Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
03:10, Saturday.May 23 2026
Suy nghĩ về "Hiện tượng Upanisad" trong cảm nhận thơ Thiền và thực hành thiền nhân đọc một bài thơ
 
Nếu thơ yêu thương là đỉnh cao của sự giao hoà con người với con người, với thiên nhiên thì thơ thiền như là một vệt sáng chứng minh cho độ hoàn hảo của sự giao hoà đó. Thơ thiền - một dạng thức độc đáo của thi ca nhân loại, những bài thơ đó xuất hiện trong những giây phút thăng hoa tuyệt vời hoặc những sự kiện trọng đại hoặc có khi quay về hiện thực đáng yêu với tâm hồn an lạc của người hành giả Thiền tông - người thi sĩ.

Chủ yếu "những tác giả" này hay làm thơ và chắc chắn không cố tình trở thành một thi sĩ. Nhưng vô tình chính "thiền lý", "Thiền ý" đã làm cho các thi sĩ Thiền cảm nhận tinh tế thực tại cuộc sống, thực tại vũ trụ đáng yêu trong từng sát - na (2), từng ý niệm (3),từng giọt sương (4).

. Thời hoàn kim của thơ Thiền là thời Lý Trần (Thế kỷ X- XIV), càng về sau Thiền học Việt Nam có dầu hiệu suy kém dần. Nhiều sự nhầm lẫn liên tục diễn ra về mặt giáo lý. Hiện nay, hầu hết các tự viện Phật giáo đều là Lâm Tế chánh tông, trong nghi thức, trong văn bản (phái qui y) đều ghi nhận như vậy nhưng đa số đã không còn biết rõ bản sắc "Thiền Lâm Tế"! Trong những buổi pháp thoại (nói pháp) ở các pháp hội (nơi nghị luận về pháp) (ở đây pháp là Thiền) lại có nhiều hiện tượng pha tạp, tình trạng "Tịnh hoá Thiền" là khá phổ biến. Ngoài ra hiện tượng Upanishad trong Thiền cũng dễ lầm lẫn và dễ trở thành một sự "ngoại lai".

Lưu truyền dưới mái thiền lâm hôm nay, nhiều nơi người ta hay nhắc đến một bài thơ Thiền xem như là một mẫu mực :
"Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Năm nay tính lại, chừng ... quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ như " (6)
( Lời tựa "Triết học Phật giáo" - Nxb Tân Việt - S- 1958) (“Tuyện tập Phan Văn Hùm" – Nxb VHTT. 2003 trang, 288)

Nếu người thưởng thức thơ Thiền chưa phải Thiền sinh thực tập Thiền, chưa thật sự là "tri âm" của thi sĩ Thiền thì người đọc vẫn có thể thưởng thức bài thơ qua mối giao hoà con người - vũ trụ, sự tồn sinh của thế giới, niềm tin cuộc sống thông qua cơ chất của sự kết hợp ngôn ngữ phóng khoáng; tạo cảm giác nhẹ nhàn siêu thoát ... với nhãn tự "như".

Nếu quay về quê hương Ấn Độ, ngay cả trong truyền thống nguyên thuỷ, ta sẽ tìm thấy nhiều điều thú vị. Từ chiếc nôi dưới chân núi Hy - mã - lạp - sơn, tư tưởng Thiền đã từng bước lớn mạnh, phá vỡ "tháp ngà" để "đại chúng hoá", trở về với tinh thần tinh tuý đích thực. Thiền có thể chuyển đến tất cả mọi đẳng cấp, mọi thành phần xã hội, không phải độc quyền ở tăng lữ. Trên hanh trình lan toả, Thiền đã thăng hoa trên mảnh đất Trung Hoa và đi xa hơn nữa. Nhưng về lịch sử phát sinh, Thiền Phật giáo là một cuộc cách mạng tư tưởng trên nền của Bà La Môn giáo trong lòng một xã hội đậm chất đẳng cấp phát sinh và phát triển trên cơ tầng địa văn hoa như thế đương nhiên tiềm thức văn hoá Bà La Môn giáo ít nhiều ảnh hưởng đến Phật giáo (sau này sự phát triển của Ấn Độ giáo luôn là sự thu hút, rút tỉa nhiều thành tựu từ Phật giáo lại là một vấn đề khác).

