Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
04:29, Saturday.May 23 2026
Cảm xúc
 
Môn tâm lý học hình thành cũng chỉ vì mục đích nghiên cứu các trạng thái tâm lý con người. Tâm lý con người bao gồm nhiều yếu tố như cảm giác, tri giác, tưởng tượng, ý chí, nhân cách … trong đó “cảm xúc” là một trạng thái tâm lý nỗi bật của tâm thức.
DẪN NHẬP :
1 – Giới thiệu đề tài :
Khi đề cập đến tâm con người, trong nhân gian thường có câu : “Dò sông dò biển dễ dò, đố ai lấy thước mà đo lòng người”. Sông biển vốn đã rộng, đã sâu nhưng lòng người còn sâu rộng hơn biển cả. Tâm con người vốn dao động vô thường, lăng xăng như vượn chuyền cây, như ngựa chạy rong ngoài đồng nội nên chúng ta không dễ gì hiểu và nắm bắt được tâm. Cho nên, tâm con người là một đối tượng rất quan trọng mà các nhà tâm lý học cố công tìm tòi nghiên cứu.
Môn tâm lý học hình thành cũng chỉ vì mục đích nghiên cứu các trạng thái tâm lý con người. Tâm lý con người bao gồm nhiều yếu tố như cảm giác, tri giác, tưởng tượng, ý chí, nhân cách … trong đó “cảm xúc” là một trạng thái tâm lý nỗi bật của tâm thức.
 Là một con người hiện diện trên cõi đời này, ai không có cảm xúc. Ai không xúc động bồi hồi trước cảnh xa cách người thân thương, ai không mừng rỡ khi gặp người mình xa nhớ, ai lại không biết giận, biết hờn, biết buồn, biết thương, biết ghét. Cảm xúc chính là chất liệu tạo nên sức sống cuộc đời, và cũng chính cảm xúc dìm tâm hồn con người trong thất vọng, chán chường, khổ đau. Chính vì vậy tìm hiểu “cảm xúc” để điều phục cảm xúc là một vấn đề vô cùng cần thiết. Chỉ có làm chủ được cảm xúc của chính mình thì cuộc sống con người mới  bình an và hạnh phúc. Hiểu được tầm quan trọng này nên người viết chọn đề tài “cảm xúc” để nghiên cứu.
2 – Giới hạn đề tài :
Có nhiều quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu viết về cảm xúc rất rộng và rất sâu, thế nhưng trong phạm vi bài viết này, người viết không thể trình bày đầy đủ và chi tiết được, người viết chỉ chọn lựa những quan điểm nào cơ bản và có tính bao quát nhất. Khi tìm hiểu đề tài này, người viết tham khảo các tài liệu tâm lý học hiện hành rồi hệ thống lại các quan điểm về cảm xúc. Bên cạnh đó, người viết còn tham khảo thêm một số tài liệu về Thiền của đạo Phật rồi đưa ra các biện pháp chuyển hóa cảm xúc.
3 – Phương pháp nghiên cứu :
Vì mục đích muốn trình bày đề tài một cách mạch lạc để mọi người nắm bắt được yếu tố “cảm xúc” là như thế nào, tại sao chúng ta cần chuyển hoá nó, và các phương pháp điều phục nó ra sao, mà người viết sử dụng phương pháp thống kê, bình luận. Người viết nghĩ rằng kiến thức của mình còn non kém, nên chưa thể trình bày vấn đề một cách sâu sắc, nên những gì còn thiếu sót và bỏ ngõ, mong người sau bổ túc thêm. 
 
NỘI DUNG :
 
