.
 
Đối với một Phật tử Đại thừa được tiếp xúc với tư tưởng của Bồ tát Long Thọ, thì rõ ràng có một sự cộng hưởng giữa nguyên lí tánh không và vật lí hiện đại. Nếu vật lí học lượng tử cho biết rằng vật chất không rắn chắc và xác định như ta tưởng, thì tôi dám nghĩ rằng khoa học đang tiến dần đến tuệ giác của đạo Phật về tánh không và tính hỗ tương của sự vật. Trong một cuộc hội thảo ở New Delhi, tôi đã được nghe nhà vật lí học Raja Ramanan, được xem là một Sakharov22 của Ấn Độ, nhắc đến sự đồng hướng giữa triết lí tánh không của Long Thọ và cơ học lượng tử. Sau khi thảo luận với nhiều khoa học gia, tôi tin rằng những khám phá lớn lao của vật lí học kể từ thời Copernicus đang dẫn đến nhận thức rằng bản chất của thực tại không phải như ta nhìn thấy. Nếu ta quan sát và nghiên cứu thế giới này kỹ hơn - bằng phương pháp khoa học, bằng thí nghiệm, hoặc theo nguyên lí tánh không của Phật giáo, hay bằng phương pháp thiền quán - ta sẽ thấy rằng sự vật vi tế hơn nhiều, thậm chí, trong nhiều trường hợp, mâu thuẫn với những giả thuyết và cái nhìn thông thường của ta về thế giới.
 
Có thể ta sẽ đặt câu hỏi này: có tri giác sai lầm về thực tại đã đành rồi, nhưng nếu ta cứ tin tưởng rằng vạn vật hiện hữu và tồn tại một cách biệt lập và tự hữu, thì có tai hại gì không? Ngài Long Thọ cho rằng nhận thức này dẫn tới những hậu quả rất tai hại. Ngài giảng rằng tin tưởng vào sự tồn tại riêng rẽ của vạn vật khiến cho ta dễ rơi vào ngã chấp và cái nhìn lệch lạc khi ta tiếp xúc với thế giới bên ngoài và các loài hữu tình đang chung sống với ta trên quả địa cầu này. Khi ta cho rằng có những ngoại vật có tự tánh là sự quyến rũ, thì ta sẽ phản ứng trước các sự vật ấy với một tình cảm luyến ái, sai lạc, nhưng đồng thời trước những ngoại vật khác mà ta cho là có tự tánh không quyến rũ, ta lại phản ứng với một sự ghét bỏ sai lạc. Nói một cách khác, Ngài Long Thọ cho rằng chính sự nắm bắt lấy những sự vật tồn tại một cách biệt lập đưa tới phiền muộn, dẫn tới hàng loạt những hành động, phản ứng tiêu cực và, cuối cùng, dẫn tới khổ đau. Nói tóm lại, theo Ngài Long Thọ, nguyên lí tánh không không phải chỉ để thoả mãn những tò mò của trí năng về thực tại, mà còn hàm chứa một ý nghĩa sâu sắc về tâm lí và đạo đức.
 
Tôi có lần hỏi nhà vật lí học David Bohm, một người bạn của tôi, rằng: Đứng trên bình diện khoa học hiện đại, ngoài vấn đề nhìn và thấy sự vật một cách sai lầm ra, nếu người ta tin vào sự hiện hữu và tồn tại biệt lập của vạn vật, thì có gì không ổn không? Câu trả lời của ông rất hay và hữu lí. Ông nói rằng nhìn lại những chủ thuyết khác nhau đã từng chia rẽ nhân loại, như nạn kỳ thị chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hay thuyết đấu tranh giai cấp của Marx, ta thấy rằng nền tảng của các chủ thuyết này là cách nhìn các sự vật như chúng là những cá thể riêng rẽ, biệt lập. Từ sai lầm này dẫn đến một sai lầm khác là họ cũng tin tưởng rằng những vật thể nhỏ hơn nữa cũng có tính cách biệt lập và tự hữu. Câu trả lời của nhà vật lí học Bohm, dựa trên những nghiên cứu của ông về vật lí lượng tử, cũng chính là những ưu tư của Ngài Long Thọ cách đây gần hai ngàn năm về vấn đề đạo đức và cách nhìn sự vật theo kiểu này. Đành rằng, nói một cách chính xác, thì khoa học không quan tâm nhiều đến vấn đề đạo đức, nhưng có một điều chắc chắn là khoa học - một nỗ lực của con người - không tách rời khỏi hạnh phúc của nhân loại. Cho nên, câu trả lời của Bohm không có gì đáng ngạc nhiên cả. Tôi hy vọng chúng ta có thêm những nhà khoa học có cùng nhận thức như ông về mối quan hệ mật thiết giữa khoa học, khuôn khổ nhận thức của nó, và [sự sống còn của] nhân loại.
 
