Bác sĩ Hồ Đắc Di - anh ruột Sư bà Diệu Không thì đã quen biết anh Nguyễn Khắc Viện từ lâu do hai người từng du học ở Pháp, lại là đồng nghiệp bác sĩ. Cái cảm giác vừa ước ao được đến gần, vừa e ngại là tình thế con người ta khi đứng trước những nhân vật, những hiện tượng khác thường, đầy sức cuốn hút nhưng cũng lắm bí mật và huyền thoại. Hai tác giả Lê Ngân và Hồ Đắc Hoài (trong cuốn "Đường thiền sen nở" - NXB Lao động và Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2009) cũng đã viết "Hồ Thị Hạnh- Diệu Không- một kỳ nữ Việt Nam trong thế kỷ XX".
Quả là ở Huế - và có lẽ không chỉ riêng với Huế - Sư bà Diệu Không (1905-1997) cùng với bà Đạm Phương và bà Tùng Chi là những nhân vật nổi tiếng do có nhiều đóng góp đặc sắc trong lĩnh vực văn hoá - xã hội, có ảnh hưởng không nhỏ đến những biến chuyển lịch sử của đất nước ta trong thế kỷ XX.
Từ lâu, giới phật tử ở Huế đã truyền tụng công lao của Sư bà Diệu Không trong việc thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, xây dựng ni viện, cô nhi viện ở nhiều địa phương và Viện Đại học Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam (Đại học Vạn Hạnh); bà còn biên dịch nhiều bộ kinh Phật, là một trong những sáng lập viên Nhà in Liên Hoa, Báo Liên Hoa…
Đặc biệt, trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, bà đã thể hiện bản lĩnh của một "kỳ nữ", đi đầu những hoạt động yêu nước, chống ngoại xâm. Có những chuyện tưởng như là huyền thoại, nhưng nay qua cuốn hồi ký của bà vừa được công bố, thì tất cả đều là sự thật.
Như chuyện lúc Mỹ-Diệm đàn áp Phật giáo (năm 1963), sau khi nhiều vị lãnh đạo Phật giáo ở chùa Từ Đàm (Huế) và chùa Xá Lợi (Sài Gòn) bị bắt giam, bọn lính lùng bắt bà ráo riết nhưng không thấy đâu, mặc dù bà vẫn ở trong chùa Hồng Ân. Bà con bảo nhau là bà được Đức Phật che chở; nay đọc hồi ký thì quả là những ngày đó bà "ngồi trì chú Đại bi ở trước bàn Phật của chùa Hồng Ân".
Và bà đã kể lại: "Một số trong bọn chúng biết mặt tôi, thấy tôi ngồi nhắm mắt, chúng nói với nhau: "Chính bà ấy đó!", nhưng có người khác lại nói: "Anh ngu lắm, bà ấy đâu dám ngồi đó, phải đi tìm khắp các hang, các hố…". Lúc bấy giờ, tôi chỉ còn cách nhờ Phật che chở bằng lối trì chú Mật tôn, mà thật đã năm ngày như vậy, nó vẫn chưa bắt được tôi…".
Cũng trong thời kỳ đấu tranh quyết liệt này, khi những người lãnh đạo Phật giáo buộc phải chọn cách tự thiêu để phát động phong trào đấu tranh chống lại các hành động đàn áp của chính quyền, bà đã tình nguyện được đứng đầu đội cảm tử. Chị ruột của bà là Sư bà Diệu Huệ (tức là bà Ưng Úy) cũng xin được hy sinh và đã cùng bà bay vào Sài Gòn, nhưng rút cuộc, các chư tăng họp tại chùa Ấn Quang đã quyết định để Hòa thượng Thích Quảng Đức lãnh sứ mệnh quan trọng này. Vụ tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức đã gây chấn động dư luận thế giới, là một trong những nguyên nhân khiến chế độ Diệm-Nhu sụp đổ.
