Những bài giảng của Thiền sư Thích Thanh Từ đã một thời sưởi ấm lòng tôi trong những chiều ảm đạm ở Cần Thơ. Những lời giảng cởi mở, những tiếng cười hồn nhiên và thánh thiện của Thiền Sư đã làm cho không gian trở nên nhẹ nhàng thân thiện. Tình cờ đọc tác phẩm: “Ba vấn đề trọng đại trong đời tu học của tôi” (Thích Thanh Từ– Nxb Hà Nội, 1998) tôi mới hiểu thêm về Thiền sư.
Ở đó tôi bắt gặp một đức tính cương quyết, vô uý vì đạo pháp và dân tộc của một thiền sư vĩ đại. Cũng từ đó tôi có đôi điều suy nghĩ về Thiền học Việt Nam hiện đại.
Các Thiền sư Việt Nam hiện đại đã quan tâm đến hiện đại hoá Thiền học ví dụ các tác phẩm: “Vũ trụ quan thế kỷ XXI” (Thích Duy Lực), “Thiền học Việt Nam cuối thế kỷ XX” (Thích Thanh Từ), “Đạo Phật ngày nay” và “Tương lai Thiền học Việt Nam” (Thích Nhất Hạnh)… nhưng Thiền học Việt Nam hiện đại phần nhiều mang đậm tính dân tộc.
Thiền sư Thích Duy Lực không quan tâm đến Thiền Mặc Chiếu (Tổ Đạt Ma), Như Lai Thiền (Thiền học truyền thống) mà đi vào Tổ Sư Thiền (dựa vào phương tiện Công án). Nhưng mặt khác lại Thiền sư chủ trương tu kết hợp với “tụng đọc”, điều đó đã phá vỡ nội quy thiền viện từ đời Tống - cấm mọi hoạt động đọc và viết. Đó cũng là một nét của Thiền học Việt Nam hiện đại vốn mang tính chất thích ứng và tích hợp.
Thiền sư Thích Thanh Từ quay về yếu tố Việt, tính dân tộc,Thiền phái Trúc Lâm. Thiền sư nhận xét về thực trạng Phật học và Thiền học Việt Nam và muốn xây dựng một nền Phật học hưng thịnh, độc lập văn hoá và ngang tầm thời đại.
Thiền sư Thích Thanh Từ nhận xét về khoá tụng thường nhật của Phật giáo Việt Nam: “Đa số nói là tu theo Tịnh Độ. Tụng kinh Di Đà và niệm danh hiệu Phật A Di Đà thuộc về Tịnh Độ Tông, tụng chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm thuộc về Mật Tông. Nhận xét chín chắn thì hai thời khoá tụng Mật Tông chiếm ưu thế… Hai thời khoá tụng xuất phát từ đâu? Căn cứ vào tựa quyển “Nhị khoá hiệp giải” thì xuất xứ từ thời nhà Thanh ở Trung Quốc. Vua Thánh Tổ nhà Thanh hiệu Khang Hy ra sắc lện mời Hoà thượng Ngọc Lâm Thông Tú cùng với một số Hoà thượng hợp tác soạn “Nhị thời khoá tụng” buộc tăng ni các chùa ở Trung Quốc trong thời này phải ứng dụng tu theo…
Tuy Nhị thời khoá tụng là chủ trương Tịnh, Mật đồng hành, song nghiêng hẳn về Mật. Nhị thời khoá tụng ra đời khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII là thời kỳ Phật giáo Trung Hoa xuống dốc. Không biệt nhị thời khoá tụng du nhập vào Việt Nam vào lúc nào, chỉ biết từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX, hầu hết các các chùa Việt Nam đều lấy hai thời này làm công khoá tu hành. Đi vào chùa tu đều bắt buộc phải thuộc hai thời khoá tụng gọi là hai thời khoá công phu…
Song ngày nay đã khác, một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, người Việt Nam là một dân tộc anh hùng, lòng tự tín đã nâng cao. Thế mà, Phật giáo Việt Nam vẫn cứ tu theo lề thói cũ, có thích hợp với lòng tự tín của toàn dân, có nhịp nhàng tiến kịp tin thần vươn lên của đất nước chăng? Đây là chỗ nhiêu năm trăn trở nhức nhói của chúng tôi” (“Ba vấn đề trọng đại trong đời tu học của tôi” - trang 68-70)
Thiền sư Nhất hạnh cũng đồng ý: “Đứng về phương diện giáo lý chúng ta vẫn giữ nguyên một thứ Thiền học ốm yếu mà gốc rễ là Mật Tông và Tịnh Độ Tông” (“Tương lai thiền học Việt Nam” – trang 40).