I.             TỔNG QUAN VỀ TÂM LÝ HỌC :
1-                  Quá trình hình thành Tâm lý học :
Từ thế kỷ XIX trở về trước, “tâm lý học” là một bộ môn triết học, nhưng đến cuối thế kỷ XIX, cụ thể là năm 1879, khi Wundt lần đầu tiên thành lập ở Leipzig nước Đức một phòng thí nghiệm tâm lý học, thì tâm lý học mới được coi là một môn khoa học đọc lập với triết học, có đối tượng, có phương pháp nghiên cứu, có chức năng và nhiệm vụ riêng. [1]Bên cạnh đó những công trình nghiên cứu của các ngành khoa học như sinh vật học, y học, di truyền học đã trợ giúp rất nhiều cho tâm lý học. Trong giai đoạn đó rất nhiều tác phẩm về tâm lý học khảo sát vế giấc ngủ, mộng du, căn bệnh về trí nhớ …
Đầu thế kỷ XX, xuất hiện ba học thuyết quan trọng trong tâm lý học, đó là : học thuyết hành vi chủ nghĩa, học thuyết Freud và học thuyết Ghestalt :
-                     Watson (1878-1958, Mỹ) đã xây dựng một nền tâm lý học tối tân và khoa học. Ông chỉ quan tâm nghiên cứu các hành động đáp ứng, các hành vi, các cách ứng xử mà không tính đến nhân tố nội tâm “coi như không có nó”. Chính vì lẽ đó học thuyết này có tên gọi là “hành vi chủ nghĩa”, với công thức nổi tiếng S-R (S = kích thích, R = hành động đáp ứng), coi con người là một thứ “hộp đen”, chỉ cần nghiên cứu đối chiếu “đầu vào và đầu ra” là đủ điều khiển được nó.
-                     Học thuyết Freud trái lại cho rằng không thể chỉ nghiên cứu ý thức mà bỏ qua vô thức. Theo tác giả này, chính vô thức mới là yếu tố quyết định nhất trong tâm lý người. Muốn nghiên cứu vô thức thì phải dùng một phương pháp đặc biệt là phép phân tâm, do đó thuyết này gọi là thuyết phân tâm. [2] Freud là một nhà bác sĩ đưa ra phương pháp trị liệu các căn bệnh tâm bằng cách lý giải giấc mơ, xung động bản năng và các hành vi rối loạn của một con người nhằm mục đích thăm dò vô thức của người ấy, đặc biệt là phát hiện những rối loạn tâm lý khiến đương sự bị bịnh.
-                     Vào năm 1911, ba nhà tâm lý học người Đức sáng lập ra trường phái Ghestalt, cho rằng không nên nghiên cứu tâm lý theo cách chia nhỏ thế giới thành các nguyên tử. Theo họ bản chất của các hiện tượng tâm lý đều có tính chất cấu trúc, và do đó phải theo xu hướng tổng thể với cả một cấu trúc chỉnh thể để nghiên cứu tâm lý thì mới thích hợp và đạt hiệu quả. Vì thế tên gọi của trường phái này là phái Ghestalt, nghĩa là phái cấu trúc.
 Cả ba phái này đều có mặt đúng của nó, vì thế chúng có đóng góp cụ thể, có giá trị nhất định trong lịch sử tâm lý học, nhưng sai lầm của họ là sử dụng những chân lý cục bộ làm nguyên lý phổ quát cho khoa học tâm lý, vì thế vẫn không thành công, dẫn đến sau này phải đẻ ra những dòng phái mới. Mãi đến lúc các nhà tâm lý học (đặc biệt là các nhà tâm lý học Liên Xô cũ) vận dụng được phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử vào khoa học của mình (khoảng 1925), tâm lý học mới xác định được đối tượng nghiên cứu một cách đúng đắn. [3]
2-                  Tầm nguyên thuật ngữ Psychology :
“Tâm lý học” tiếng Anh là Psychology, tiếng La Tinh là Psychologia, có gốc từ tiếng Hy Lạp : Psycha + logos. “Psycha” là linh hồn hay tinh thần, “logos” là nói về, luận bàn về. Như vậy theo ngữ nguyên thì : Tâm lý học là môn học về linh hồn hay môn học về tinh thần con người.
Chữ Psychologia xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn “Athropologia” (nhân loại học) của Otto Kasman (1956). Nhưng thuật ngữ Psychologia chỉ thật sự thông dụng vào thế kỷ XVIII khi nhà triết gia Đức là Wolf viết hai tác phẩm : Tâm Lý Học Kinh Nghiệm và Tâm Lý Học Thuần Túy. [4]
3-                  Định nghĩa Tâm lý học :
Có rất nhiều định nghĩa về tâm lý học, mỗi định nghĩa mang một bản sắc riêng, bởi trong mỗi định nghĩa nào cũng đã bao hàm một quan niệm. Và ta chỉ có thể tìm hiểu đối tượng của một môn học nào sau khi đi vào sự chính danh của nó. Vậy tâm lý học là gì ?
Tâm lý học là một môn học thực nghiệm về linh hồn hay tinh thần, tức là một chủ thể cụ thể của tư tưởng, tình cảm và cử thái. Tư tưởng, tình cảm tạo nên đời sống nội giới, đối lập với cử thái, tức là đời sống biểu lộ một tương quan.
Định nghĩa này bao hàm hai đối tượng, trong khi đó có trường phái chỉ giới hạn định nghĩa về một đối tượng : “Tâm lý học có thể định nghĩa như một khoa học nghiên cứu về một cử thái của con người và những loài vật khác”. Đó là định nghĩa duy cử thái luận.
Theo Lalande, thường thường người ta có thể định nghĩa tâm lý học là khoa học về linh hồn hay tinh thần, nhưng định nghĩa này không đầy đủ vì thứ nhất, tinh thần có nhiều nghĩa ; thứ đến vài nhà tâm lý học hiện đại không những cố loại bỏ khái niệm linh hồn ra khỏi lĩnh vực nghiên cứu của họ mà còn loại bỏ cả khái niệm tinh thần nữa. Thật ra danh từ “tâm lý học” là kết hợp nhiều ngành nghiên cứu khác nhau :
Tâm lý học phản ứng : là môn học nhằm nghiên cứu “cử thái”, trong tất cả những gì vượt khỏi các chức vụ bình thường và tương đối cố định mà nhà tâm lý học nghiên cứu đến.
Tâm lý học ý thức hay tâm lý học thiện cảm : là môn học có đối tượng nhằm mô tả, xếp loại và tìm kiếm những bình thường tính thụ nghiệm của những sự kiện ý thức ấy chỉ bộc lộ ra ngoài. Nghĩa là mỗi người đều có một ý thức về một số ý tưởng, cảm xúc, cảm kích, khuynh hướng và phản ứng nào đó xem như đã cấu tạo nên cả tâm lý của nó và đối với kẻ khác, hiểu như họ cũng có một ý thức tương tự.
Tâm lý học phản tỉnh hay tâm lý học phê bình : là môn học phản tỉnh và phê bình tư tưởng, kể cả những tư tưởng đã tạo nên ngoại giới cũng như những tư tưởng chỉ hướng về chính bản ngã, để xác định những đặc tính thật và nhiên hậu tìm đến những điều kiện và các liên hệ tất yếu cùng giá trị.
Tâm lý học thuần lý hay tâm lý học hữu the : là ngành tâm lý học mà đối tượng là sự quan sát của tinh thần quan sát chính nó để khám phá ra phía bên kia các hiện tượng, một thực tại bản thể thường hằng mà những hiện tượng này chỉ biểu lộ. [5]
4 - Đối tượng của Tâm lý học :
Đối tượng của tâm lý học là các hiện tượng tâm tâm lý, sự hình thành , vận hành và phát triển của hoạt động tâm lý, thể hiện qua hai hình thái : diễn biến tại nội tâm cá nhân và biểu hiện qua hành vi thái độ bên ngoài :
Đời sống nội giới : bao gồm những hiện tượng tâm thần như : ký ức, ước vọng, cảm xúc, ý tưởng, phán đoán, suy luận … W. James và Bergson quan niệm ý thức là cả một cuồng lưu ảnh tượng, ấn tượng, cảm tình, tự thâm nhập vào nhau, hiện tượng này kéo dài ra để nối kết chồng chất với các hiện tượng khác : các hiện tượng tâm lý có thể ví như những nốt nhạc của một tình khúc. Đó là một thực tại lưu động, trong đó quá khứ nối dài qua hiện tại.
Cử thái : Phạm trù thứ hai của đối tượng tâm lý học là cử thái, tức là những nét mặt biểu lộ tâm lý, cử chỉ, thái độ phản ứng vận động, lối cư xử, lời nói … mà ta có thể thấy nơi người khác. “Chúng ta hiểu cử thái là những hoạt động của một tổ chức cơ thể mà kẻ khác có thể quan sát được hoặc có thể được quan sát nhờ dụng cụ của phòng thí nghiệm”. [6]
 Một nền tâm lý học hoàn chỉnh cần phải kết hợp thành tựu của cả hai trường phái trên. Nghĩa là một nến tâm lý học hoàn chỉnh cần phải kết hợp nghiên cứu cả hai lãnh vực : đời sống nội tâm con người và các cử thái biểu lộ ra bên ngoài mà chúng ta có thể quan sát và đo đạc được.
II.          CẢM XÚC :
1 – Định nghĩa “cảm xúc” :
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “cảm xúc “ trong các sách tâm lý học, ở đây chúng ta chỉ đưa ra vài định nghĩa tiêu biểu.
Sách Tâm Lý Học của Vĩnh Để định nghĩa về “cảm xúc” như sau : “Cảm xúc là trạng thái tình cảm mãnh liệt xảy ra đột ngột trong một thời gian ngắn và gây xáo trộn trong sinh hoạt sinh lý cũng như trong sinh hoạt tâm lý”. [7]
Sách Tâm Lý Học của TS. Trần Nhật Tân định nghĩa cảm xúc : “Cảm xúc là một rối loạn thường gây ra bởi một tri giác hay một ý tưởng khi rối loạn này mãnh liệt, nó chế ngự toàn thể cơ thể và tâm linh”. [8]
 