Trước đó, chuyện bà cứu Hòa thượng Thích Đôn Hậu thoát khỏi án tử hình của thực dân Pháp cũng thật đặc biệt. Đó là khi bọn Pháp tái chiếm Huế, lùng bắt những người mà chúng cho là theo Việt Minh, trong đó có các Thượng tọa Thích Mật Thể, Thích Đôn Hậu…
Khi biết tin Hòa thượng Thích Đôn Hậu bị mật thám Pháp bắt giam và sắp bị xử tử, bà chẳng nề chi thân "liễu yếu đào tơ", chẳng quản hiểm nguy, xin Hòa thượng Thích Mật Hiển cho đến Sở Mật thám tính cách cứu thầy Đôn Hậu. Thật chẳng khác chi một dũng sĩ vào hang cọp; chỉ khác bà vào đấu lý và nhờ thân thế của mình, một số vị có thế lực ở Huế lúc đó đã giúp bà buộc mật thám Pháp chịu đưa thầy Đôn Hậu sang bệnh viện chữa trị vết thương mà chúng gây ra và rút cuộc đã phải thả Ngài về chùa Thiên Mụ…
Đọc hồi ký của Sư bà Diệu Không, tôi trở lại thăm Ni viện Kiều Đàm cùng căn nhà nhỏ của chị Cao Xuân Nữ Oanh ẩn mình một cách khiêm tốn cạnh chùa bên đường Điện Biên Phủ với một nỗi tiếc nuối vì nhiều lẽ. Sư bà Diệu Không đã viên tịch tròn một giáp rồi, cũng vào một ngày tháng 8 năm Sửu; chị Oanh cũng đã qua đời. Thế là tôi chẳng còn dịp được diện kiến để hỏi chuyện bà; mà hồi ký bà để lại chưa đầy trăm trang.
Một phật tử đã lãnh hai chữ "Diệu Không", từng viết trong bài thơ "Học kinh Lăng Già": "Trở lại mà tu một chữ không" thì đâu cần kể công lao, nhưng là người "làm chứng" gần trọn cả thế kỷ XX đầy biến động của đất nước, lại từng có dịp gần gũi với nhiều nhân vật lịch sử, trong đó có Vua Duy Tân, Bảo Đại, Nam Phương Hoàng hậu, bà Từ Cung… rồi cụ Phan Bội Châu, bà Đạm Phương, Hải Triều và hầu hết các vị cao tăng trong Phật giáo Việt Nam, bà có thể cung cấp cho hậu thế - nhất là những người làm sử sách - biết bao nhiêu là sự kiện, chi tiết, nhận định… giúp làm sảng tỏ những "khoảng mờ" trong lịch sử, nếu như tập hồi ký được in sớm hơn rồi nghe bà "diễn giải" những điều mà bà chỉ mới viết một cách cô đúc, chủ yếu theo yêu cầu của "một số nhà văn để họ sưu tầm tài liệu" ("Duyên khởi" - Lời mở đầu hồi ký)…
Dù sao bà cũng đã để lại những "tài liệu" thật đáng quý, "… cho chúng ta nhiều điều mách bảo… Có thể tin lời Sư bà để chấn chỉnh hay xử lý lại những tin tức của thời đại ta đang sống (kể cả buổi giao thời đầu thế kỷ XX)…" - như Giáo sư Chương Thâu đã viết trong "Đôi lời trân trọng" sau khi đọc hồi ký của bà. Quả vậy, cuốn sách nhỏ đã mách bảo chúng ta nhớ lại và suy ngẫm nhiều điều. Chỉ riêng cuộc đời bà trong thời thơ ấu và thanh niên - khi bà còn là quận chúa Hồ Thị Hạnh - đã chứa đựng không biết bao nhiêu là sự kiện đặc biệt với những nỗi niềm không dễ lý giải, gợi chúng ta không thôi ngẫm nghĩ về lẽ sống ở đời.