Nhiều cổ mẫu Bà La Môn giáo vẫn tồn tại trong Phật giáo, như chữ "Vạn" - một dấu hiệu, một biểu tượng hơn là ký tự - vẫn tồn tại cả trong Phật giáo và Bà La Môn giáo. Văn Thù Sư Lợi được gọi là Pháp Vương Tử, sinh ra từ miệng Phật, cũng vận dụng môtip, đẳng cấp tăng lữ Bà La Môn sinh ra từ miệng Brahma (7) . Ngay cả một "phạm trù" cực kỳ quan trọng : "Chân như" đã tồn tại ở kinh Phật lẫn Upanishad. Điều đó đã tạo nên những nhầm lẫn ít được nhận ra và ảnh hưởng lớn đến các công trình thực nghiệm triết lý, tạo nên những chứng "Thiền bệnh", "bệnh chấp" rất tinh vi, và qua nhiều bài thơ thiền ta có thể nhận ra ký hiệu đó.

Khái niệm "chân như" tồn tại rất phổ biến ở Upanishad - một cổ thư Ấn Độ (8), một công trình kinh điển độc đáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến gương mặt văn hoá Ấn Độ cổ xưa. Với những chiêm nghiệm, suy luận hết sức độc đáo, Upaníshad là nhửng tri thức siêu đẳng từ xa xưa, tổng kết những kinh nghiệm về vũ trụ, nhân sinh "chân như" được xem là bản thể tối thượng của mọi sự vật hiện tượng : "Chân như là động, chân như là tịnh, chân như là xa, chân như là gần, chân như ở trong toàn thể này mà chân như cũng ở ngoài toàn thể này" (Isha Upaníhad - V).

Từ việc khảo sát vận động, biến đổi củ sự vật hiện tượng, Upanihad đã tìm thấy bản chất nằm ở phía dưới những thay đổi ở cấp độ hiện tượng. Bản chất đó là "Hằng hữu", "cả vũ trụ tráng lệ này chỉ là Hằng hữu" (Mundaka Upaníhad -II, 11).

Theo Thiền sư Phổ Chiếu (Cao Ly) trong "Chơn tâm trực thuyết" thì hàng loạt các thuật ngữ tương đồng vời Chân như được đối sánh với nhau thông qua những tác phẩm kinh điển. "Đại thừa khởi tính luận" gọi là chân như, "Kinh kim quang minh" (Mật tông) gọi là "như như", và cùng một nội dung duy nhất ấy còn có những tên gọi khác. "Kinh Bát nhã" gọi "Bồ đề", "Kinh Hoa nghiêm" gọi là "Niết bàn", "Kinh tịnh danh" gọi là "Pháp luân", "Kinh Viên giác gọi là "Tổng trì", "Kinh Thắng man" gọi là "Như lai Tạng", "KInh Liễu nghĩa" gọi là "Viên giác"8. Dĩ nhiên khái niệm "Chân như" Phật giáo nằm trong một hệ hình (Paradisme) mới, nó đã dược nâng cấp lên rất nhiều so với Upanihad (10) .

Hai câu :
"Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng khơng dư"
Tương ứng với "tám vạn tư" phương tiện, phương pháp truyền trao tư tưởng Thiền, "dĩ tâm ấn tâm". Người thi sĩ vận dụng thành ngữ "không thiếu cũng khôg dư" như là sự vượt trên tri kiến, tri chướng để hoà nhập vào "đại thể", đưa người đọc vào một cảm giác ngọt ngào, siêu thoát, phiêu dật. Tầm cao thi hứng đạt tới sự "vô chấp", vô chấp những tri thức thu nhập được trên sân khấu cuộc đời và những tri thức của tiền nhân để lại - Từ đó, một người có thể "đứng trên vai người khổng lồ" và trở thành vĩ đại. Nhưng người thi sĩ Thiền đã khiêm tốn, dù một thời gian dài tiếp nhận văn hoá "Không thiếu" nhưng cũng nói giảm "không dư". Nhưng rồi chủ thể phải "quên hêt", quên hết chắc chắn không phải là phủi sạch. Biết đâu "quên chính mình là điều kiện để nhớ", nhớ "sâu sắc" (11). Ta có cảm giác dường như quên hết mới sáng tỏ, không đóng chặt cửa một căn phòng để đón hương sắc tạo vật đi từ nhiều cửa khác nhau.