2 – Phân loại cảm xúc :
Ta có thể dựa vào JAMES để phân biệt hai loại cảm xúc :
Những cảm xúc mạnh : đó là loại cảm xúc thường kèm theo những phản ứng cơ thể mãnh liệt : giận dữ, sợ hãi, e lệ …
Những cảm xúc nhẹ : đó là loại cảm xúc chỉ gây ra một ít biến đổi nơi cơ thể (những biến đổi mà người khác không thể nhận biết dễ dàng) và không tạo ra xáo trộn trong sinh hoạt tâm lý. Đó là trường hợp sự thán phục, sự xúc động trước một cảnh đẹp, một nơi chốn trang nghiêm …[9] Và cảm xúc cũng có hai dạng : cảm xúc lành mạnh và cảm xúc không lành mạnh. Cảm xúc lành mạnh làm tăng hoạt động sống của cơ thể, các cảm xúc không lành mạnh áp chế và đè nén tất cả các quá trình sống xảy ra trong cơ thể.
3 – Khía cạnh sinh lý của cảm xúc :
Mọi hiện tượng tâm lý đều có kèm theo những biến đổi sinh lý, nhưng với cảm xúc những biến đổi này có tầm quan trọng đặc biệt. Các nhà tâm lý xem các biến đổi sinh lý là đặc điểm riêng biệt của cảm xúc. Chính vì vậy mà ta cần phải hiểu rõ về khía cạnh sinh lý của cảm xúc.
Cơ sở sinh lý của cảm xúc là quá trình sinh lý rất phức tạp. Cũng giống như tất cả các quá trình tâm lý, cảm xúc có bản chất phản xạ và xuất hiện khi các cơ quan thụ cảm bị kích thích. Sự kích thích đối với các cơ quan thụ cảm dù từ bên trong hay bên ngoài đều được truyền theo các dây thần kinh hướng tâm đến các hệ thần kinh trung ương, đến các bộ phận của võ não và dưới võ não. Từ đây các xung động thần kinh lại được truyền theo các dây thần kinh ly tâm đến các cơ quan khác nhau của cơ thể. Khi cảm xúc thì các quá trình thần kinh hưng phấn hay ức chế được truyền đến các trung khu thực vật, do đó gây nên những thay đổi rất đa dạng trong hoạt động sống của cơ thể. Các hiện tượng đó làm tăng theo phản xạ đối với nhịp tim khi bị kích thích bất ngờ hoặc làm ức chế theo phản xạ đối với nhịp thở, làm tái mặt khi sợ hãi, làm đỏ mặt khi lúng túng. Các cảm xúc kèm theo các phản xạ vận động hay nội tiết đa dạng có thể nảy sinh gắn với các phản xạ không điều kiện hay có điều kiện.
Ngay từ năm 1903, nhà tâm thần học người Nga I. A. Xicorơxki đã tiến hành các nghiên cứu đáng kể để phát hiện các quy luật biến đổi các động tác hô hấp. Các phế động đồ ghi được khi có cảm xúc vui sướng đã cho thấy biên độ thở vào và thở ra tăng lên, tần số các động tác hô hấp để duy trì một nhịp nhất định cũng tăng lên một ít. I. A. Xicorơxki đã xác định đặc tính của sự vui sướng như trạng thái thở hít vào tốt nhất, trao đổi khí đầy đủ nhất : “lúc vui sướng thì thở nhẹ nhàng và thoải mái”.
Đặc tính tiêu biểu của các đường cong phế động ký lúc rung động cảm xúc sợ hãi thể hiện ở sự rối loạn đột ngột nhịp thở, thở vào và thở ra không đều, giảm biên độ hô hấp, thay đổi tần số động tác thở.
Khi rung động, cảm xúc rất mạnh thì cả hoạt động của các cơ quan khác cũng có sự thay đổi rõ nét. Chẳng hạn, khi có cảm xúc ức chế không thoải mái, buồn phiền thì thấy sự ức chế hoạt động của ruột, trì hoãn nhu động ruột. Ngược lại, sự hưng phấn cảm xúc mạnh khi sợ hãi, hồi hộp, chờ đợi sẽ làm tăng nhu động ruột.
Thể hiện tiêu biểu đối với một số trạng thái cảm xúc là tái mặt, hoặc đỏ mặt xuất hiện do co hay giãn mạch máu. I. P. Paplôp coi một trong những đặc điểm tiêu biểu nhất của cảm xúc con người là sự thay đổi hoạt động của tim xảy ra dưới tác động của hệ thần kinh trung ương. Các thay đổi đó vô cùng khác nhau và thể hiện rõ qua ghi nhịp tim trên tâm đồ.
Kết quả nhiều công trình nghiên cứu đã xác định rõ ý nghĩa vô cùng quan trọng của hocmon adrenalin do tuyến thượng thận tiết ra nhiều hơn và làm tăng nồng độ đường trong máu. Điều đó, đến lượt mình lại làm tăng hoạt tính cơ bắp, và khi có cảm xúc đau đớn, sợ hãi, tức giận thì hoạt đông cơ bắp sẽ trở nên tích cực hơn và có thể biểu hiện ở sự chạy tránh nguy hiểm, hoặc ở các động tác tấn công rất mạnh mẽ. Như vậy adrenalin có tác dụng làm tăng năng lực hoạt động của cơ bắp và phục hồi hoạt động đó lúc mệt mỏi. Trong các công trình nghiên cứu của mình, V. kennon đã chứng minh rằng do tăng hay giảm số lượng adrenalin trong cơ thể loài vật hay con người xuất hiện những phản ứng của hệ tim mạch tiêu biểu đối với cảm xúc và các phản ứng vận mạch. Những phản ứng thông thường như thế ở đây thường là co hay giản mạch máu, biến đổi dòng máu về tim, phổi, khoang bụng, cơ đồng tử, biến đổi các đặc tính đông máu … V. Kennon đã chỉ rõ rằng việc thay đổi mức cung cấp máu cho các cơ quan dưới ảnh hưởng của adrenalin sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng lực cơ.
Vỏ đại não là cơ quan hoạt động thần kinh cao cấp luôn điều chỉnh các biểu hiện cảm xúc của con người và động vật cao cấp. Vỏ não luôn luôn tác động với hoạt động của các bộ phận dưới vỏ não. Các quá trình vỏ não biểu hiện nhiều cảm xúc của con người là quá trình đã được I. P. Paplôp phát minh. [10]
4 – Biểu hiện bề ngoài của cảm xúc :
Đặc điểm tiêu biểu của cảm xúc con người và động vật là ở chổ các trạng thái tâm lý chủ quan bên trong luôn luôn biểu hiện bên ngoài nhất định qua cử chỉ, nét mặt, đặc điểm tư thế, động tác và cả phản ứng có liên quan đến những thay đổi trong hoạt động của hệ tim mạch, hô hấp, tuyến nội tiết và ngoại tiết. Chẳng hạn khi sợ hãi, mặt bị tái mét, hành động trở nên gò bó ; khi bối rối mặt đỏ bừng, toát mồ hôi ; khi sung sướng người ta cười, thở trở nên sâu hơn, động tác trở nên thoải mái hơn ; khi thỏa mãn thì mép miệng nhếch lên, cơ gò má và cơ cười hoạt động ; khi đang kềm chế thì mép miệng giang rộng, cơ cười và cơ tam giác hoạt động ; khi đang ưu phiền thì mép miệng hạ xuống, cơ tam giác hoạt động. Cảm xúc cũng thể hiện ở giọng nói. Những vận động viên diễn cảm của nét mặt (hay điệu mặt) xảy ra do hoạt động của một nhóm cơ đặc biệt trên mặt là những cơ thực hiện các động tác phối hợp rất khác nhau và có phân biệt vô cùng tinh tế, do đó tạo nên những sắc thái vô cùng phong phú của nét mặt khi có những rung động cảm xúc rất khác nhau : vui sướng, sợ hãi, ưu phiền, tức giận, khinh miệt, khoái cảm, … Hoạt động của các cơ đó thường xảy ra một cách không có ý thức, một cách tổng hợp rất phức tạp. Mối liên hệ lẫn nhau của một loại các động tác điệu mặt luôn mang lại những biểu hiện cảm xúc nhất định.
Dây thần kinh mặt với vô số các nhánh của nó phân bố thần kinh cho tất cả các cơ điệu mặt. Dây thần kinh vận động đó xuất phát từ vùng dưới não – ở hành não. Bởi vì hoạt động của vùng dưới não chịu sự chi phối của vỏ đại não nên các động tác điệu mặt diễn ra một cách không có ý thức, đồng thời lại được con người kiểm tra một cách có ý thức. Thí dụ, con người có thể nhịn cười hay nỗi buồn của mình không cho biểu hiện trên mặt ; người ta có thể cười khi mình hoàn toàn không vui tí nào, hoặc có thể thể hiện sự không thỏa mãn một cách giả tạo.
Những động tác diễn cảm không có ý thức khi rung động cảm xúc xảy ra không chỉ do các cơ điệu mặt mà còn do toàn bộ cơ bắp trong cơ thể. Chúng ta thường nắm chặt nắm tay một cách không có ý thức khi tức giận, lùi lại và làm động tác đẩy ra khi kinh tởm, vung tay lên khi băn khoăn, thắc mắc … Khi sợ hãi đến một mức nhất định thì người ta biểu hiện hoạt tính vận động khác thường : chạy nhanh hơn, nhảy cao hơn để tránh nguy hiểm ; khi rất giận dữ người ta cũng nhận thấy sức mạnh cơ bắp và động tác đột ngột khác thường.
Con người nhờ kinh nghiệm giao tiếp trong xã hội, và nhờ quá trình giáo dục, nên các cảm xúc chỉ ở con người mới có và biểu hiện bên ngoài của chúng sẽ trở nên phức tạp hơn, được hoàn thiện hơn và trở nên vô cùng đa dạng. Các cảm xúc đó của con người mang ý nghĩa xã hội và tạo điều kiện cho việc giao tiếp và hiểu biết lẫn nhau giữa người với người. Trong quá trình giáo dục, con người nắm được ý nghĩa có điều kiện của nhiều động tác diễn cảm (điệu mặt và điệu bộ) và sử dụng các động tác đó để biểu hiện các cảm xúc phức tạp và tinh tế của mình. Các nghệ sĩ rất quen biết nghệ thuật biểu diễn điệu mặt và điệu bộ, bởi vì nghệ thuật đó là một bộ phận trong tài nghệ của họ. [11]
 