Theo tôi được biết thì khoa học hiện đại đã trải qua một cuộc khủng hoảng vào đầu thế kỷ XX. Những công trình vĩ đại trong vật lí học cổ điển của Isaac Newton, James Maxwell, v.v... đã cung cấp cho chúng ta những giải thích có vẻ rất là hiệu quả về thế giới, và chúng có vẻ thích hợp với trực giác thường tình của ta. Song, những công trình này đã bị thuyết tương đối và những khám phá về vật chất ở tầng vi mô [tầng dưới nguyên tử], gọi là cơ học lượng tử, xoáy mòn. Nhà vật lí Carl von Weizsäcker có lần giải thích với tôi rằng vật lí học cổ điển chấp nhận cái nhìn máy móc về thế giới. Với cái nhìn này, một số định luật vật lí có tính cách hoàn vũ gồm lực hấp dẫn và luật cơ học có khả năng xác định các mô hình tác động của vật chất một cách hữu hiệu. Trong khối kiến thức này, có bốn thực tại khách quan: vật thể, lực, không gian, và thời gian, và luôn luôn có một sự phân biệt rạch ròi giữa chủ thể (người quan sát) và khách thể (vật được quan sát). Thế nhưng, Weizsäcker nói, theo thuyết tương đối và vật lí lượng tử, thì trên nguyên tắc, chúng ta phải từ bỏ sự phân biệt chủ thể và khách thể, và cả sự tin chắc của ta vào tính khách quan của các dữ kiện nhận xét được. Tuy vậy, ông Weizsäcker nhấn mạnh, vấn đề là hiện nay ta chỉ có thể sử dụng những ngôn từ của vật lí học cổ điển khi nói về cơ học lượng tử và những thí nghiệm có khả năng mang lại một bức tranh mới về thực tại của nó, trong khi đó những ngôn từ này đã bị vật lí lượng tử bác bỏ23. Ngoài vấn đề này ra, ông cho rằng ta phải luôn luôn tìm hiểu về mối tương duyên chặt chẽ của tự nhiên và cải thiện nhận thức của ta về thực tại, khoa học, và chỗ đứng của con người một cách đúng đắn hơn dựa trên những tri thức mới mẻ nhất mà khoa học mang lại.
 
Dưới ánh sáng của những khám phá đó của khoa học, tôi nhận thấy rằng Phật giáo phải sẵn sàng xem xét lại những lí thuyết vật lí thô thiển trong thuyết nguyên tử sơ khai của Phật giáo để thích ứng với khoa học hiện đại, mặc dù nó đã có chỗ đứng vững chắc và lâu dài trong truyền thống Phật giáo. Thí dụ như, thuyết nguyên tử cổ xưa của Phật giáo, mà cho đến ngày nay vẫn chưa thay đổi gì lắm, cho rằng vật chất được cấu tạo bởi tám thành phần sơ đẳng được gọi là “nguyên tố”, đó là: thổ, thuỷ, hoả, và khí [tức tứ đại], cùng với sắc, hương, vị, và xúc [bốn trong sáu trần]. Đất có tính cứng, có sức chịu đựng; nước có tính mềm, và dính lại với nhau; lửa làm bốc hơi; và gió gây nên sự chuyển động. Một “nguyên tử” được xem là một sự tập hợp của tám thành tố này, và sự hiện hữu của vật thể trong thế giới vĩ mô được giải thích dựa trên nền tảng của sự kết tập của các khối nguyên tử này. Theo một tông phái rất xưa của Phật giáo, phái Tì-bà-sa bộ24 (Vaibhāṣika), những khối chất “nguyên tử” này là những thành phần nhỏ nhất của vật chất, không thể phân chia được nữa và không có thành phần cấu tạo. Khi những “nguyên tử” này kết hợp lại để tạo thành vật thể, trường phái Tì-bà-sa bộ cho rằng những nguyên tử rời này không va chạm vào nhau, mà nhờ không khí và những lực khác của tự nhiên ép chúng dính lại với nhau thành một hệ thống vật chất, thay vì co rút vào bên trong hoặc giãn nở vô hạn định.
 
