Hương Quê vừa mới nhận giấy báo admission ở một trường đại học rất xa. Đêm đã khuya nhưng Hương Quê vẫn chưa rời vị thầy mà mình đã quy y, vì ngày mai là phải khăn gói đi học và chưa biết lúc nào trở về lại thăm.

Không biết từ lúc nào Hương Quê đã xem ngôi chùa đầu làng là ngôi nhà thứ hai của mình. Như bao bọn trẻ khác, vừa biết đi và biết nói là mẹ chúng dắt bọn trẻ đến và để chúng nơi vườn dừa có bóng râm mát trước sân chùa. Thế là hằng ngày nhà sư trong chùa đọc kinh bọn trẻ bên ngoài hành lang chăm chú lắng nghe như là cô giáo mầm non hát ru chúng ngủ vậy. Có những lần tụng kinh xong nhà sư mở cửa ra là bọn trẻ đã say sưa ngủ. Sư nhẹ nhàng hướng ra vườn mận vừa bắt sâu vừa niệm Phật. Mùa này mận bắt đầu ra trái bói, có những trái đã chín tròn mọng nước, sư nghĩ đến bọn trẻ, như công phu đã từng dụng công tu tập cho pháp môn Tịnh Độ, sư vừa niệm Phật và vừa hái những trái mận chín để chút nữa bọn trẻ thức dậy cho chúng đỡ buồn miệng và khỏi khóc khi thấy mẹ chúng chưa đến đón về.

Theo năm tháng như vậy mà bọn trẻ lớn dần. Không ngày nào mà bọn trẻ không ghé đến chùa. Lúc tan học về là chúng nó tạt vào chùa, có lúc thì giúp nhà sư hái dừa hái mận. Riêng Hương Quê được có cơ hội tham gia thời khóa chiều với nhà sư. Như thường lệ chiều này khóa lễ xong, vừa xắp lại đống dừa được bọn trẻ hái xong còn để ngỗn ngang sư vừa dạy cho Hương Quê vì sao phải tham gia 2 thời khóa tụng sáng chiều. Giọng nhà sư nhẹ nhàng từ tốn chứa đựng lòng thương bao trùm muôn loài muôn vật. Sư hỏi Hương Quê có biết vì sao phải tham gia hai thời khóa tụng không? Hương Quê hằng ngày đi học về ghé vào chùa cùng với nhà sư tụng niệm nhưng chẳng hiểu gì về ý nghĩa. Nhà sư dạy: Cũng như đàn chim cả ngày bay đi kiếm mồi tối đến là tìm về tổ ấm, thời khóa tụng buổi chiều cũng vậy. Tâm mình rong ruỗi cả ngày, nên chiều đến phải dùng thời khóa tụng niệm để có nơi cho tâm linh hướng về. Cũng như mục đồng sáng dắt trâu ra đồng ăn cỏ, chiều dắt trâu về cho tắm rữa và lựa nơi thoáng mát cho chúng nghĩ ngơi.Vả lại thời khóa tụng buổi chiều cũng là biểu hiện lòng từ bi đối với loài cô hồn ngạ quỷ. Vừa thể hiện lòng từ dùng lời kinh tiếng kệ gia trì vào thức ăn để bố thí cho cô hồn, vừa cung kính nghe lời Phật dạy. Trong loài cô hồn ngạ quỹ nếu không do lòng từ bi cứu giúp của chúng ta thì ai sẽ là người tĩnh thức họ xã bỏ lòng tham, quy y tam bảo phát lòng vô thượng ? Việc làm tuy đơn giản nhưng  không thể không làm vì đây là sứ mệnh của Như Lai, cũng là hạnh nguyện độ tha trong lục độ vạn hạnh. Về mặt tự độ phải biết rằng chư hành vô thường, các pháp tùy duyên sanh diệt, nếu chấp trước vào một pháp nào đó thì thật là đáng sợ và thật là khổ đau. Trừ ra những pháp thiện có lợi ích cho mọi loài mọi vật và mang tính từ bi trí tuệ để phục vụ quần sanh.

Mùa này mận chín đầy vườn, chiều nay cũng như mọi buổi học về Hương Quê cùng với nhà sư tụng niệm khóa chiều, còn bọn trẻ thì hái mận ngoài vườn. Kết thúc khóa tụng thì bọn chúng khệ khạ cùng nhau bê vào mấy thúng mận bỏ trước hiên rồi chạy về nhà vì mẹ chúng vừa đến gọi về tắm rửa. Hương Quê cùng với nhà sư ngồi lựa mấy thúng mận để ngày mai mẹ thằng Rip đến chở ra đầu làng bán giúp cho sư lấy tiền lo việc hương hoa đèn nến. Vừa lựa sư vừa kể cho Hương Quê nghe về chuyện tiền thân của Ngài A Nan. Giọng nhà sư hiền từ hòa quyện vào chút hương chiều của thời khóa tụng vừa dứt:

Hương Quê! Con biết vì sao Ngài A Nan thông minh và thân tướng trang nghiêm vậy không?

Hương Quê vừa cầm chùm mận đặt vào chiếc giỏ tre và lắc dầu lễ phép thưa rằng không biết. Sư tiếp tục kể:

Ngài A Nan nhiều kiếp về trước, khi làm vị sa di ngày nào thầy dạy xuống núi lo việc Tam Bảo, công chuyện xong là cũng lật đật tức tốc về núi để tụng thời khóa chiều, dù mưa hay nắng trễ hay muộn chưa ngày nào chú tiểu này bỏ qua hai thời công phu.Vì vậy mà có thân tướng trang nghiêm và trí tuệ sáng suốt như vậy đó.