 
5 - Các dạng cảm xúc :
Các rung động cảm xúc là một nhóm những hiện tượng tâm lý rất phức tạp và đa dạng nên rất khó phân tích chung. Vì vậy trong tâm lý học, cho đến ngày nay vẫn chưa có được một sự phân loại cảm xúc được công nhận rộng rãi. Tuy vậy ở đây cảm xúc có thể được phân chia thành các dạng thành phần của chúng căn cứ vào các dấu hiệu đặc trưng đối với chúng về độ dài và độ mãnh liệt (cường độ) của rung động tâm lý mà cảm xúc có thể được chia ra các dạng sau :
Tâm trạng :
Tâm trạng là một trong những dạng phổ biến nhất của các trạng thái cảm xúc của con người. Khác với các cảm xúc khác, tâm trạng thể hiện với cường độ rung động cảm xúc yếu. Nếu con người có tâm trạng thỏa mãn thì tâm trạng đó không bao giờ đạt đến mức biểu hiện mạnh mẽ đáng kể. Nếu đó là tâm trạng buồn thì nó biểu hiện không rõ nét và không có cơ sở là các hưng phấn thần kinh mãnh liệt. Tâm trạng để lại dấu ấn của mình trên tất cả các ý nghĩ, các thái độ, các hành động của con người trong thời điểm đang có tâm trạng đó. Ở tâm trạng này, hoạt động được thực hiện dường như nhẹ nhàng, dễ chịu, con người có thái độ tốt đối với mọi hành vi của những người xung quanh ; ở một tâm trạng khác, cũng hoạt động đó nhưng lại dường như nặng nề, khó chịu, và cũng chính các hành vi ấy của những người xung quanh lại bị coi là thô bạo không thể chịu được.
Điều quan trọng là phải biết điều khiển tâm trạng của mình. Muốn vậy cần phải biết nguyên nhân và tình huống gây nên tâm trạng đó như : khi đau ốm gây nên tâm trạng xấu ; khi con người khỏe mạnh, ngủ dậy thoải mái thì sẽ xuất hiện tâm trạng yêu đời và sảng khoái. Các quá trình ốm đau trong cơ thể thường là nguyên nhân của các tâm trạng không lành mạnh có thể kéo dài trong thời gian lâu. Vì vậy muốn duy trì tâm trạng lành mạnh thì cần phải chăm sóc đến sức khỏe. Thể dục và thể thao vừa củng cố sức khỏe của con người và nâng cao khả năng hoạt động sống của cơ thể vừa là nguồn gốc quan trọng của tâm trạng sảng khoái, yêu đời. [12]
b) Xúc động :
Khi các rung động cảm xúc xảy ra với cường độ lớn và biểu hiện đột ngột thì gọi là xúc động. Đặc điểm tiêu biểu của xúc động là các quá trình hưng phấn và ức chế trong vỏ não rất mạnh, đồng thời hoạt động của các trung khu dưới vỏ não cũng được tăng cường và xuất hiện những rung động cảm xúc bản năng rất sâu sắc. Sự hưng phấn phát triển nhanh trong các trung khu của não gắn với các rung động cảm xúc đó bao giờ cũng kèm theo sự ức chế cảm ứng mạnh
mẽ ở các khu khác của não ( vì vậy trong lúc xúc động người ta có thể không nhận thấy mọi vật xung quanh mình, không để ý đến các sự kiện đang xảy ra cũng như các hành vi của bản thân mình) và sự hưng phấn đó truyền đến các trung khu dưới vỏ não. Đó là những trung khu lúc đầu chưa bị sự tác động khống chế và kiểm soát của toàn vỏ não và nay lại gây nên sự biểu hiện bên ngoài rõ nét của trạng thái rung động cảm xúc.
Rung động cảm xúc xảy ra trong thời gian ngắn, với những đặc điểm riêng. Sự xúc động vừa là một quá trình tích cực, vừa không thể kéo dài lâu và biến rất nhanh. Rung động cảm xúc mang tính chất không có ý thức ở mức đáng kể. Tính chất không có ý thức thường có thể nhiều hay ít do sự xúc động mạnh hay yếu và thường biểu hiện ở sự giảm việc kiểm soát một cách có ý thức đối với các hành động của mình. Ở trạng thái xúc động người ta có lúc hoàn toàn không nhận thức được rằng mình đang làm gì, không thể điều khiển được hành vi hoạt động của mình, hoàn toàn bị sự rung động cảm xúc chi phối và đồng thời lại không hiểu rõ được tính chất và ý nghĩa của sự rung động đó.
Bất kỳ cảm xúc nào cũng có thể tăng cường lên một mức đáng kể và đạt đến giai đoạn xúc động. Thông thường, trong điều kiện sinh sống và hoạt động xã hội, người ta buộc phải kềm chế những biểu hiện xúc cảm mạnh mẽ và đột ngột của mình và không cho chúng tăng lên đến trạng thái xúc động, đặc biệt là nếu những cảm xúc đó gây xấu về mặt xã hội và có thể dẫn đến sự vi phạm các yêu cầu sinh hoạt và đạo đức xã hội. Song điều đó không có nghĩa là cần phải kềm chế tất cả và bất kỳ các biểu hiện xúc động nào. Nếu những sự xúc động do các sự kiện và các tình huống có ý nghĩa xã hội lớn gây nên ( như nhiệt tình khi giành thắng lợi lớn trong lao động, sự vui sướng đến ngạc nhiên trước phong cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, trước các tác phẩm nghệ thuật hoàn mỹ, sự hồi hộp khi thấy sự đấu tranh đầy nguy hiểm của con người với thiên nhiên và thấy những hành động anh hùng của họ) thì sự xúc động đó sẽ có ý nghĩa tốt và rất lớn lao đối với sự phát triển đầy đủ cá tính của con người.
Những biểu hiện xúc động tốt cho dù rất yếu mà ta thường gặp trong cuộc sống của con người cần phải được coi là cần thiết và có ích đối với sự phát triển và hoạt động sống của người ta. Sự biểu hiện mạnh mẽ cởi mở và chân thực của các cảm giác tốt làm cho con người trở nên cao thượng hơn, mở ra tất cả các mặt tốt của cá nhân mình, tác động đến sự hoạt động sống lành mạnh của cơ thể mình. Ngược lại sự đè nén các trạng thái xúc động tốt xuống, sự kềm chế thường xuyên đối với các biểu hiện bề ngoài của chúng sẽ gây nên ảnh hưởng rất có hại cả đối với sự phát triển tính cách của con người, cả đối với sự diễn biến bình thường của các quá trình xảy ra trong cơ thể. [13]
c) Tình cảm :
Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của họ. Tình cảm là sản phẩm cao cấp của sự phát triển các quá trình cảm xúc trong những điều kiện xã hội. [14]
Tình cảm là những rung động cảm xúc mạnh hơn tâm trạng, nhưng lại yếu hơn xúc động nhiều. Đó là những cảm xúc có cường độ trung bình nhưng đồng thời lại có cấu trúc tâm lý rất rõ ràng. Khi ta nói rằng một người đang có tình cảm chứ không phải xúc động, tức là ta muốn chỉ rõ trước hết đến một sự rung động cảm xúc hoàn toàn xác định và biểu hiện rõ ràng : người đó không đơn giản là thấy thỏa mãn mà là đang thấy vui sướng ; người đó không đơn giản là có sự xúc động thể hiện một sự lo âu bất định nào đó mà là đang bị chìm đắm trong một cơn sợ hãi rõ ràng. [15]
Những tình cảm có cường độ mạnh tạo nên sự say mê. Con người có thể có những say mê tích cực như say mê học tập, say mê hoạt động văn nghệ … nhưng cũng có những sự say mê không tốt như say mê cờ bạc, rượu chè. Những say mê này được gọi là đam mê. [16]
Căn cứ vào nội dung và nguyên nhân phát sinh ra tình cảm mà người ta phân thành các tình cảm cấp thấp và cấp cao.