Chắc chắn rằng những lí thuyết đó đã được phát triển trong cuộc giao đấu gay go với các tông phái triết học Ấn Độ, nhất là các thuyết luận lí (logical systems) của các học phái Chính Lí25 (Nyāya) và Thắng Luận26 (Vaiśeṣika). Nghiên cứu sách vở của triết học Ấn Độ từ thời xa xưa, ta thấy rằng có rất nhiều cuộc tranh luận, bàn thảo, đối thoại sôi nổi giữa các tông phái khác nhau. Những tông phái cổ điển như Phật giáo, Chính Lí học phái (Nyāya), Thắng Luận học phái (Vaiśeṣika), Di-mạn-sai học phái27,  (Mīmāṃsā), Số Luận học phái 28 (Sāṃkhya), và Bất nhị phệ-đàn-đa học phái29 (Advaitavedānta) có cùng mục tiêu, ý hướng và phương pháp luận. Những sự thảo luận sôi nổi này thúc đẩy sự phát triển của tri thức và sự chấn chỉnh các tư tưởng triết học, kể từ thời kỳ phôi thai của Phật giáo Ấn Độ cho đến thời trung đại và đương đại Tây Tạng.
 
Có lẽ một trong những lí thuyết nguyên tử xa xưa nhất được ghi lại trong hai cuốn A-tì-đàm tâm luận30 (Abhidharma-hṛdaya-śāstra) và A-tì đạt-ma đại-tì-bà-sa luận31 (Abhidharma-mahāvibhāṣā-śāstra) của Pháp Thắng32 (Dharmaśrī) thuộc phái Tìbà-sa bộ (Vaibhāṣika). Cuốn thứ nhất được các học giả sau này cho rằng ra đời vào khoảng giữa thế kỷ thứ II trước Công nguyên và thế kỷ thứ I sau Công nguyên. Mặc dầu quyển sách này chưa từng được dịch sang tiếng Tây Tạng, tôi được biết là có một bản dịch sang tiếng Trung Hoa vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên. Sách của Pháp Thắng cho thấy một sự cố gắng tinh tế trong việc hệ thống hóa những điểm then chốt của triết học Phật giáo sơ khởi, cho nên ta có thể kết luận rằng phần lớn những tư tưởng này đã phát sinh vào khoảng trước thời điểm quyển sách này ra đời. Trong khi đó, quyển A-tì đạt-ma đại-tì-bà-sa luận là một quyển sách tổng hợp, ra đời khoảng đầu thế kỷ I và III sau Công nguyên. Quyển sách này đưa ra một chủ thuyết của một tông phái triết học Phật giáo được cho là chánh thống, và vì thế đáp ứng được những thắc mắc cũng như gạt bỏ được những sự chống đối của các tông phái khác vì tính cách hữu lí của nó. Mặc dầu những lí lẽ trong quyển A-tì đạt-ma đại-tì-bà-sa luận khá quen thuộc với Phật giáo Tây Tạng, quyển sách này chưa bao giờ được dịch sang tiếng Tây Tạng một cách hoàn chỉnh.
 
Dựa trên hai quyển này, nhất là quyển sau, Thế Thân33 (Vasubandhu), một trong những ngôi sao sáng của Phật giáo Ấn Độ, cho ra đời quyển A-tì đạt-ma câu-xá luận34 (Abhidharmakośabhāṣyam) vào thế kỷ thứ IV sau Công nguyên. Quyển sách này tóm lược những điểm chính trong quyển A-tì đạt-ma đại-tì-bà-sa luận (Abhidharma-mahāvibhāṣā-śāstra của Pháp Thắng) và giảng giải sâu xa hơn nữa. Nó trở thành một trong những quyển sách chuẩn bàn về triết học và tâm lí học Phật giáo sơ thuỷ ở Tây Tạng. Hồi còn trẻ, tôi phải học thuộc lòng quyển sách này.
 
Về sự tập hợp của các nguyên tử và mối tương quan giữa các nguyên tử và các thành phần của nó, Phật giáo sơ thuỷ sản sanh ra đủ mọi triết thuyết, nhưng chỉ là dựa trên sự suy luận mà thôi. Có một điểm thú vị là trong quyển A-tì đạt-ma câu-xá luận có nói đến kích thước của các loại “nguyên tử” khác nhau, thí dụ một “hạt”, đơn vị nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, bằng khoảng 1 phần 2400 kích thước của một “nguyên tử thỏ” (rabbit’s atom), tôi không biết nghĩa là gì (whatever it means). Tôi thực tình không biết Ngài Thế Thân tính làm sao ra con số này nữa!
 