Sư cũng giảng thêm cho Hương Quê biết rằng thời khóa tụng buổi sáng có công năng bạt trừ nghiệp chướng, và giúp cho đường tu có nhiều thuận lợi. Nói tóm lại hai thời khóa tụng sáng chiều là pháp môn căn bản tự độ và độ tha thật là thiết thực. Như vậy mới gọi là hai thời công phu!

Có những ngày chủ nhật bọn chúng không đi học thế là đem bài đến trước hiên chùa ôn lại bài cũ và soạn bài mới. Nhà sư xem kinh xong là nấu cơm cho bọn chúng ăn.Vừa ăn sư đem những bài pháp căn bản để khai thị cho bọn trẻ. Nhà sư từ bi kể cho bọn chúng nghe về câu chuyện đầy đủ lực thu hút nhất thực tế trong nhà thiền rằng: Có một vị nữ sĩ con nhà rất giàu có, không những tiền tài danh vọng địa vị mà cả sắc đẹp không ai sánh bằng. Nhưng vị nữ sĩ này suốt ngày buồn bả không có được niềm vui vì không có một người nào thích gần gũi và trò chuyện với cô ta. Một hôm cô đến gặp thiền sư Vô Đức để thỉnh giáo rằng: Kính bạch thiền sư làm sao để có được đầy đủ lực thu hút? Thiền sư Vô Đức từ bi khai thị cho cô ta:   

Nếu đi đến chỗ nào tùy thời tùy lúc để tiếp cận với mọi người thì nên trong lòng luôn dùng tâm từ bi để đối đãi, dùng thiền hoa để nói, thiền âm để nghe dùng thiền sự để làm. Đối người và sự sự vật vật nên dùng thiền tâm thì sẽ thành tựu được lực thu hút.

Nghe xong nữ sĩ liền hỏi lại:Thế nào gọi là thiền hoa?

Thiền hoa nghĩa là nói những lời nói lợi ích, nói những lời nói khiến mọi người thích nghe, nói lời chân thật, nói lời khiêm tốn.

Thế nào là thiền âm? Nghĩa là khi nghe những lời mắn chửi, những lời nói sau lưng thì chuyển hóa âm thanh đó như là lời từ bi, nghe những lời hủy báng thì như là lời cỗ vũ, và khi nghe những lời thách đố, thô tháo, những lời khó nghe thì đừng để bụng, như vậy gọi là thiền âm.

Thế nào gọi là thiền sự? Nghĩa là làm những việc từ thiện, bố thí, phục vụ mọi người, mọi vật,làm những việc phù hợp với Phật pháp, và làm những việc mang tính cách lợi ích cho quốc gia xã hội v.v.. Đây gọi là thiền sự.

Thế nào gọi là thiền tâm? Nghĩa là mình và người đều như nhau, Thánh và phàm cũng chỉ dụng một cái tâm,nên có tâm bao dung độ lượng với người và vật, khởi tâm từ bi vô lượng lợi ích muôn loài.

Nghe xong vị nữ sĩ chuyển đổi tâm niệm không còn tính khí kiêu ngạo và cho rằng mình giàu có nhất, tất cả mình đều hơn người. Cũng không ỷ lại sắc đẹp của mình. Đối với mọi người lúc nào cũng dùng tâm cung kính và lễ phép khiêm cung, thường giúp đỡ khi người gặp khó khăn. Chẳng bao lâu tất cả mọi người đều yêu mến cô ta, gần gũi với cô ta, khen ngợi cô ta, và vị nữ sĩ này trở thành người có đầy đủ lực thu hút nhất.

Bọn trẻ năm xưa giờ đã lớn và ít nhiều cũng ảnh hưởng sự giáo dục của Phật đà bởi lòng từ bi giáo hóa của nhà sư. Như bao lần sau thời khóa tụng buổi chiều nhà sư biết Hương Quê sau này phải đi học xa nên dạy chung cho cả bọn trẻ rằng: Các con biết không? Thời kì này là thời chùa chiền tượng tháp? Nghĩa là thế nào? Thời kì chánh pháp thì căn cơ con người lúc đó rất thuần hậu, chỉ cần nghe Phật giáo hóa thì chứng ngộ ngay. Đến thời kì tượng pháp thì nương vào thiền định để chứng quả. Còn thời kì mạt pháp căn cơ con người tự lực rất yếu, nếu không nương vào chùa chiền tượng tháp để phước huệ song tu thì biết nương vào đâu để làm thuyền bè giúp mình và người thoát khổ. Nhà sư còn biết rằng căn của Hương Quê có duyên với chùa tháp. Ắt sau nay dù bất cứ đi đâu và học ở nơi nào, ở đó sẽ có đất già lam có duyên với Hương Quê.


Từ trước nên nay chẳng có ngày nào mà Hương Quê không đến chùa. Thế mà ngày mai phải lên đường đi xa. Nhìn vầng trăng non lơ lững trên mặt biển thuần lặng, Hương Quê chưa bao giờ chiêm ngưỡng tôn nhan như mãn nguyệt từ dung với lòng thương bao la độ lượng của thầy mình. Hương Quê chợt đưa hồn mình về trong lời dạy của nhà sư."Con biết không chúng ta thà không có tiền tài vật chất ch không thể không có lòng từ bi". Ngoài vườn ánh trăng non hiền từ tỏa chiếu, mẹ Hương Quê đến dẫn con về chuẩn bị cho chuyến đi xa. Dưới cảnh trăng non mờ nhạt trong làn gió mát dịu còn vang mãi lời dạy hiền từ ấm áp của nhà sư, làm sao Hương Quê quên được thời thơ ấu thuần chơn với nhiều kỉ niệm như là hành trang vô giá này.

Autumn Lotus