Tình cảm cấp thấp có liên quan chủ yếu đến các quá trình sinh vật học trong cơ thể ; đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn các nhu cầu tự nhiên của con người.
Tình cảm cấp cao xuất hiện liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn các nhu cầu xã hội của con người. Các tình cảm này tham gia một cách hữu cơ vào tất cả mọi hình thức hoạt động đồng thời lam giảm nhẹ hay làm khó khăn thêm cho công tác học tập, lao động, sáng tạo, trong xã hội của con người.
Người ta phân biệt ba nhóm tình cảm cấp cao : tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ và tình cảm thẩm mỹ.
Tình cảm đạo đức :
Tình cảm đạo đức là những tình cảm cấp cao phản ánh thái độ của con người đối với các yêu cầu của đạo đức xã hội. Các tình cảm đạo đức sẽ là tốt đẹp khi các hành động và hành vi của con người tương ứng với các yêu cầu của xã hội và được xã hội khuyến khích, đánh giá cao. Các tình cảm sẽ trở nên tiêu cực, không tốt đẹp khi cá nhân đó có các hành vi tách rời lợi ích của xã hội và những hành vi đó bất chấp các yêu cầu của đạo đức xã hội mang chủ nghĩa cá nhân, tính ích kỷ, thù địch, tính ghen ghét, vui sướng trên đau khổ của người khác… Các tình cảm đạo đức gắn chặt với thế giới quan của con người, với các ý nghĩ, tư tưởng, nguyên tắc và truyền thống của họ. Các ý nghĩ phát sinh trong ý thức con người vừa gắn với các tình cảm đạo đức vừa trở thành nguồn kích thích đối với các hoạt động. [17]
Tình cảm trí tuệ :
Là những tình cảm nảy sinh trong quá trình hoạt động trí óc, nó liên quan đến những quá trình nhận thức và sáng tạo, liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu nhận thức của con người. Tình cảm trí tuệ biểu hiện thái độ của con người đối với các ý nghĩ, tư tưởng, các quá trình và kết quả hoạt động trí tuệ. [18]
Tình cảm thẩm mỹ :
Là những tình cảm có liên quan tới nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu về cái đẹp. Tình cảm thẩm mỹ biểu hiện thái độ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực (tự nhiên, xã hội, lao động, con người). Tình cảm thẩm mỹ được thể hiện trong những sự đánh giá tương ứng, trong những thị hiếu thẩm mỹ và được thể ngiệm trong những trạng thái khoái cảm nghệ thuật đặc trưng. Tình cảm thẩm mỹ cũng như tình cảm đạo đức, được quy định bởi xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển của xã hội. [19]
Con người không có cảm xúc thì không thể tồn tại được, chỉ trừ những người bị bệnh tâm thần, những người bị chứng vô cảm xúc mà thôi. Cảm xúc thúc đẩy con người hoạt động, tình cảm giúp con người khắc phục những khó khăn, trở ngại gặp phải trong quá trình hoạt động. Sự thành công của bất kỳ công việc nào phần lớn cũng phụ thuộc vào thái độ của con người đối với công việc đó. Cảm xúc có một ý nghĩa đặc biệt trong công việc sáng tạo. Trạng thái “dâng trào cảm hứng” mà nhà thơ, nhà bác học, người họa sĩ, nhà phát minh … từng thể nghiệm trong quá trình làm việc của mình đều có liên quan chặt chẽ với những cảm xúc của họ. Cảm xúc ổn định góp phần xác định hành vi, xây dựng các mục đích trong cuộc sống của con người. Một con người khô khan, dửng dưng, thờ ơ với tất cả mọi việc thì không thể đề ra và giải quyết được những nhiệm vụ to lớn, không có khả năng đạt tới những thắng lợi và thành tích chân chính.
 III. CẢM XÚC DƯỚI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẠO PHẬT :
1 – “Cảm xúc” tương quan với “thọ uẩn” trong đạo Phật :
Cảm xúc theo như những gì mà chúng ta đã trình bày ở trên là : “Trạng thái tình cảm mãnh liệt xảy ra đột ngột trong một thời gian ngắn và gây xáo trộn trong sinh hoạt sinh lý cũng như trong sinh hoạt tâm lý. Haycó thể nói cảm xúc là một rối loạn thường gây ra bởi một tri giác hay một ý tưởng khi rối loạn này mãnh liệt, nó chế ngự toàn thể cơ thể và tâm linh”. Như vậy cảm xúc là những trạng thái tình cảm, hay xúc động gây xáo trộn và chế ngự toàn cơ thể và tâm lý con người (ở đây chỉ bàn về cảm xúc con người). Có nghĩa là cảm xúc là những trạng thái tâm lý cảm xúc mà thân và tâm con người thọ nhận. Vì vậy cảm xúc có mối tương quan với “thọ uẩn” trong Phật giáo. Hay nói một cách rõ ràng hơn, cảm xúc thuộc về phần “thọ uẩn” trong “năm uẩn” của đạo Phật. Vì sao ?
Trong đạo Phật định nghĩa “thọ uẩn” như sau :
Thọ uẩn (Vedanà- khandha) : “Thọ uẩn” là một trong “năm uẩn” (sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn) cấu tạo nên con người.
“Thọ” là cảm thọ, cảm giác, cảm nhận được sinh ra do sự tiếp xúc giữa các giác quan và đối tượng. Đức Phật dạy có sáu thọ : mắt tiếp xúc với hình sắc mà sinh thọ, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân với vật cứng hay mềm, ý với đối tượng tâm y. “Cảm thọ” theo Phật giáo không dừng ở mức độ tiếp xúc đơn thuần mà là cảm xúc, một biểu hiện sâu hơn của cảm giác. Cảm thọ có ba loại : một là cảm thọ khổ, hai là cảm thọ vui sướng, ba là cảm thọ không vui không khổ. Cảm thọ khổ là một loại cảm thọ khó chịu khi ta tiếp xúc với một hoàn cảnh hay một đối tượng không thích ý, nó kèm theo một chuỗi tâm lý khó chịu, bất mãn, tránh xa… ví dụ như ta sẽ rất buồn khi thi rớt, rất giận khi ai đó vu cáo ta, chửi bới ta, hay khi ta nhìn thấy một con vật dơ bẩn xấu xí ta nảy sinh cảm giác ghê tởm không muốn nhìn thấy... Cảm giác vui sướng là một loại cảm giác dễ chịu, thoải mái phấn khởi khi ta tiếp xúc với một đối tượng thích ý, nó tạo cho ta niềm vui sướng xích lại gần. Ví dụ khi ta thương một người nào đó thì lúc nào ta cũng muốn gặp gỡ và ở bên cạnh người đó, người đó đã cho ta những cảm xúc bồi hồi, xao xuyến. Hoặc cảm xúc khi thi đậu là những cảm xúc vui mừng lớn lao, cảm giác sung sướng vui mừng tột độ khi trúng vé số … Cảm giác trung tính không khổ không vui, nó không tạo cho ta cảm giác dễ chịu, khó chịu, nó không tạo một lực hút hay một lực đẩy nào. Phân tích ta sẽ thấy có những cảm thọ đến từ thân thể (sắc uẩn) như ăn uống khoái khẩu hay bị bệnh tật đau đớn ; có những cảm thọ đến từ tâm lý (tưởng, hành) như ganh ghét, kiêu mạn, thương yêu, niềm hỷ lạc trong thiền định ; có những cảm thọ đến từ tâm lý và vật lý như thưởng thức một bản nhạc hay ngắm một bức tranh … Tất cả những cảm xúc ấy tạo thành một dòng sông cảm thọ chế ngự thân tâm con người. [20]
 “Thọ uẩn” được phân chia chi li như sau :
Hai loại : nội thọ (cảm thọ về hỷ, lạc, xả, khổ, ưu, thiền định) và ngoại thọ (các cảm thọ về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
Ba loại : khổ, vui, không khổ không vui.
