Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
07:25, Thursday.April 30 2026
Tánh không, Thuyết tương đối và Vật lý lượng tử (1)
 
Lời người dịch: Đây là một chương trong quyển “The Universe in a Single Atom” (Vũ Trụ Nằm Trong Một Nguyên Tử Đơn Lẻ) của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ XIV, nói về sự hội tụ giữa khoa học và tâm linh. Quyển sách này do nhà xuất bản Broadway Books (New York, USA) ấn hành năm 2005, và đã là một trong những quyển sách bán chạy nhất ở Mỹ.
Chương III này có tựa đề là “Emptiness, Relativity, and Quantum Physics” (Tánh Không, Thuyết Tương Đối và Vật Lí Học Lượng Tử). Chữ không trong tiếng Việt rất dễ gây ngộ nhận, dễ bị hiểu lầm theo nghĩa đối nghịch với có. Trong Phật học, không 空  vốn là một từ gốc Hán có nghĩa là rỗng không. Nói rằng vạn vật đều là “không”, nghĩa là vạn vật tuy có đó, nhưng nó không có mặt riêng rẽ, biệt lập, mà phải nương vào mối tương duyên tương tác với các nhân và duyên khác mà hiển lộ. Cánh hoa sen thoảng hương thơm ngát trên mặt hồ kia, nó có thực đấy chứ, nhưng nếu lấy ra những yếu tố tạo ra nó mà không phải là nó như nước, bùn, ánh sáng mặt trời, nhiệt độ, v.v… thì nó không thể nào có tướng trạng của một cánh hoa sen được. Trong “Luận Đại Trí Độ”1, Bồ tát Long Thọ (Nāgārjuna)2 nói: “Nhân duyên sở sinh pháp3, ngã thuyết tức thị không” (Tất cả những gì do nhân duyên tập hợp mà phát sinh, tôi gọi nó là “không”). Vì rỗng không, cho nên sự vật luôn luôn biến đổi không ngừng, trong từng sát-na, không thể nắm bắt được, như huyễn, như mộng, như sương khói, như bọt bèo, như tia chớp4... Vạn vật, kể cả con người, không có tính rắn chắc, thường hằng, bất biến như ta tưởng.
 
Đây chính là chân lí mà các bậc giác ngộ đã thực chứng từ ngàn xưa, và trong vòng một thế kỷ nay, đã được thuyết tương đối kết hợp với vật lí học lượng tử chạm đến. Những khám phá gần đây của khoa học ở tầng dưới nguyên tử (subatomic level) cho thấy một số quan điểm của Phật giáo sơ thuỷ về sự cấu thành của vật chất hãy còn ở mức đơn giản và thô thiển, cần phải được xem xét lại và cải thiện. Mặt khác, chỗ bế tắc của khoa học ngày nay là cái chấp vào “nhị nguyên” (duality), vào sự phân biệt chủ thể và khách thể, là ý niệm về một thực tại khách quan, ở ngoài ta, mà ta có thể nhận xét, đo lường, đụng chạm mà không làm cho méo mó, lệch lạc đi, và một chủ thể riêng rẽ, độc lập với ngoại giới. Phật giáo, trong khi đó, từ ngàn xưa đã đưa ra một “mô hình chặt chẽ” để có thể nhìn thấu triệt tới cái chân bản lai diện mục của vạn vật: mô hình phi thể tánh5 (non-essentialist model). Phật giáo và khoa học, mặc dầu có những dị biệt, có thể ngồi lại với nhau để mở ra một chân trời mới cho sự tìm hiểu thế giới và con người, với hy vọng góp sức vào việc mang lại hoà bình cho thế giới và hạnh phúc cho nhân loại.
 
Đó là thông điệp mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đương thời tha thiết gởi đến độc giả trong quyển sách này, đặc biệt trong chương thứ ba này.
 
Trong khi tánh không, cái xương sống của tư tưởng Phật giáo, có thể dễ bị biến thành một triết thuyết trừu tượng thiếu thực tiễn, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh, bằng cách trích dẫn lời của Ngài Long Thọ, rằng: “Thuyết tánh không không phải chỉ để thoả mãn những tò mò của trí năng về thực tại, mà còn hàm chứa một ý nghĩa sâu sắc về tâm lí và đạo đức.”
 
 
Sách này vừa giảng Phật học, triết học, vừa giảng khoa học, có nhiều thuật ngữ và khái niệm triết học lẫn khoa học, cách dùng từ tinh tế và uyên thâm. Trong tinh thần tôn trọng nguyên tác, người dịch cố gắng dịch sát với nguyên bản.
 
