Đây là hình ảnh tôi thích từ bé. Hình ảnh ngồi yên lặng cô tịch trong đêm và ánh trăng xa xa kia.
Chúng tôi có thói quen rủ nhau đêm mùng bảy thức đến 3 giờ khuya mùng tám xem sao mai mọc, lúc Phật thành đạo, để xem có gì khác biệt với với những khuya mùng tám thức dậy trong năm hay không.
Nỗi hồi hộp của buổi tối sau giờ chỉ tịnh, chúng tôi ngồi im lặng, nửa mảnh trăng dần dần chếch sang tây. Đêm dần lạnh. Ngọn đèn nhấp nháy trên những nhánh cây mừng Phật Thành Đạo, trên băng rôn trước cổng. Chúng tôi im lặng. Không biết tâm Phật khác tâm chúng sanh thế nào nhỉ. Có hồi hộp chờ đợi không. Nhưng khi thành đạo, trước đó chắc Phật cũng không định chắc rằng khuya nay là đêm quyết định. Chính vậy nên Ngài không có sự hồi hộp.
Một chuyện đến trong quá trình làm việc, thì ngay giây phút đó không có sự hồi hộp, nếu đó là một thử thách biết được, và chờ đợi kết quả tuyên bố, chắc rằng sự “thắng bại” làm khuynh đảo tâm trí rồi.
Chúng tôi thường nhắc lại những trang sử đêm thành đạo còn ghi trong kinh điển ngày hôm nay, mỗi người chọn một đoạn mình tâm đắc và đọc cho huynh đệ cùng nghe. Nhưng thường là đoản văn ngắn dễ đọc hơn.
– Bọn ngu muội lấy giả làm thật, bám víu vào những ảo tưởng mong manh, hãy đi xa chỗ này. Chúng mày không cám dỗ được ta. [1]
- Bóng hình giả dối, như bao nhiêu bóng hình giả dối của thế gian, mày không thể phỉnh gạt ta được. Hãy tan cho mau theo bóng tối!
Những lời diễn tả giây phút trước khi chứng ngộ. Những đe dọa cám dỗ không làm lay động tâm ngài. Nghĩ đến mình, chỉ một con muỗi nhỏ vo ve bên tai cũng đủ làm giao động. Nghĩ đến những chuyện không vui đủ làm mình đứng bật dậy, đi tới đi lui không yên. Giấc ngủ Ngài không yên bởi tâm thao thức nỗi khổ sanh tử của chính mình và chúng sanh. Còn chính mình có những đêm ngủ không yên bởi nhiều lo toan của đời thường, dù rằng nếp sống đạm bạc này đâu có gì để lo lắng thái quá. Những buồn vui chưa dễ tan ngay khi chạm việc. Điều đức Từ Phụ để lại trước khi thành đạo là một nhắc nhở rất mạnh trong tâm tư. Trước những khó khăn, tôi hiểu điều mình cần làm nếu đã chọn con đường này.
Ngay khi lúc Ngài thành đạo, giọng đọc chuyển sang mạnh mẽ hơn:
- “cỗ xe đời rã bánh, người bị buộc vào cỗ xe được giải thoát, vượt ra ngoài phạm vi nhỏ hẹp, thấy mình là toàn thể, toàn thể là mình. Người không còn bị ràng buộc trong không gian, cho nên không phụ thuộc với thời gian; không riêng giữ một hình dáng cho nên luôn luôn vĩnh viễn; bởi biết tự đổi thay cho nên không bao giờ bị thay đổi. Người bắt đầu qua một trạng thái mới, không sanh không diệt, an lành thanh tịnh, sáng suốt vô ngần: đấy là Niết-bàn!”
Điều tâm đắc của tôi chính là những lời sau khi thành đạo, tin chắc rằng chúng sanh ai cũng có tính giác ngộ. Là điều vun xới niềm tin trong những lúc có những thất vọng về tâm tư nhau. Nếu không có những lời khẳng định đó, làm sao một chúng sanh đầy u mê và đủ thứ khiếm khuyết như chúng tôi có thể tin rằng mình cũng giác ngộ. Niềm tin đức Phật để lại đó là một ngọn đuốc sáng, dù rằng chúng tôi phải tự thắp đuốc lên mà đi, nhưng nếu không có ngọn đuốc kia, chúng tôi biết mồi vào đâu ngọn đuốc của chính mình. Những câu được ghi nơi Tổ Đường là “Truyền đăng tục diệm”, cũng là ý này chăng.
Với sự thỉnh cầu của Phạm thiên: “Người đã Tháo Gỡ mọi trói buộc. Xin Ngài hoan hỷ đứng lên và châu du khắp thế gian! Xin Đức Thế Tôn truyền bá Giáo Pháp! Sẽ có người lãnh hội được!"[2] Nhờ vậy đến ngày hôm nay chúng tôi mới có nhân duyên nghe lại lời của bậc giác ngộ suốt 49 năm thuyết giảng.
Những lời đức Từ Phụ là những dòng nước trong lành tưới vào mảnh đất tâm khô cằn, khiến nó tươi tốt. Như cây khô đâm chồi xanh. Chúng tôi vững tin, dù rằng ngay lúc này đây, chúng tôi chưa thành tựu được điều gì khả dĩ nói là đền đáp.
Quán Không
[1] Võ Đình Cường, Ánh Đạo Vàng, 1999
[2] Narada, Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh dịch Việt