Năm loại : lạc (thân vui sướng), khổ (thân đau đớn), hỷ (tâm vui mừng), ưu (tâm đau khổ) và xả (an tĩnh / không vui buồn). [21]
Tuy chúng ta nói cảm xúc tương quan với thọ uẩn trong đạo Phật, nhưng “thọ uẩn” trong đạo Phật không chỉ là những cảm xúc đơn thuần như chúng ta đã trình bày ở trên, mà thọ uẩn trong đạo Phật bao quát và sâu rộng hơn nhiều. Bởi vì cảm xúc mà các nhà tâm lý học trình bày chỉ dừng lại ở những tâm trạng, những tình cảm, những xúc động… nói chung là những cảm xúc nhẹ hay mãnh liệt như buồn, giận, nổi nóng, vui mừng, ngạc nhiên, sợ hãi, ganh ghét, thương, yêu …đó là những cảm xúc gây xáo trộn và chế ngự thân và tâm. Những trạng thái tâm lý cảm xúc này trong đạo Phật chia chẽ một cách chi li hơn : lạc (thân vui sướng), khổ (thân đau đớn), hỷ (tâm vui mừng), ưu (tâm đau khổ) và xả (an tĩnh / không vui buồn). “Thọ” được phân loại thành hai phần : nội thọ (cảm thọ về hỷ, lạc, xả, khổ, ưu, thiền định) và ngoại thọ (các cảm thọ về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). “Cảm xúc” mà các nhà tâm lý trình bày ở trên được bao hàm trong nội thọ (như buồn, giận, yêu, ganh ghét, vui vẻ, hỷ lạc) và ngoại thọ (đó là những xúc cảm sanh khởi khi tiếp xúc với các cảnh, như sợ hãi, vui mừng, nổi nóng… ). Điều này cho chúng ta thấy mối tương quan rõ ràng giữa thọ trong đạo Phật và cảm xúc. Thế nhưng bên cạnh đó, thọ trong đạo Phật còn được trình bày là những thọ mà chúng ta đang nhận trong hiện tại, là kết quả của những nhân tạo tác trong quá khứ, đó là những hoàn cảnh của cuộc đời mang đến cho chúng ta những trạng thái cảm xúc tương ứng với những hoàn cảnh ấy. Tùy theo nhân xấu hay tốt trong quá khứ mà hiện tại chúng ta phải thọ nhận những hoàn cảnh tốt, xấu, trong hiện tại. Ví dụ nếu chúng ta gây ra những nhân có những lời nói, việc làm, cách đối xử khiến cho người khác phải mang tâm trạng đau khổ, buồn tủi, oán hờn thì hiện tại chúng ta sẽ nhận lại những hoàn cảnh, những lời nói, những cách xử sự khiến cho thân tâm chúng ta đau khổ y như vậy. Ngược lại, nếu chúng ta lúc nào cũng có những lời nói khéo léo, ôn hòa nhã nhặn, cách xử sự tử tế, tốt bụng khiến cho mọi người tiếp
xúc với ta có tâm trạng vui vẻ, tự tin và tràn đầy cảm mến thì chúng ta sẽ thọ nhận những hoàn cảnh, những lời nói, cách đối xử khiến cho thân tâm chúng ta được an vui, hạnh phúc. Như vậy tuy chúng ta nói cảm xúc tương ứng với thọ, nhưng khi đi vào phân tích chi tiết thì ta thấy cảm xúc thuộc về thọ uẩn trong năm uẩn chứ ta không thể nói cảm xúc là thọ uẩn, vì thọ uẩn có tính cách bao quát và sâu hơn cảm xúc.
2 - Phương pháp điều phục “cảm xúc” :
Kant nói :
“Cảm xúc hoạt động như một con nước làm vỡ đê, còn đam mê thì như một dòng thác đào mòn lòng sông mỗi lúc một sâu hơn”
Câu nói này hàm ẩn hai ý nghĩa : những cảm xúc tiêu cực như giận, sợ, ganh ghét … là những cảm xúc làm tổn hại thân tâm chúng ta, ví như con nước làm vỡ đê. Kinh nghiệm được điều này mà một triết gia nào đó bộc bạch : “Tâm trạng cay cú cũng giống như phải uống thuốc độc mỗi ngày. Vì vậy tôi không còn cảm thấy đắng cay, chua chát khi bị hiểu lầm hay công kích nữa”. Còn những cảm xúc tích cực như đam mê, vui mừng, thương yêu … là những chất liệu xúc tác tạo nên sự đam mê công việc, gây cho ta niềm tin yêu cuộc sống. Một triết gia nào đó cũng đã nói lên điều này : “Trong đời người, lúc đáng sợ nhất là lúc nhiệt huyết trong lòng ta tắt ngấm. Con người sống không có lửa thì mọi việc có vẻ mệt mỏi, thụ động, vô vị và chán chường. Cho nên đôi lúc người ta cần một lý tưởng để theo, một nỗi đam mê để cống hiến và một người nào đó để yêu”. Cảm xúc chính là lòng nhiệt huyết và nỗi đam mê để con người thực hiện những lý tưởng cao đẹp trong cuộc đời. Chính vì vậy mà tự thân cảm xúc không phải tốt hay xấu, cảm xúc sẽ trở nên tốt hoặc xấu là tùy theo phản ứng của ta đối với cảm xúc đó. Nếu cảm xúc có trạng thái rối loạn, chấp giữ hay đối kháng, thì đó là những trạng thái sinh ra những hình thức đau khổ khác nhau. Nhưng nếu cảm xúc này biểu lộ một cách không rối loạn thì đó không phải là cảm xúc thuần túy mà là những cảm xúc lành mạnh có lợi cho con người. Cho nên việc điều phục cảm xúc ở đây không phải là loại bỏ cảm xúc hay diệt trừ cảm xúc mà là chuyển hóa cảm xúc.
Chúng ta chuyển hóa cảm xúc như thế nào ?
Phương pháp lợi ích và thiết thực nhất là tránh xa hai cực đoan đè nén và buông thả. Kềm chế cảm xúc sẽ không diệt trừ được nó mà làm cho tâm thức căng thẳng, dễ sinh ra những rối loạn tâm lý. Còn nếu bình thản quan sát thì những cảm xúc ô nhiễm này sẽ tự nhiên biến mất. Phương pháp này có vẻ hay thật, nhưng thực sự có thể hành trì được không ? Điều khó khăn là chúng ta không tỉnh giác khi các cảm xúc xấu sinh khởi. Nó trỗi dậy từ bên trong sâu lắng của vô thức và khi biểu hiện với ý thức, nó đã tăng trưởng quá mạnh và hoàn toàn khống chế chúng ta mà chúng ta không thể quan sát nó. [22]
Chúng ta nêu ra đây một yếu tố nỗi bật của cảm xúa đó là giận dữ. Khi giận dữ sinh khởi, nó chế ngự tâm mình quá nhanh đến nỗi chúng ta không kịp kiểm soát. Trong lúc mất tự chủ vì giận dữ, chắc chắn chúng ta sẽ có những hành động và lời nói làm tổn thương mình và người khác. Cho nên mới có câu : “Một ngọn lửa sân nổi lên sẽ đốt cháy một rừng công đức”. Sau khi cơn giận đi qua, chúng ta chỉ biết ân hận rồi xin lỗi mọi người rồi tự hứa với lòng lần sau không còn tái phạm nữa. Thế nhưng lần này cũng như lần khác, ta cứ tiếp tục phản ứng sai lầm. Đang lúc giận, ta có thể ngồi xuống quan sát nó được không ? Ngay khi nhắm mắt lại và cố gắng quan sát, tức khắc trong tâm chúng ta sẽ hiện lên đối tượng của giận dữ, chúng ta không quan sát giận dữ mà đúng hơn là đang tìm kiếm tác nhân xúc tác bên ngoài. Điều này chỉ làm gia tăng cơn giận và đây không phải là giải pháp ổn thỏa. Không chỉ khó điều phục giận giữ thôi mà các trạng thái cảm xúc khác cũng khó điều phục như vậy. Cho nên mọi người phải thốt lên rằng “càng cố quên lại càng nhớ thêm”.
Tuy nhiên bậc toàn giác, người chứng ngộ về sự thật tuyệt đối đã tìm ra phương pháp thiết thực. Ngài khám phá rằng bất cứ lúc nào trong tâm sinh khởi niệm bất thiện (cảm xúc) sẽ có hai hiện tượng tâm lý đồng thời xảy ra. Trước nhất là hơi thở chúng ta sẽ mất đi hô hấp bình thường. Chúng ta sẽ thở mạnh hơn khi trong tâm bắt đầu có xung đột. Đây là một sự thật mà mọi người đều có thể nhận biết, cho dù chúng ta có thể nghĩ rằng hơi thở là điều kiện sinh lý hiển nhiên và thô thiển. Bên cạnh đó, ở mức độ vi tế hơn, có một phản ứng sinh hóa “duyên khởi” bên trong thân thể, đó là cảm thọ. Mỗi tâm bất thiện (cảm xúc) sẽ tạo nên một loại cảm thọ sai khác bên trong. Phương pháp điều phục tâm bất thiện này là quan sát hơi thở lẫn cảm thọ.