Mặc dầu chấp nhận thuyết nguyên tử căn bản, một số tông phái Phật giáo không tin rằng nguyên tử là vật nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa (bất khả phân). Một số thậm chí đặt nghi vấn về bốn khối chất sắc, hương, vị và xúc [tứ trần] là những thành phần căn bản tạo nên vật chất. Ngài Thế Thân rất nổi tiếng về những lời phê bình của ông về lí thuyết cho rằng thật có những nguyên tử bất khả phân tồn tại một cách khách quan. Ông lí luận rằng nếu có những nguyên tử tồn tại biệt lập, thì làm cách nào giải thích các vật thể quanh ta? Để cho những vật thể này có mặt, ta phải giải thích được làm cách nào các nguyên tử kết tập lại với nhau để tạo thành những hệ thống [vật chất] phức tạp35.
 
[Theo Ngài Thế Thân], nếu quả thực có một sự kết hợp như vậy, thì ta hãy tưởng tượng ra một mô hình trong đó có một nguyên tử chính được sáu nguyên tử khác vây quanh, bốn nguyên tử ở bốn góc, một ở trên, và một ở dưới. Như vậy thì, cái phần mà hạt nguyên tử ở chính giữa tiếp xúc với hạt nguyên tử ở phiá đông có cũng tiếp xúc với hạt nguyên tử ở phiá bắc luôn hay không? Nếu không, thì cái nguyên tử ở chính giữa phải có nhiều hơn một phần, và như vậy có nghĩa là nó còn có thể bị phân chia thành nhiều phần nhỏ hơn nữa; như vậy hạt nguyên tử ở chính giữa có một phần tiếp xúc với hạt nguyên tử ở phiá đông, và một phần khác tiếp xúc với hạt nguyên tử ở phiá bắc. Ngược lại, nếu cái phần tiếp xúc với hạt nguyên tử ở phiá đông cũng tiếp xúc với hạt nguyên tử ở phiá bắc, thì không có lí gì cái phần đó lại không tiếp xúc với tất cả các hạt nguyên tử kia. Và, trong trường hợp đó, Thế Thân lí luận, vị trí trong không gian của cả bảy nguyên tử đó (sáu nguyên tử vây quanh và một nguyên tử chính giữa), sẽ trùng nhau, và tất cả sẽ hợp lại thành một nguyên tử duy nhất. Với suy luận như vậy, Thế Thân nói rằng không thể nào giải thích thế giới vĩ mô này bằng quan niệm về sự kết tập (aggregration) của những vật thể đơn thuần, như là nguyên tử bất khả phân.
 
Bản thân tôi chưa bao giờ hiểu được quan niệm cho rằng những thành phần cơ bản tạo nên vật chất là sắc, hương, vị, xúc36. Nhưng tôi hiểu được làm thế nào người ta có thể đưa ra một lí thuyết ở tầng nguyên tử về vật chất như vậy. Dù sao, tôi cảm thấy rằng về phương diện này, tư tưởng Phật giáo, mà nói cho cùng thì mới chỉ là một môn vật lí có tính cách ức đoán và sơ đẳng, bây giờ cần phải được thay đổi dưới ánh sáng mới của vật lí học hiện đại, một lãnh vực đã hiểu một cách cặn kẽ với những tri thức đã được chứng minh bằng thí nghiệm, rằng thành phần cấu tạo của vật chất là những điện tử xoay quanh một hạt nhân, trong có protons và neutrons (trung hòa tử). Nếu ta đọc về sự mô tả của vật lí hiện đại về các hạt ở tầng dưới nguyên tử như quarks và leptons37, thì ta sẽ thấy rõ ràng rằng lí thuyết của Phật giáo sơ thuỷ và quan niệm về những nguyên tử bất khả phân nhiều lắm cũng chỉ là những mô hình thô thiển. Tuy vậy, khái niệm căn bản của đạo Phật về vật thể - cho dù là một vật thể vi tế nhất cũng phải được nhìn như là một vật cộng hợp (composite)38 - cho đến nay, vẫn là điều đúng.
 