Toàn bộ chú giải trong sách này đều là của người dịch, được trình bày dưới dạng cước chú (footnotes) hoặc để trong ngoặc vuông [ ]. Việc in nghiêng một số chữ cho dễ theo dõi cũng là chủ ý của người dịch. Để tiện cho độc giả tra cứu, phần lớn những từ ngữ tiếng Phạn/Tạng được bỏ thêm dấu, phiên âm sang tiếng Việt, và chua chữ Hán, với sự giúp đỡ của Anh Chân Nguyên Đỗ Quốc Bảo ở Đức.
 
Người dịch mong mỏi được các bậc cao minh chỉ bảo thêm cho những sai sót trong bản dịch, để tuệ giác sâu sắc của Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV - một bậc vĩ nhân tiến bộ của thời đại - có thể được truyền đạt đến độc giả người Việt một cách chính xác và mạch lạc hơn nữa.
 
Cuối cùng, người dịch xin gởi gắm nơi đây lòng biết ơn sâu sắc đến Giáo sư Bác sĩ Trần Ngọc Ninh, nguyên Viện trưởng Viện Việt-Học, California, Hoa Kỳ, đã đọc lại bản dịch và tận tình chỉ bảo cũng như không ngừng khích lệ người dịch.
 
Với tâm từ,
Virginia, May 30, 2008
Hoài Hương TRẦN UYÊN THI
-----------------
 
Một trong những điều hứng khởi nhất của khoa học là nó làm thay đổi cái nhìn của chúng ta về thế giới này dưới ánh sáng của những khám phá mới. Cho đến nay, lãnh vực vật lí học vẫn còn đang loay hoay lúng túng trước một bước ngoặt quan trọng (paradigm shift6) kể từ khi có sự phát khởi của thuyết tương đối (relativity) và cơ học lượng tử (quantum mechanics) ở vào đầu thế kỷ XX. Các nhà khoa học cũng như triết học thường xuyên phải đương đầu với nhiều mô hình trái ngược nhau về bản chất của thực tại: thuyết Newton cho rằng vũ trụ này có tính cách máy móc và xác định, còn thuyết tương đối của Einstein và cơ học lượng tử thì lại cho rằng vũ trụ này “hỗn loạn” hơn nhiều. Thực ra, những gì mô hình thứ nhì này mang lại cho sự hiểu biết của chúng ta về thế giới vẫn chưa được hoàn toàn sáng tỏ.
 
Vũ trụ quan của tôi chủ yếu dựa trên triết thuyết và giáo pháp của Phật giáo, vốn phát khởi từ các bậc trí thức thuộc thời xa xưa ở Ấn Độ. Tôi được học về triết học Ấn Độ từ lúc nhỏ, với thầy Tadrak Rinpoche, vị quan phụ chính (regent) của Tây Tạng, và thầy Ling Rinpoche. Thầy Tadrak là một vị thầy khả kính, đã luống tuổi, và rất nghiêm khắc. Còn thầy Ling thì trẻ hơn, có giọng nói dịu dàng và hiểu sâu học rộng, nhưng cũng rất ít nói (ít nhất là khi tôi còn nhỏ). Hồi đó, mỗi lần có mặt hai vị thầy này, là tôi sợ đến khiếp vía. Ngoài ra, còn có một vài thầy phụ tá giúp tôi đàm luận về những điều tôi đã học, trong đó có thầy Trijang Rinpoche và Ngodrup Tsonknyi - một tu sĩ, đồng thời là một học giả người Mông Cổ. Sau khi thầy Tadrak qua đời, thầy Ling trở thành giảng sư chính của tôi, và thầy Trijang được lên chức phụ giảng.
 