Hơi thở và cảm thọ sẽ giúp chúng ta trên hai phương diện : trước nhất chúng là những thư ký đắc lực của chính mình. Ngay khi trong tâm sinh khởi tâm bất thiện (cảm xúc bất thiện) thì hơi thở không điều hoà sẽ lên tiếng báo động “chú ý, có điều gì đó bất ổn”. Tương tự, cảm thọ sẽ cấp báo “có vấn đề không ổn”. Chúng ta phải chấp nhận hiệu báo và tỉnh giác quan sát hơi thở cùng các cảm thọ, không bao lâu chúng ta sẽ nhận thấy rằng tâm bất thiện (cảm xúc) bị tiêu diệt.
Hiện tượng tâm sinh lý này giống như đồng tiền có hai mặt. một mặt là các tư tưởng hoặc cảm xúc sinh khởi trong tâm, còn mặt kia là hơi thở và cảm thọ trong thân. Bất cứ tư tưởng hoặc cảm xúc, ý thức, hoặc vô thức hay tâm bất thiện nào đều biểu hiện qua hơi thở và cảm thọ ngay lúc nó sinh khởi. Như vậy với sự quan sát hơi thở và cảm thọ, chúng ta sẽ gián tiếp quan sát tâm bất thiện hay cảm xúc. Thay vì né tránh vấn đề, chúng ta hãy đối diện với bản chất thật của nó, tâm cảm xúc bất thiện sẽ mất đi khả năng hiện khởi và không còn khống chế chúng ta như trước đây nữa.
Phương pháp tự mình quán chiếu sẽ giúp ta nhận được bản chất thật trên hai phương diện bên trong và bên ngoài. Trước đây chúng ta luôn luôn nhìn sự vật bằng nhãn quan thông thường bên ngoài nên không thể nhìn thấy được sự thật bên trong. Chúng ta chỉ tìm thấy các nguyên nhân đau khổ bên ngoài, đổ lỗi cho hoàn cảnh và cố gắng làm thay đổi cái nguyên nhân bên ngoài này. Do vô minh bao phủ khiến chúng ta không nhận thức được nguyên nhân đau khổ bắt nguồn từ bên trong, từ các phản ứng mù quáng của cá nhân, nhưng bây giờ nhờ tập luyện chúng ta có thể nhìn thấy mặt trái của đồng tiền, chúng ta có thể tỉnh giác từng hơi thở và hiểu rõ mọi hoạt động đang diễn ra bên trong chính mình. Càng hành trì chúng ta càng nhanh chóng giải thoát khỏi các phiền não, dần dần từng bước tâm sẽ chuyển hóa những cảm xúc ô nhiễm thành những cảm xúc lành mạnh. Lúc này tâm chúng ta luôn thanh tịnh và dạt dào tình thương yêu muôn loài, tràn đầy lòng từ bi đối với kẻ đang đau khổ và thất bại, chứa chan niềm hoan hỷ đối với người đang thành công và hạnh phúc. Người thực hành đến giai
đoạn này thì toàn bộ lối sống của anh sẽ trở nên thay đổi, anh ta sẽ không còn các hành động hay ngôn ngữ làm tổn thương người khác, thay vào đó, tâm người ấy quân bình, không những tự mình sống an vui mà cũng có thể giúp người khác cũng sống an vui, nói chung là hoàn toàn buông xả khi phải đối diện với bất cứ hoàn cảnh nào. [23]
Như vậy đến lúc này người đó đã biết chuyển hóa những cảm xúc tiêu cực thành cảm xúc tích cực vì người ấy lúc này không còn hành động và phản ứng theo bản năng làm hại mình và hại người khác nữa, mà người ấy đã biết hành động và phản ứng một cách chính đáng xuất phát từ tuệ quán, từ tâm bình thản và buông xả. Việc chuyển hóa hay điều phục cảm xúc như vậy sẽ khiến người ấy sống lành mạnh, sống có ý nghĩa, lợi ích cho mình và người.
KẾT LUẬN :
Nhìn chung, cảm xúc có vai trò to lớn trong đời sống của con người cả về mặt sinh lý lẫn tâm lý. Nó có thể tạo nên trạng thái hưng phấn, sáng suốt của con người, tạo nên cảm hứng, sáng tạo, sự tươi trẻ, hoạt bát … Hoặc ngược lại, nó làm cho mọi người trở nên mụ mẫm, chán nản, rũ rượi, mất hết sinh khí… Nó có thể làm mọi người khỏe hơn, chóng khỏi bệnh hơn, trẻ lâu hơn, sống lâu hơn, hoặc ngược lại, nó có thể làm ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng của cơ thể như nhịp tim dồn dập hơn, làm rối loạn nhịp thở, giảm biên độ hô hấp, ức chế hoạt động của ruột, làm co thắt dạ dày... Nó có thể làm con người trở nên cao thượng hơn, nhân đạo hơn, hoặc ngược lại nó làm cho con người trở nên mù quáng, chìm đắm, dại dột, dễ bị xui khiến làm việc xấu hơn. Chính vì vậy việc giáo dục và xây dựng những cảm xúc lành mạnh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển cảm xúc cao thượng ở nơi con người.
Ngày nay khi mà ngành khoa học đã phát triển đến đỉnh cao của nó, các nhà tâm lý học cũng đã đạt được những thành quả rất to lớn về việc nghiên cứu về tâm lý con người. Thế nhưng cho dù con người có hiểu được tâm lý của mình và người, nhưng chính bản thân của mỗi người vẫn bất lực trước sự chi phối của tâm lý, chưa thể điều phục được nó. Chính vì vậy mới nói câu : “con tim có những lý lẽ riêng mà lý trí không hiểu được”. Lý trí không kiểm soát được con tim, không kiểm soát được những cảm xúc của mình nên “ càng cố quên lại càng nhớ thêm”. Cũng chính vì lý do này nên ngày nay có quá nhiều người tự tử, có quá nhiều người bị tâm bệnh như bệnh như bệnh stress, bệnh trầm cảm … Ở Mỹ tâm bệnh còn trầm trọng hơn cả thân bệnh. Hằng năm nước Mỹ phải chữa trị 15 triệu ngươi bị bệnh trầm cảm, trong đó có 30.000 người tự tử. Những điều này cho thấy các nhà tâm lý học vẫn chưa đưa ra phương pháp nào hữu hiệu để chữa tâm bịnh cho con người.
Trong khi đó, Thiền Phật giáo có khả năng chữa lành tâm bịnh, có khả năng chuyển hóa những năng lực của cảm xúc thành năng lực trí tuệ. Thiền Phật giáo đã đưa ra phương pháp thực tiễn để chuyển hóa cảm xúc, đó là phương pháp quan sát hơi thở và cảm thọ. Khi luyện tập, chúng ta có thể tỉnh giác từng hơi thở và hiểu rõ mọi hoạt động đang diễn ra trong nội tâm của mình, bất cứ cảm xúc nào sinh khởi, chúng ta vẫn quan sát hơi thở và cảm thọ, không đánh mất trạng thái cân bằng của tâm, dần dần chúng ta sẽ chuyển hoá những độc tố của cảmn xúc thành những chất liệu từ bi, trí tuệ. Đó là tâm thanh tịnh luôn dạt dào tình thương yêu, hoan hỷ với mọi người, hoàn toàn làm chủ thân tâm khi phải đối diện bất cứ hoàn cảnh nào.
Là một tu sĩ, hơn ai hết chúng ta phải hiểu được nội tâm của mình, phải hiểu được bản chất của cảm xúc và mối nguy hiểm của nó đem lại. Nếu không điều phục được cảm xúc của mình thì chúng ta dễ dàng bị thế tục hóa, dễ bị cuộc đời lôi kéo, khó mà thành tựu trên lộ trình tu tập. Cho nên chúng ta phải cương quyết đưa ra các phương pháp chuyển hóa những cảm xúc thế tục bấy lâu nay còn ẩn tàng sâu trong tâm thức, chuyển hóa các độc tố của cảm xúc thành năng lực trí tuệ, chuyển hóa cảm xúc thành lòng nhiệt huyết tu tập, cố hoàn thành cho được lý tưởng cao đẹp của mình.    
Tuệ Đạt - khóa 6
 
