Thiền sư Ô Sào chùa Hỷ Thước ở hồ Tây tỉnh Quảng Châu, tên thật là Đạo Lâm, 9 tuổi đã xuất gia, làm thị giả mà ngộ đạo ở dưới trướng của Thiền sư Thao Quang ở Thiểm Tây.
Sau này một mình đến núi Thái Vọng nghỉ lại tu hành trên một cây tùng có chỗ cong như nắp vung cành lá rất sum sê, giống như con chim làm tổ trên cây vậy, vì thế người đương thời đều gọi Ngài là Thiền sư Ô Sào.
Đại văn hào Bạch Cư Dị rất kính ngưỡng đạo hạnh của Thiền sư Ô Sào. Một hôm đặc biệt đến thỉnh giáo Thiền sư và dùng thi kệ hỏi:
“Đã vào cửa không hỏi khổ không,
Dám đem thiền sự hỏi Thiền ông,
Phải chăng đang mộng nên trôi nổi
Lại vì trôi nổi hoá mộng luôn”.
(Đặc nhập không môn vấn khổ không,
Cảm tương thiền sự vấn thiền ông;
Vị đương mộng thị phù sanh sự,
Vị phục phù sanh thị mộng trung?”
Thiền sư Ô Sào cũng dùng thi kệ trả lời:
“Đến đi vô tích cũng vô tông
Khi đến khi đi việc vẫn đồng
Cớ sao lại hỏi phù sanh sự
Cuộc phù sanh chỉ trong mộng thôi”.
(lai thời vô tích khứ vô tông,
Khứ dự lai thời sự nhất đồng;
Hà tu cánh vấn phù sanh sự,
Chỉ thử phù sanh thị mộng trung.)
Đời người tạm bợ, nhưng nếu thể ngộ được đạo lý “vô sanh”, vượt lên trên sự hạn chế, đối đãi “đến” và “đi” thì sanh mạng ở trong không gian vô tận này mới có thể không ngừng kéo dài, bất sanh bất diệt.
Sau đó Bạch Cư Dị tìm ra được nơi an thân lập mạng ở trong lý thiền, đã trở thành một đệ tử học thiền, đi thăm các vị danh tăng ở các danh sơn, về già ăn chay và sửa nhà làm chùa, đặt tên là chùa Hương Sơn, tự đặt pháp hiệu cho mình là cư sĩ Hương Sơn, đặc biệt say sưa niệm Phật, thường ngâm thơ viết kệ, trình bày tâm cảnh ông đắc được do tin Phật, như:
“Cây tùng thích gió trên núi cao,
Đá thích ngắm trăng ở bên hồ;
Kết duyên cùng cảnh với mây nước,
Ngày sau làm tăng ở xứ này.”
(Ái phong nham thượng phan tùng cái,
Luyến nguyệt đàm biên toạ thạch lăng;
Thả cộng vân tuyền kết duyên cảnh,
Tha nhật đương tác thử sơn tăng).
Ý cảnh trong thơ rất du nhàn, phiêu diêu, đúng là sống trong thế giới của thiền.