Đôi nén tâm hương cúng dường ngày lễ Vu Lan báo hiếu
Từ khi tôi mới xuất gia học đạo mãi cho tới bây giờ thấm thoát gần hơn hai mươi năm rồi, mà lần nào tôi tụng Kinh Vu Lan Bồn thì tôi cũng cảm thấy dâng lên một nỗi xót xa trong lòng và không khỏi rưng rưng nước mắt trước những câu Kinh vàng ngọc của Đức Phật nói với tôn giả Mục Kiền Liên khi Ngài còn tại thế.
Theo truyền thống ở các nước Á Đông nói chung và nền văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam nói riêng, thì lễ Vu Lan báo hiếu của những người con Phật được long trọng tổ chức ở các Tự-Viện, Tịnh Xá vào đúng ngày rằm tháng bảy hàng năm âm lịch hay còn gọi một cái tên khác nữa là tết trung nguyên.
Mùa hè này, thời tiết tuy rằng nắng nóng nhưng thỉnh thoảng cũng có vài đám mây đua nhau kéo về rồi tụ lại tạo thành những cơn mưa ngâu nhẹ hạt rơi lả tả trên cánh sen hồng, chính cái cảnh tượng của thiên nhiên bên ngoài đã làm cho không khí ngày lễ Vu Lan ở trong tâm mọi người thêm phần thiêng liêng hơn.
Từ khi tôi mới xuất gia học đạo mãi cho tới bây giờ thấm thoát gần hơn hai mươi năm rồi, mà lần nào tôi tụng Kinh Vu Lan Bồn thì tôi cũng cảm thấy dâng lên một nỗi xót xa trong lòng và không khỏi rưng rưng nước mắt trước những câu Kinh vàng ngọc của Đức Phật nói với tôn giả Mục Kiền Liên khi Ngài còn tại thế. Chính vì công ơn sanh thành dưỡng dục của hai đấng Cha Mẹ không chỉ ở một đời hiện tại mà còn có rất nhiều đời nhiều kiếp đã qua trong quá khứ thật to lớn khôn xiết biết bao nhiêu.
Chính vì sự thiêng liêng sâu nặng của hai đấng sanh thành như thế, cho nên thường ngày tôi cũng hay tìm đọc và ghi nhớ được một đoạn ở trong Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân mà khi xưa cách nay hơn 2633 năm trong một hôm nọ Đức Thế Tôn đã nói với tôn giả A Nan rằng:
Nầy A-Nan ngươi, về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng, đi lại nặng-nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không kể xiết.
- Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương, dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tiêu tan, khó lòng giữ được.
- Khi được hai tháng, ở trong thay mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
- Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
- Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
- Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ năm hình, chân tay đầu óc.
- Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ. Sáu căn mới đủ, mắt tai mũi lưỡi, thân hình và ý.
- Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi, những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn ngàn chân lông.
- Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ; phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.
- Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người, ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thục tạng hướng lên, có một giãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di, hai là núi nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời, hóa ra dòng máu, rót vào trong miệng.
Trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ, nếu là con bạc, giẫy dụa bãi bơi, khiến đau lòng mẹ; buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho xiết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay dấu thay!
Ngoài những lời dạy ở trên thật thấm thiết của Đức Phật, thì trong Kinh Vu Lan Bồn Ngài cũng rất thâm tình chỉ bảo phương pháp báo hiếu thật cặn kẽ để cho tôn giả Đại Hiếu Mục Kiền Liên làm theo và cũng là tấm gương hiếu hạnh bậc nhất để cho người đời vạn thế noi theo mà thực hành cho tròn bổn phận của một người con được cha mẹ sinh ra và được sống trên cõi đời này; trừ những người bất hạnh. Thật cao quý thay nếu như một ai đó đã hết lòng hiếu thảo với Cha Mẹ của mình khi còn sống cũng như đã quá vãng rồi.
Trong hai bộ Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân và Kinh Vu Lan Bồn nói về công ơn mang nặng đẻ đau hay nuôi nấng nhọc nhằn bao năm của Cha Mẹ thôi, ngoài ra còn chỉ bảo những phương pháp thờ cúng để mong cầu vong linh của Cha và Mẹ đã qua đời có thêm cơ hội tỉnh thức bản tâm quay về bến giác; thì cũng có một bài Kinh khác cũng chỉ thêm cách thức lễ cúng để mọi người có thể hiểu thêm về sự thờ cúng của mình là rất thiết thực chứ không hề có một chút nào gọi là mê tín cả. Sau đây người viết xin trích nguyên bản bài Kinh do Đức Phật nói với một tu sĩ Bà La Môn với tựa đề Kinh Cúng Thí Người Mất thứ mười chín trong tập Kinh Tụng Hằng Ngày, do Đại Đức Thích Nhật Từ biên soạn như sau:
"Chính tôi được nghe, lúc Đức Phật lưu trú tại tinh xá Kỳ Viên, Bà-la-môn Cha-nu-sô-ni đến viếng thăm, đảnh lễ rồi thưa hỏi Đức Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn, con là Bà-la-môn chuyên làm các lễ cúng cho người chết, lòng những mong đem lại lợi ích cho họ. Như vậy, bạch Thế Tôn họ có thật sự được lợi ích chăng?
Đức Phật dạy rằng:
- Này Cha-nu-sô-ni, nếu có sự tương xứng thì người chết sẽ hưởng được phẩm vật cúng dường. Bằng không có tương xứng thì họ không được hưởng gì cả.
Bà-la-môn Cha-nu-sô-ni bạch Phật rằng:
- Kính xin Đức Thế Tôn giải rõ cho chúng con hiểu thế nào là tương xứng và không tương xứng ?
Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo Bà-la-môn Cha-nu-sô-ni và đại chúng rằng:
1. Nếu ai sống sát sanh, lấy của không cho, ngoại tình, nói sai sự thật, nói lời chia rẽ, nói lời độc ác, nói lời vô ích, còn tham ái, sân hận, si mê, và tà kiến, sau khi mạng chung sẽ bị đọa vào địa ngục. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của địa ngục. Do đó, sự kiện người thân quyến cúng đồ ăn của con người cho họ là không tương xứng. Người mất sẽ không hưởng được gì từ sự cúng kiến đó.
2. Này các thiện nam, tín nữ, người nào gieo mười điều ác, khi qua đời phải bị sanh vào các loài động vật. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của loài động vật. Do đó, quả thật sẽ không tương xứng, khi người thân quyến đem phẩm vật của con người để cúng quải, làm sao người chết đó đã đầu thai thành động vật có thể ăn được.
3. Này các thiện nam, tín nữ, ngay cả trường hợp người chết khi còn sống tu tập mười nghiệp lành, được tái sanh làm con người, hay có phước báu hơn được sanh vào cảnh giới chư thiên, họ có cha mẹ riêng và các món ăn riêng để nuôi mạng sống của họ. Do đó, thật là không tương xứng, nếu người thân quyến cúng dường và mong người quá cố thọ nhận. Vì người chết đã tái sanh làm người khác hoặc chư thiên rồi làm sao thọ nhận được.
4. Này các thiện nam, tín nữ, chỉ có một trường hợp duy nhất người chết có thể nhận được sự cúng quải của người thân quyến. Đó là trường hợp người chết bị đọa vào ngạ quỷ. Món ăn nào mà người thân quyến đem hiến cúng cho họ thì họ sẽ hưởng được món đó. Họ sống được là nhờ vào các món ăn này. Đây là trường hợp Như Lai gọi là có sự tương xứng.
Nghe Đức Phật giải bày cặn kẽ, Bà-la-môn Cha-nu-sô-ni liền hỏi thêm:
- Bạch Thế Tôn, các trường hợp người chết tái sanh vào loài động vật, địa ngục, A-tu-la, hay sanh lại làm người, hoặc sanh thiên thì sự cúng quải không có sự thọ hưởng. Nếu người chết không tái sanh vào cõi ngạ quỷ thì ai sẽ là người thọ hưởng sự cúng kiến ấy ?
Lúc ấy Đức Phật ân cần dạy rằng:
- Này các thiện nam, tín nữ, nếu người thân thuộc đã quá cố này không sanh vào loài ngạ quỷ, thì cũng có những người thân thuộc khác ở loài ngạ quỷ sẽ hưởng thế phần.
Bà-la-môn Cha-nu-sô-ni hỏi thêm rằng:
- Nhưng nếu cả dòng họ thân thuộc của người cúng không một ai tái sanh vào loài ngạ quỷ thì phẩm vật cúng đó sẽ thuộc vềai ?
Đức Phật dạy rằng:
- Đây là trường hợp không thể xảy ra, rằng chỗ ấy trống không trong một thời gian dài mà không có một ai đó trong huyết thống bị sanh vào. Nhưng này các thiện nam, tín nữ, mặc dù thế, người bố thí ấy không phải không hưởng được quả phước từ sự cúng thí đó.
Nhân đó Đức Phật dạy thêm về phước báu của sự bố thí.
- Này các thiện nam, tín nữ, trong suốt quá trình sống, người nào vi phạm mười điều ác nhưng lại biết làm hạnh bố thí, người ấy khi nhắm mắt lìa đời sẽ sanh vào loài voi, nhưng là con voi được chăm sóc, ăn uống và trang phục đầy đủ. Trong trường hợp họ vì nghiệp duyên bất thiện, sanh làm ngựa, bò hay bất kỳ loài bàng sanh nào, thì ở đấy, y vẫn hưởng thọ đầy đủ sự ăn uống và chăm sóc của chủ tương xứng với phước duyên bố thí khi họ còn làm người.
Nhưng này các thiện nam, tín nữ, điều Như Lai muốn răn dạy chính là một người đầy đủ mười hạnh lành lại còn biết trau dồi hạnh bố thí chơn chánh, cúng dường những bậc chân tu và những người đạo đức. Khi qua đời hoặc được tái sanh làm chư thiên thì tại đấy y sẽ được hưởng năm thứ phước đức chư thiên, hoặc sanh làm người thì sẽ được hưởng năm thứ phước báu cõi người. Trong bất kỳ trường hợp và trong bất kỳ cảnh giới sống nào, người có hạnh bố thí vẫn tốt hơn.
Sau pháp thoại này, Bà-la-môn Cha-nu-sô-ni liền trở thành nam cư sĩ. Toàn thể pháp hội đều hoan hỷ, vâng theo lời Phật dạy."
Qua lời dạy bảo của Đức Phật trong ba bộ Kinh trên, giờ đây trong tâm tôi như đang tràn ngập một niềm hạnh phúc bỡi vì đã hiểu thấu được Công ơn sinh thành dưỡng dục của Cha và Mẹ tợ như trời cao và biển rộng vậy, nên tôi rất lấy làm niềm vui sướng và cũng thật có ý nghĩa đối với tôi khi hai đấng sanh thành của mình vẫn còn đang sống trên cõi đời này; đó là cơ hội để tôi trực tiếp báo hiếu để làm tròn bổn phận làm con của mình.
Sau đây người viết xin mượn vài dòng thơ trong một bài thơ dịch Việt của Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh nói về tâm trạng của những người mất Mẹ và cũng là lời kết cho bài viết luôn vậy.