                                   SÁCH THAM KHẢO
 
1. Phạm Minh Hạc, Tâm Lý Học, NXB Giáo Dục, 1997
 
2. TS. Trần Nhật Tân, Tâm Lý Học, NXB Lao động, 2003 
 
3. Vĩnh Đễ, Tâm Lý Học, Hiện Đại, 1969
 
4. Nguyễn Văn Hiếu (dịch), Tâm Lý Học (của P. A. Ruđich). NXB Thể Dục Thể Thao Hà Nội, 1986
 
5. Phạm Minh Hạc (chủ biên), Tâm Lý Học. NXB Giáo Dục, 2001
 
6. PTS. Bùi Ngọc Oánh (biên soạn), Tâm Lý Học Trong Xã Hội Và Quản Lý. Đại Học Mở Bán Công TP. HCM, 1992
 
7. Tài liệu giảng dạy môn “tâm lý học” tại Học Viện TP. HCM của Sư Cô Hương Nhũ.
 
8. Nguyệt San Giác Ngộ, số 36, tháng 3-1999
 
9. Thích Nữ Tinh Vân, Ngũ Uẩn, tài liệu giảng dạy tại Học Viện Phật Giáo Tại TP. HCM, 2005
 
10. Nguyệt San Giác Ngộ, số 109, tháng 4-2004
 


[1] Phạm Minh Hạc, Tâm Lý Học, NXB Giáo Dục, 1997, tr. 6
[2] Ibid, tr. 7
[3] Ibid, tr. 7 
[4] Tham khảo tài liệu giảng dạy môn “tâm lý học” tại Học Viện TP. HCM của Sư Cô Hương Nhũ.
[5] TS. Trần Nhật Tân, Tâm Lý Học, NXB Lao động, 2003, tr. 10-11
[6]  Ibid, 12,16  
[7] Vĩnh Đễ, Tâm Lý Học, Hiện Đại, 1969, tr. 96
[8]TS. Trần Nhật Tân, Tâm Lý Học, NXB Lao động, 2003, tr. 161
[9] Vĩnh Đễ, Tâm Lý Học, Hiện Đại, 1969, tr. 97
 
[10] Nguyễn Văn Hiếu (dịch), Tâm Lý Học (của P. A. Ruđich). NXB Thể Dục Thể Thao Hà Nội, 1986, tr. 299-233
[11]Ibid, tr. 236-238
[12] Ibid, tr. 241-242
 
[13]Ibid, tr. 243-244
[14] Phạm Minh Hạc (chủ biên), Tâm Lý Học. NXB Giáo Dục, 2001, tr. 143
 
[15]Nguyễn văn Hiếu (dịch), Op. cit, tr. 244
[16]PTS Bùi Ngọc Oánh (biên soạn), Tâm Lý Học Trong Xã Hội Và Quản Lý. Đại Học Mở bán công Tp. HCM, 1992, tr. 111
[17]Nguyễn văn Hiếu (dịch), Op. cit, tr. 246
[18] Phạm Minh Hạc (chủ biên), Tâm Lý Học. NXB Giáo Dục, 2001, tr. 147
 
[19] Ibid, tr. 148
 
[20] xem Nguyệt San Giác Ngộ, số 36, tháng 3-1999, tr. 58
[21] Thích Nữ Tinh Vân, Ngũ Uẩn, tài liệu giảng dạy tại Học Viện Phật Giáo Tại TP. HCM, 2005, tr. 5
 
[22]xem Nguyệt San Giác Ngộ, số 109, tháng 4-2004, tr. 56
[23] xem Nguyệt San Giác Ngộ, số 109, tháng 4-2004, tr. 56-59
 
Các bài viết phản hồi
GỬI Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Họ Tên :
Email :
Tiêu đề
Nội dung :
 
Các tin tức khác
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này