Xưa ở đời Đường Trung Quốc, có người khách đến hỏi vị Tăng: “Phật là gì”?. Tăng đáp: “Phật là nụ cười lành”.- “Tại sao Phật lại là nụ cười lành”? – “Vì nụ cười lành là gốc muôn duyên lành”.
Thông thường chúng ta luôn cho rằng Phật phải là một cái gì cao siêu và đặc biệt lắm. Vì thế bôn ba lặn lội kiếm tìm nhưng mãi hoài chẳng thấy. Ai hay đâu ngờ Phật luôn hiện hữu khắp mọi nơi và trong từng tiếng cười hơi thở của con người! Biến chiếu là vậy, thần thông là thế. Phật là nụ cười lành. Thật đơn giản.
Nụ cười lành là một chất liệu của niềm vui. Nó tượng trưng cho một tâm hồn nhẹ nhàng, một tinh thần hoan hỷ. Một nụ cười được xuất phát từ tâm hồn an vui sẽ trở nên dễ thương dễ mến vô cùng, và sẽlàm cho con người gần gũi nhau hơn. Nếu một nụ cười được cười bằng một vẻ đẹp từ cõi lòng hoan hỷ, phát xuất từ nguồn an lạc trong tâm, thì nụ cười đó chính là nụ cười lành, một nụ cười khi không còn bị phiền muộn trong tâm trói buộc, nụ cười đó sẽ chuyển hóa nỗi khổ niềm đau.
Và nụ cười lành là gốc của muôn duyên lành. Muôn việc lành muốn thành tựu đều phải bắt nguồn từ gốc này mà ra. Vì sao? Bởi lẽ, một tâm hồn đau khổ, một cõi lòng luôn bị áp bức đè nặng thì đau thương chính là bãi chiến trường của sự khổ não.Do đó nụ cười là phương cách để ban vui cứu khổ, là pháp vị cam lồ dập tắt hận sân, là động lực khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ, đem lại nguồn sức sống hướng dẫn con người theo con đường hành thiện.
Trong Phật giáo, nụ cười của đức Phật Thích Ca được gọi là nụ cười Từ Bi an lạc; nụ cười của đức Di Lặc là nụ cười hỷ xả hoan hỷ và nụ cười của Tổ Sư Ca Diếp trong hội Linh Sơn “niêm hoa vi tiếu” là nụ cười vi diệu của Thiền Tông. Tuy nhiên, nụ cười hỷ xả hoan hỷ lại là một nụ cười mang tính “đời nhất”.
Hằng năm, vào mồng một Tết, chúng ta thường đến chùa rước vía đức Di Lặc, một vị Bồ Tát được Phật Thích Ca thọ ký xuống cõinhân gian tu hành, thay thế Đức Thích Ca hoằng truyền chánh pháp cứu độ chúng sinh, thành Phật hiệu Di Lặc.
Chữ Di Lặc, dịch nghĩa tiếng Phạn là Từ Thị, tức là có lòng từ bao la khắp chốn. Ở Việt Nam thường quen gọi trại là Di Lạc. Theo Hán Việt, Di có nghĩa tràn đầy, Lạc là niềm an vui. Di Lạc có nghĩa là tràn đầy niềm an vui, thể hiện bằng tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả. Đó là biểu tượng của cõi lòng vô trược, vô uế, vô sầu, vô ưu, vô khổ não… được thể hiện trên khuôn mặt an vui và nụ cười đôi môi luôn hoan hỷ, mặc dù xung quanh Ngài đầy những hiểm nguy nhưng Ngài vẫn an nhiên với một tinh thần bất nhiễm.
Quy ngưỡng và đảnh lễ trước hình tượng Ngài, nhắc nhở chúng ta phải luôn trở về bản tâm, khơi nguồn an lạc, đánh thức bản tính thiện trong chúng ta trỗi dậy để thăng hoa cuộc sống tâm linh mỗi người.
Con người sinh ra, ai cũng có cuộc đời riêng biệt. Không một ai sung sướng mà không có khổ đau và không một ai giàu sang mà chưa thiếu thốn. Cuộc đời luôn gặp phải điều bất như ý nên chúng ta đều mong muốn nhận được sự cảm thông từ người khác và ta cũng sẵn sàng ban cho họ sự sẻ chia. Như vậy cuộc đời sẽ trở nên đẹp biết bao khi người ta luôn thân thiện trao đổi với nhau bằng nụ cười hoan hỷ.
Nụ cười đó có sẵn trong tôi, trong bạn và trong tất cả mọi người chúng ta. Hãy để nụ cười đó luôn hiiện diện trên môi. Hãy làm đẹp tâm hồn, thắp sáng cõi lòng thuần tịnh, ngõ hầu thiết lập đạo tràng Tịnh Độ nhân gian, xuân Di Lặc, xuân của nụ cười lành.