Tôi tiếp tục học với hai vị thầy này cho đến hết chương trình học vấn chính thức của tôi. Hai thầy đã giảng dạy cho tôi về những tông phái khác nhau của Phật giáo Tây Tạng. Cả hai thầy đều rất gần gũi với tôi, nhưng có cá tính rất khác nhau. Thầy Ling có một thân hình rắn chắc, đầu hói, mặt to, mắt nhỏ, và mỗi khi ông cười thì cả người ông đều rung lên. Còn thầy Trijang thì dáng người dong dỏng cao, đi đứng uyển chuyển và sang trọng với sống mũi cao hơn một người Tây Tạng bình thường. Ông rất hiền từ, giọng nói trầm ấm, nhất là khi ông tụng kinh, nghe rất là du dương. Thầy Ling là một triết gia sâu sắc với một đầu óc sắc bén và một trí nhớ lạ kỳ. Còn thầy Trikang thì lại là một nhà thơ nổi tiếng nhất của thời đại ông, và rất thông thạo về hai lãnh vực nghệ thuật và văn chương. Đối với tính tình và năng khiếu của tôi, tôi cảm thấy thân thiết với thầy Ling hơn hết trong các vị thầy. Có thể nói một cách công bình rằng thầy Ling Rinpoche đã có ảnh hưởng lớn lao nhất đến cuộc đời tôi.
 
Khi học về các chủ thuyết khác nhau của các tông phái Ấn, tôi cảm thấy chúng rất xa lạ với những điều mà bản thân tôi có thể chứng nghiệm được. Thí dụ, thuyết duyên khởi7 (causation) của phái Số Luận8 (Sāṃkhya) cho rằng quả là sự biểu hiện của những gì đã nằm sẵn trong cái nhân, và thuyết hoàn vũ cách (theory of universals) của phái Thắng Luận9 (Vaiśeṣika) thì cho rằng mặc dầu đa hình vạn trạng, các vật thể hàm chứa tính phổ quát bất biến thường hằng, độc lập với tất cả các biệt tướng. Có những thuyết hữu thần Ấn Độ muốn chứng minh sự hiện hữu của một Đấng Tạo Hoá, và có những lí luận của Phật giáo phản bác lại điều đó. Ngoài ra, tôi còn phải học về những dị biệt vô cùng phức tạp giữa các chủ thuyết khác nhau ngay cả trong các tông phái Phật giáo nữa. Những điều này quá sức huyền bí và rối rắm đối với một đứa trẻ mới mười mấy tuổi, chỉ thích lắp ráp đồng hồ, xe máy, và dán mắt vào những bức hình về Thế Chiến Thứ Hai qua sách vở và tạp chí Life như tôi. Thật vậy, lúc Babu Tashi gỡ cái máy phát điện ra để chùi rửa, thì tôi đứng bên cạnh ông nhìn say mê đến nỗi quên cả học, quên cả ăn. Và lúc các thầy phụ tá đến giúp tôi học, đầu óc của tôi lại chạy theo cái máy phát điện và những bộ phận của nó.
Nhưng tất cả đều thay đổi khi tôi tròn 16 tuổi. Các sự kiện trên thế giới biến chuyển nhanh đến chóng mặt. Khi quân đội Trung Quốc tiến sát đến biên giới Tây Tạng vào mùa hè năm 1950, thầy Tadrak [quan phụ chính] đề nghị tôi tạm thời đứng ra đảm nhận vai trò lãnh đạo quốc dân. Có lẽ chính vì tuổi thơ đã bị đánh mất, vì gánh nặng của một thực trạng đen tối và những khủng hoảng không lối thoát đang đè lên hai vai, mà tôi đã nhận chân được giá trị thực sự của học vấn. Không hiểu vì sao, kể từ năm 16 tuổi, tôi bắt đầu ngấu nghiến học về triết học, tâm lí học, và tâm linh học Phật giáo. Không những tôi theo đuổi việc học một cách say mê, mà tôi còn bắt đầu liên hệ được những gì tôi học với nhận thức của tôi về cuộc đời và những gì đang xảy ra ở thế giới bên ngoài.
 
Trong khi tôi vùi đầu vào sách vở Phật học, vào việc tham thiền, quán chiếu về tư tưởng Phật giáo, thì Tây Tạng đang phải đương đầu với sự có mặt của binh sĩ Trung Quốc trong lãnh thổ Tây Tạng, trong nỗ lực tiến đến một giải pháp chính trị ổn thoả cho cả hai bên, và tình trạng ngày càng trở nên rối rắm hơn. Đến khi tôi hoàn tất chương trình học vấn và tham dự kỳ thi Geshe10 tại thành phố linh thiêng Lhasa11 trước hàng ngàn tu sĩ - một sự kiện đánh dấu đỉnh cao của con đường học vấn của tôi (cho tới nay, đây vẫn là điều tôi thấy hài lòng nhất) - thì những khủng hoảng ở Tây Tạng buộc tôi phải trốn chạy khỏi quê hương sang Ấn Độ, và từ đó bắt đầu cuộc đời tỵ nạn lưu vong của tôi, cho đến tận ngày hôm nay. Thế nhưng, chính vì đã mất đi quốc tịch Tây Tạng, tôi có thể nói một cách thành thực rằng tôi đã nghiễm nhiên trở thành một công dân của thế giới.
 