Một trong những động lực (motive) lôi cuốn khoa học và triết học vào việc tìm hiểu những thành phần cấu tạo cơ bản của vật chất là sự tìm kiếm những thành phần tối hậu không thể phân chia được nữa [nhỏ nhất]. Điều này không những hấp dẫn các nhà triết học Ấn độ cổ xưa và các nhà khoa học hiện đại, mà còn lôi kéo các khoa học gia cổ đại của Hy Lạp, những người được mệnh danh là “những nhà theo thuyết nguyên tử” (atomist). Đây là cái gọi là “cuộc hành trình đi tìm kiếm cái bản chất thực sự của thực tại”, tuỳ theo người ta hiểu nó như thế nào. Nhưng Phật giáo cho rằng cuộc tìm kiếm này sai lầm ngay từ căn bản, vì nó đã bị lạc hướng ngay từ đầu. Có một thời khoa học đã đoan chắc rằng khi tìm ra các nguyên tử, người ta đã tìm thấy cái bản chất thực sự của vật thể, nhưng những thí nghiệm vật lí ở thế kỷ XX đã phân tách nguyên tử ra thành nhiều phần nhỏ hơn nữa. Mặc dầu có ít nhất một quan niệm trong vật lí lượng tử cho rằng vĩnh viễn người ta sẽ không bao giờ có thể tìm thấy một cái hạt nhỏ nhất tồn tại khách quan và bất khả phân, nhưng hiện nay vẫn có nhiều nhà khoa học nuôi hy vọng sẽ tìm thấy những cái vi hạt tối hậu ấy.
 
Mùa hè năm 1998, tôi đến thăm phòng thí nghiệm của nhà vật lí học người Úc Anton Zeilinger tại Đại học Innsbruck. Anton đưa cho tôi xem một công cụ có thể nhìn thấy một nguyên tử đơn độc đã bị ion hoá39 (ionized). Nhưng, rất tiếc, mặc dầu đã cố gắng, tôi vẫn không thể chứng mục được cảnh tượng huyền diệu đó. Có lẽ tôi chưa đủ duyên.
Tôi gặp Anton lần đầu tiên trong cuộc hội thảo Mind and Life (Tâm thức và Cuộc sống) tại Dharamsala năm 1997. Ông có nhiều điểm trái ngược với nhà vật lí học David Bohm: to con, để râu, và đeo kiếng. Ông có tính khôi hài và mỗi khi ông cười thì cả cơ thể của ông cũng cười theo. Là một nhà vật lí học thực nghiệm, ông hoàn toàn cởi mở trong việc chấp nhận thẩm định lại toàn bộ vấn đề lí thuyết dựa trên kết quả của những thí nghiệm mới mẻ. Ông thích thú tìm hiểu Phật giáo trên bình diện lí thuyết, để so sánh tư tưởng của Phật giáo và vật lí lượng tử, vì ông nhận thấy rằng cả hai đều phản đối bất kỳ một ý niệm nào về một thực tại khách quan và biệt lập. Cũng trong cuộc hội thảo này, tôi đã gặp gỡ nhà vật lí học người Mỹ Arthur Zajonc. Ông có giọng nói nhẹ và cặp mắt vô cùng sắc sảo, nhất là khi ông tập trung vào một điều gì. Ông là một thầy giáo có tài, và có khả năng giảng giải những đề tài phức tạp nhất một cách rõ ràng. Là thư ký của buổi hội thảo, ông có khả năng tóm lược, đúc kết những cuộc thảo luận một cách cô đọng, và điều này đã giúp ích cho tôi rất nhiều.
 
Vài năm trước đó, tôi đã có vinh hạnh được viếng thăm Viện [nghiên cứu] Niels Bohr ở Copenhagen và mở một cuộc đối thoại thân mật với các khoa học gia của Viện. Mấy ngày trước, trong vài ngày ngắn ngủi ghé Luân Đôn, tôi đã mời nhà vật lí học, David Bohm và phu nhân của ông đến dùng cơm trưa tại khách sạn mà tôi đang tạm trú. Nghe nói tôi sắp có một cuộc đối thoại về mối quan hệ giữa triết học Phật giáo và vật lí học tại Viện nghiên cứu Bohr, Bohm đã ưu ái mang cho tôi hai trang tóm lược của Bohr về tư tưởng của ông đối với bản chất của thực tại. Thật là phi thường khi nghe Bohm mô tả về mô hình “hành tinh hệ” (planetary model) của nguyên tử của Bohr và mô hình Rutherford, cả hai đều bắt nguồn từ mô hình “mứt mận” (“plum pudding” model). Hai mô hình này nói rằng nguyên tử là một hạt nhân với các điện tử xoay quanh.
 