Ở câu thơ "Chỉ nhớ trên đầu một chữ như", con mắt thơ nằm ở cuối câu, ở chữ "như". "Như" có thể hiểu la "như thị" (như thế), khhông cần bàn, mọi việc đã như vậy, như tồn tại khách quan. Nhưng đúng hơn đó là "như như" hoặc là "chân như" - đồng nghĩa với "Phật tánh". Tức là đạt đến trình dộ cao nhất của người tu thân - trở thành đồng nhất với giáo chủ! "Như như" đã từng là khát khao trong thơ Từ Đạo Hạnh (? - 1117) :
"Dám mong chỉ lối bày phươg tiện
Nhìn rõ "chân như" khổ hận vơi" (12)
Và trong thơ Thiền hiện đại, ý niệm về "chân như" vẫn sóng sánh tứ thơ :
"Nguyệt tà vẽ bóng chân như
Tình em lá nõn về từ mùa xuân"
(Mái chèo vô thức - Võ Minh Trang) (13)

Kết thúc sống động, lay động, lan toả nhưng bài thơ mà tác giả ghi trên vách chùa này không phải là bài thơ cuối cùng như các bài thơ Thiền thường thấy ở các tập "Ngữ lục". Nếu người đọc tiếp nhận bài thơ như một bài thơ Thiền đích thực thì sẽ không ổn. Độ sâu sắc của bài thơ so với chân lý Thiền chỉ là tương đối. Quan niệm của Bà La Môn Giáo đỉnh cao là hoà nhập với vũ trụ như một "tiểu ngã" trong "đại ngã", trở về với Brahma về với "mái nhà xưa", với quê hương, với "cộng ngã gia". Đó không phải là giai đoạn cuối cùng của Thiền! Nhưng "chân như" theo Upanihad có thể giúp ta thanh thản, khoan dung, mở rộng tâm hồn trong trạng thái "vô tâm", ở đâu cũng là chính mình... Ở đó cũng không phải là Thiền đích thực, cũng tương tự "chấp không" chưa phải là Thiền.
"Mạc dị vô tâm vân thị đạo
Vô tâm do cách nhất trùng quan"
(Trần Thái Tông).
(Chớ bảo vô tâm là chứng đạo
Vô tâm cách đạo một trùng cửa quan).
"Vô "là một sự ngộ nhận, một quan ải mà "chân như" - ở đây như một đối tượng nhận thức - cũng là một quan ải khác. Tuy nhên, về mức độ lệch chuẩn (chấp) thì cái sau (chân như) tinh tế hơn.Ngay trong cấu trúc lâm thời của bài thơ, tác giả chưa cho ta tín hiệu gì để vượt trên quan niệm Upanishad.

Tư tưởng Upanishad đã từng ngự trị ở Chân Lạp, Chiêm Thành, Phù Nam (Quốc gia bị Chân Lạp thôn tính thôn tính thế kỷ VII - Nam Bộ ngày nay), nhưng ở đây do tác giả đã "dừng lại" bên hành trình "Tây du". Nếu tầm đón nhận của người đọc thấp hoặc bằng người sáng tác thì ở đây cả độc giả và tác giả đều dừng lại bên cảm hứng vũ trụ của Brahma! Nếu chúng ta dùng khái niệm của Upanishad ở đây thì nội dung bài thơ vẫn không đổi.

Trường phái thơ Thiền Việt Nam vẫn "trường sinh", ban sơ nó ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, đến giữa và cuối Thế Kỷ XX nó lại tiếp thu nghệ thuật của những hình thức nghệ thuật Phương Tây hiện đại. Riêng bài thơ này tuy không phải là bài thơ thật xuất sắc nhưng qua tìm hiểu bài thơ Thiền này, ta đã góp phần tìm hiểu mạch thơ Thiền bất diệt.


Chú thích :
(1) " Khoảnh khắc đốn ngộ trong thơ Thiền" - Nguyễn Thị Bích Hải.
(2) Mãn Giác Thiền sư : "Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai".
(3) "Tiễn khách" - Minh Đức Triều Tâm Ảnh (Tuyển tập một ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam - Thái Doãn Hiếu - Hoàn Liên - NXB VHDT - H- 1997) :
"Chén trà hương đã nhạt
Khách tục đã về lâu
Ta bước qua bụi trúc
Gỡ chiếc lá vàng sâu".
(4)"Ai về" - Thân Thị Ngọc Quế (Tuyển tập một ngàn năm thơ Việt Nam) :
"Ai về khoát cả nắng vàng
Cho vườn chùa nở cánh hoàng lan hương
Ngở mình là một giọt sương
Long lanh trong cõi diệu thường đó chăng".
(5) Lời tựa "Triết học Phật giáo" - NXB Tân Việt - S- 1958.
(6) Đến Nhật Bản, thơ Thiền ồn tại tiếp biến ở dạng Haiku, đến Trung Hoa ý Thiền tiếp xúc với Luật Đường trong thi ca, thơ Thiền ở dạng Đường Luật (Kể cả bài thơ "Vô" của Huệ Khai mở đầu "Vô môn quan" gồm 20 chữ "Vô" trên 4 câu).
(7) Phần cuối của hệ thống Vệ Đà.
(8) "Chơn tâm trực thuyết" - Thiền sư Phổ Chiếu - Tu Viện Chơn Không - 1973 - Trang 21- 22.
(9) "Chính Sakya Muni là một tăng sĩ và vinh quang của Ngài là vinh quang củangươi2 có trái tim mênh mông đã triển khai những chân lý ẩn khuất trong các kinh Veda và đem truyền bá rộng rãi trên toàn thế giới" (Swami Vivekananda - "Phật giáo, sự hoàn thiện Hindu giáo" - Lương Duy Thứ, Phan Thu Hiền - Phan Nhật Liên - Đại cương văn hoá Phương Đông - Nxb Giáo Dục H - 1996 - Trang 230.
(10) "Nửa chừng quên bẳng bốn điều
Cuối cùng chợt nhớ năm điều đã quên"
(Nam Hải Điếu Đồ tặng Hồng Sơn Liệp Bộ - Bùi Giáng).
(11) Nguyên văn : " Vấn Kiều Trí Huyền" :
"Cửu bổn phàm trần vị thức câm (kim)
Bất tri hà xứ thị chân tâm
Nguyện thuỳ chỉ đích lai phương tiện
Liễu kiến như như đoạn khổ tầm".
(12) Toàn bài :
"Về xem trăng ngã màu thiền
Nhịp tim từ Thức động miền tịch hư Nguyệt tà vẽ bóng chân như
Tình em lá nõn vế từ mùa xuân"
("Tuyển tập một ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam" - Thái Doãn Hiếu - Hoàng Liên - NXB VHDT - H -1997).