Một trong những tuệ giác sâu sắc nhất của Phật giáo bắt đầu từ cái gọi là “tánh không12”. Cốt tuỷ của tánh không là sự nhận biết sâu sắc rằng có một sự chênh lệch rất lớn giữa những gì tri giác của ta cảm nhận được (trong đó có sự hiện hữu của chính ta) và bản chất thực sự của sự vật. Trong cuộc sống hàng ngày, ta thường xem bản thân ta và thế giới này là những thực thể cách biệt, xác định, riêng rẽ và lâu bền. Ví dụ, thử thẩm định tri kiến của ta về cái tôi, ta sẽ thấy rằng ta có khuynh hướng tin rằng có sự có mặt của một thể tánh, từ đó ta tin tưởng rằng có một cá nhân riêng biệt và một bản ngã cụ thể, tồn tại biệt lập với những yếu tố vật chất và tinh thần làm nên sự hiện hữu của ta. Thế nhưng, triết học về tánh không cho ta biết rằng cái nhìn này không những là một sai lầm căn bản, mà nó còn là nguồn gốc của những sự dính mắc, nắm bắt, và dẫn tới vô số những thiên kiến, định kiến của ta.
 
Theo thuyết tánh không (theory of emptiness), bất kỳ một sự tin tưởng nào vào một sự hiện hữu có tính cách nội tại (intrinsic) và biệt lập13 đều không bền vững. Tất cả sự vật và sự kiện - vật chất [thân] hay tinh thần [tâm], ngay cả những khái niệm trừu tượng như thời gian - đều không thể tồn tại một cách khách quan, biệt lập. Nếu ta nghĩ rằng các sự vật và sự kiện tồn tại một cách biệt lập, thì nghĩa là ta đã đặt giả thuyết rằng là chúng, bằng cách nào đó, đã tự viên mãn cụ túc và điều đó có nghĩa là chúng hoàn toàn cách biệt. Điều này cũng có nghĩa là chúng không có khả năng tác động qua lại và ảnh hưởng lên các hiện tượng khác. Thế nhưng, ta đã biết rằng có lí duyên khởi: nếu tôi tra chìa khoá vào máy xe, bu-ri14 sẽ bật lửa, dầu và xăng sẽ cháy lên, máy sẽ chạy. Trong một thế giới mà các sự vật hiển hiện và tồn tại một cách riêng biệt và tự hữu, những sự kiện trên sẽ không bao giờ xảy ra; tôi sẽ không thể cầm bút, và quý vị cũng sẽ không thể đọc được những dòng chữ này đây.
 
Chính vì chúng ta tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, ta phải đặt giả thuyết rằng chúng ta không phải là những cá thể riêng biệt, mặc dầu ta cảm thấy như vậy. Nói cách khác, khái niệm về một sự tồn tại tự hữu, biệt lập của vạn vật [dharma] hoàn toàn không thích hợp với lí duyên khởi. Bởi vì lí duyên khởi hàm chứa tính cách tương tuỳ và tương thuộc của vạn vật, trong khi những gì tự hữu thì bất biến và biệt lập. Tất cả mọi sự vật trên đời này đều được cấu thành bởi những sự kiện phụ thuộc và liên quan lẫn nhau, bởi một dòng hiện tượng liên tục tương duyên với nhau, trong đó không có một thể tánh15 (essence) cố định, vĩnh hằng, bất biến, và những hiện tượng (phenomena) này bản thân chúng cũng thay đổi và biến cải không ngừng.
 