Mô hình “mứt mận” nảy sinh vào cuối thế kỷ thứ XIX, sau khi J. J. Thompson khám phá thấy sự có mặt của các điện tử mang điện tích âm. Ông tin rằng điện tử mang điện tích dương có vai trò cân bằng điện tử mang điện tích âm được trải khắp nguyên tử như là mứt mận, và các quả mận là những điện tử. Song, sang đầu thế kỷ thứ XX thì Ernest Rutherford khám phá ra rằng khi các hạt alpha mang điện tích dương được bắn vào một tấm lá vàng mỏng, phần lớn các hạt này đi xuyên qua được, nhưng có một số bị dội lại. Ông đã kết luận một cách chính xác là điện tích dương của nước có chứa điện và vì thế có khả năng hoá hợp với một ion đối nghịch. các nguyên tử vàng không thể trải đều khắp các nguyên tử như là mứt mận, mà chúng tập trung lại nơi điểm giữa của nguyên tử: khi một hạt alpha đụng phải trung tâm của một nguyên tử vàng, điện tích dương đã đủ để đẩy chúng ra. Từ đó Rutherford đưa ra mô hình “thái dương hệ” (solar system) của một nguyên tử, trong đó hạt nhân có điện tích dương được vây quanh bởi các điện tử mang điện tích âm. Sau đó, Niels Bohr đã cải tiến mô hình thái dương hệ của Rutherford thành mô hình “hành tinh hệ” (planetary model) của nguyên tử, và đây chính là cha đẻ của cơ học lượng tử.
 
Trong buổi nói chuyện, Bohm cũng có kể sơ với tôi về cuộc thảo luận từ lâu giữa Bohr và nhà bác học Einstein về cái nhìn của họ đối với vật lí lượng tử. Nội dung của cuộc thảo luận này xoay quanh sự phản bác của Einstein về giá trị của nguyên lí bất định (uncertainty principle). Điểm chính yếu của nó xoay quanh vấn đề là thực tại, trên căn bản, có phải là bất định, bất khả tiên tri, và theo xác suất (probabilistic) hay không. Einstein cật lực phản đối điều này, như trong bài viết “God does not play dice!” (Thượng Đế không chơi trò xúc xắc) của ông. Điều này khiến tôi liên tưởng đến các cuộc tranh luận trong lịch sử của Phật giáo Tây Tạng đã đóng vai trò trọng yếu như thế nào đối với việc thiết lập và cải tiến các tư tưởng triết học.
 
Khác với các triết gia Phật giáo, các nhà vật lí học hiện đại có khả năng mở rộng nhãn quan rất nhiều nhờ sự trợ giúp của các công cụ khoa học như những tấm kính viễn vọng khổng lồ, ví dụ như kính viễn vọng Hubble, hoặc của các kính hiển vi điện tử. Kết quả là những hiểu biết thực chứng gặt hái được về các thực thể vật chất vượt xa sức tưởng tượng của con người ở thời cổ đại. Với cái nhìn đó, tôi đã từng đề nghị đưa vào các trường đại học Phật giáo môn vật lí căn bản. Tôi nhấn mạnh rằng đây không phải là đưa vào một môn học mới, mà chỉ là cập nhật hóa chương trình đã có sẵn mà thôi. Tôi rất vui mừng khi thấy các trường đại học Phật giáo đã thường xuyên tổ chức những buổi học thêm về vật lí hiện đại, do các giáo sư vật lí và các sinh viên cuối ban tiến sĩ của các đại học ở Tây phương tổ chức. Tôi hy vọng rằng những nỗ lực bước đầu này sẽ dần dần tiến đến việc đưa môn vật lí hiện đại vào chương trình triết học của các thiền viện Tây Tạng.
 
Mặc dầu tôi đã từng được nghe về thuyết tương đối của Einstein cách đây khá lâu, David Bohm là người đầu tiên giải thích về nó và về ý nghĩa triết học của nó cho tôi. Vì tôi không có căn bản về toán học, giảng dạy cho tôi về vật lí hiện đại, nhất là những đề tài hóc búa như là thuyết tương đối, là điều không dễ dàng chút nào! Mỗi lần nhớ lại sự kiên nhẫn của Bohm, giọng nói nhẹ và cử chỉ dịu dàng, và sự lo lắng làm cách nào cho tôi có thể lãnh hội được những điều ông giảng, là tôi lại thấy nhớ ông da diết.
 
TENZIN GYATSO, ĐẠT LAI LẠT MA XIV
Trần Uyên Thi
dịch (và chú giải)
(Nguồn: trangnhahoaihuong.org)
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này