Tài liệu tham khảo :

1. Stephen Addiss - Nghệ thuật Zen – Tư Tam Định, Nguyễn Minh Châu dịch – NXB VHTT - H – 2001.
2. Đoàn Văn An – Triết học Zen – T 1,2 – NXB Đông Phương – S -1963, 1964 .
3. Áo nghĩa thư (Upanishads) - Shrĩ Aurobinado bình giải - Thạch Trung giả dịch - NXB An Tiêm - S - 1972.
4. Dark Templar - Cách đọc thơ Thiền -
http://thivien.maihoatrang.com/forums/viewforum.php
5. Thái Doãn Hiếu, Hoàng Liên – Tuyển tập một ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam – NXB VHDT – H- 1997.
6. Đông Hồ - "Thiền vị, đạo vị, thi vị trong văn chương Việt Nam" -
http://thivien.maihoatrang.com/forums/viewforum.php
7. Phan Văn Hùm - "Triết học Phật giáo" - NXB Tân Việt - S- 1958 ).
8. Nguyễn Phạm Hùng – Thơ Thiền Việt Nam những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật – NXB ĐHQG – H- 1998 .
9. Nguyễn Lan – Việt Nam Phật Giáo sử luận – T 1,2,3 – NXB Văn Học – H- 2000.
10. Nguyễn Công Lý – Văn học Phật giáo thời Lý Trần diện mạo và đặc điểm – Nxb ĐHQG TP.HCM – 2002.
11. D. T. Suzuki , Erich Fromm, Richard de Martino – Thiền và Tâm phân học - Như Hạnh dịch – NXB Kinh Thi – S – 1973.
12. Phạm Công Thiện – Tiểu luận về tổ sư Thiển Tông Bồ Dề Đạt Ma – NXB Tôn Giáo – H – 2003.
13. Thích Thái Không - Ngôn ngữ Thiền và thi ca -
http://thivien.maihoatrang.com/module.php
14. Đoàn Thị Thu Vân – Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của Thơ Thiền Việt Nam Thế kỷ XI – Thế kỷ XIV – TTNCQH & NXB Văn Học H – 1996.
15. Vô Môn Huệ Khai - Vô môn quan - Trần Tuấn Mẫn dịch - Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam - Tp. HMC 1995.
16. Nguyễn Q. Thắng - "Tuyển tập Phan Văn Hùm"- Nxb VHTT, H. 2003.
Thích Danh Thắng - "Văn học so sánh - một số vấn đề phương pháp nghiên cứu thơ Thiền Việt Nam" -
http://www.chuyenphapluan.com/detail...uuthothien.htm
17. Thiền sư Phổ Chiếu - "Chơn tâm trực thuyết" - Tu Viện Chơn Không - 1973.
18. Lương Duy Thứ, Phan Thu Hiền - Phan Nhật Liên - Đại cương văn hoá Phương Đông - Nxb Giáo Dục H - 1996.
19. "Tuyển tập một ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam" - Thái Doãn Hiếu - Hoàng Liên - NXB VHDT - H -1997).

(Th.S Huỳnh Quán Chi - Tập san Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Tp..HCM số 32/ 9-2005) (có sửa chữa bổ sung )

Th.s.NCS. Huỳnh Quán Chi

Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này