Thiền học Trúc Lâm chịu ảnh hưởng từ Vô Ngôn Thông (vốn truyền từ Lục Tổ- Nam Nhạc- Mã Tổ-Bá Trượng- Vô Ngôn thông…) nhưng chủ yếu là “hoà hội các phái Thiền Tì - ni – đa - lưu - chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã truyền bá trên đất nước Việt Nam lập thành phái Trúc Lâm Yên Tử. Đây là phái Thiền hoàn toàn Việt Nam” (“Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ XX”- Nxb Tp. HCM 1998, trang 46). Hơn nữa, Thiền Trúc Lâm còn thừa hưởng sự tác động của một nhân vật lỗi lạc, kiệt xuất - Tuệ Trung Thượng sĩ làm cho sự Thiền Trúc Lâm đạt đến tầm vóc cao siêu, vô úy và giàu tinh thần dân tộc.
Văn hoá Việt Nam có khuynh hướng tích hợp nhưng tiếp biến, khuynh hướmg đó làm nên sức mạnh văn hoá dân tộc và sự phát triển của văn hoá dân tộc. “Khuynh hướng tổng hợp đạo Bụt Đại thừa và Đạo Bụt nguyên thuỷ nằm trong một tổ chức giáo hội điều này cũng là nét đặc thù của Phật Giáo Việt Nam. Đó là một nét đặc tính của văn hoá dân tộc, một trong những đặc tính làm nên văn hoá đối lập với Phương Bắc. Sách “Đường xưa mây trắng” đã sử dụng tài liệu các kinh điển nguyên thuỷ theo tinh thần Đại thừa cũng thể hiện ước muốn và đường lối ấy của văn hoá dân tộc” (“Đi như một dòng sông” – trang 144).
Đến Thiền sư Thanh Từ ta thấy dấu vết công án, thiền trượng của Thiển Trung Quốc mờ nhat đi, có thể Thiền sư đã chịu ảnh hưởng của sư phụ Thích Thiện Hoa - Người đã biên soạn chương trình “Phật học phổ thông” nổi tiếng, người đã chuyên về Duy Thức tông. Từ Duy Thức tông rất dễ trở về Luận Tạng và Kinh Tang truyền thống. Thiền sư cũng đã dịch và chú giải kinh “Lăng - Già tâm ấn”- tác phẩm mà Đạt Ma tổ sư mang sang để khơi nguồn Thiền tại Đông Độ. Thiền sư cũng chú ý mốc chuyển giao Thiền học Ấn - Hoa này để thiết kế chương trình Thiền học Việt Nam từ tầm cao.
Thiền Sư nói về sự chứng ngộ của mình cũng không do công án mà do “tu giống Phật” và tự ngộ.
Có thể nói Thiền học Việt Nam hiện đại đã giàu tính thời đại, tính thực tiển, độc lập văn hoá nhưng vô ngại. Nó có thể mang văn hoá dân tộc đi sâu vào văn hoá Phương Tây ảnh hưởng tích cực cho văn hoá Phương Tây hoặc đào tạo nên những thế hệ Thiền Việt trên đất Hoa…
Tính hiện đại và tính dân tộc bổ sung cho nhau. Càng hiện đại hoá, Thiền học càng tránh được những lệ thuộc vào văn hoá Trung Quốc, Thiền học Trung Quốc, càng độc lập và càng thiết thực.
Việc khẳng định Sơ tổ của Thiền Tông Việt Nam là Khương Tăng Hội (trước Đạt Ma Sư Tổ) cũng nằm trong mạch tư tưởng này.
Thiền sư phát biểu tại Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên - Vĩnh Phúc: “... Khẳng định cho nhân dân và thế giới biết dân tộc Việt Nam từ thời các vua Hùng đã biết tu Thiền và Đạo Phật đã vào Việt Nam trước thế kỷ thứ hai (sớm hơn Trung Quốc)” (“Mấy vấn đề về Phật Giáo Tây Thiên, Tam Đảo - Vĩnh Phúc” - Viện Nghiên Cứu Tôn giáo -Sở VHTT Vĩnh Phúc 7/2006- trang 197); Thiền sư lại một lần nữa khẳng định bản lĩnh của Thiền học Việt Nam.
Kính mong những vấn đề trọng đại của Thiền sư hoàn thành viên mãn.
Th.s-NCS. Huỳnh Quán Chi