Nói rằng tất cả sự vật và sự kiện đều là “không” nghĩa là nó không có một thể tánh bất biến, một thực tại có tự tánh (intrinsic reality), hay một thực thể tuyệt đối nào có thể tồn tại một cách riêng rẽ. Sự thật về bản chất thực sự này của vạn vật chính là cái mà kinh sách Phật giáo gọi là “tánh không”, hay śūnyatā trong tiếng Phạn.
Trong cái nhìn ngây thơ và thường tình của ta về thế giới, ta tưởng như các sự vật và hiện tượng có một thực tính thường hằng, tự hữu. Ta tưởng rằng thế giới này được cấu thành bởi những sự vật và sự kiện cụ thể, biệt lập, và những sự vật, sự kiện [cụ thể, biệt lập] ấy tương tác với nhau. Ta tưởng rằng những hạt giống thực có tự tánh tạo ra những mầm cây thực có tự tánh ở một thời điểm thực có tự tánh trong một không gian thực có tự tánh. Ta tưởng rằng mỗi phần tử trong cái dòng duyên khởi này - nhân, thời, sở, quả - đều có thể tánh vững chắc. Cái nhìn của ta về thế giới, mà ta nghĩ là được cấu thành bởi những khách thể rắn chắc và có những đặc tính cố hữu, được ta củng cố thêm bằng cách sử dụng ngôn ngữ của ta với những chủ từ và thuật từ theo cấu trúc của một bên là danh từ và tĩnh từ, và một bên là động từ16.
 
Thế nhưng vạn vật đều do nhiều thành phần khác nhau tạo nên; một con người gồm có hai phần thân lẫn tâm. Hơn nữa, tự tánh của vạn vật tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như là cái tên [cái mà Ngài Long Thọ gọi là “giả danh” - ND] mà ta đặt cho chúng, chức năng của chúng, và những khái niệm của ta về chúng.
 
Mặc dầu được dựa trên cách hiểu của kinh điển Phật giáo, triết lí về tánh không đã được dẫn giải một cách có hệ thống lần đầu tiên bởi một triết gia Phật giáo tên là Nāgārjuna [Bồ tát Long Thọ], sống vào thế kỷ thứ II. Hiện nay, chúng ta biết rất ít về cuộc đời của Ngài, chỉ biết rằng Ngài sinh ra ở Nam Ấn và là người quan trọng thứ nhì góp phần lập nên Đạo Phật ở Ấn Độ, sau Đức Phật [Thích Ca Mâu Ni]. Các sử gia tán thán công đức của Ngài trong việc thành lập trường phái Trung Luận17 (Madhyamaka) thuộc Phật giáo Đại thừa18 (Mahāyāna), một tông phái đóng vai trò chủ yếu ở Tây Tạng cho đến ngày nay. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Ngài là Căn bản Trung Quán Luận tụng 19 (Madhyamaka - kārikā), ngày nay vẫn còn được học thuộc lòng, nghiên cứu, và thảo luận trong các trường đại học và các thiền viện ở Tây Tạng.
 
Tôi dành nhiều thì giờ đọc kỹ và đem ra thảo luận với các vị thầy cũng như đồng môn của tôi về quyển sách này. Vào những năm 1960s, trong thập niên đầu tiên của cuộc đời lưu vong của tôi tại Ấn Độ, tôi đã có cơ hội nghiên cứu sâu về tánh không. Hồi đó, nói chung tôi rảnh rang hơn bây giờ nhiều, không phải tham dự nhiều lễ lạc. Tôi cũng chưa được đi chu du khắp các nơi trên thế giới như bây giờ, một công việc chiếm rất nhiều thì giờ của tôi. Trong khoảng mười năm đó, tôi có cơ hội quý báu được dành nhiều thời giờ học hỏi với hai vị thầy của tôi, đều là những chuyên gia về cả lí thuyết lẫn thực hành về tánh không.
 
Tôi cũng được học với một học giả tài ba và khiêm tốn tên là Nyima Gyaltsen (Gen Nyima là tên thân mật của ông). Ông có một khả năng trời phú hiếm hoi là có thể giảng giải những tư tưởng thâm sâu vi diệu của Đạo Phật bằng những từ ngữ hết sức dễ hiểu. Ông hơi hói và thường đeo một cặp kính râm to và tròn. Một mắt của ông bị chứng co giật nên ông hay chớp mắt luôn. Nhưng khả năng định tâm của ông, nhất là khả năng tập trung vào một luồng tư duy phức tạp hay định vào một điểm, thì phải nói là đáng kinh ngạc, thậm chí được xem như là một huyền thoại. Ông có thể nhận biết một cách sáng suốt tất cả những gì đang xảy ra chung quanh mỗi khi nhập định. Vì tánh không là lãnh vực chuyên môn của ông nên tôi cảm thấy rất hứng thú mỗi khi được thảo luận với ông về đề tài này.
 
TENZIN GYATSO, ĐẠT LAI LẠT MA XIV
Trần Uyên Thi
dịch (và chú giải)
(Nguồn: trangnhahoaihuong.org)
 
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này