Nhắm mắt đưa chân.
Cảm niềm đau của một người xa quê hương (đau lòng lưu lạc) Kiều ghi xuốngtâm sự mình dưới hình thức những câu thơ. Làm thơ xong, buông màn xuốngngâm lên thì nghe phía tường bên kia có tiếng một người con trai ngâm họalại. Người con trai đó được tả như thế này:
Một chàng vừa trạc thanh xuân,
Hình dung chải chuốt ao khăn dịu dàng.
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.
Rất hay! Anh chàng có dáng dấp học trò, không giống Mã Giám Sinh nhưngcũng rất khác với Kim Trọng. Hữu ư trung tức hình ư ngoại. Qua cách tả chúng ta cũng đã thấy được phần nào nội dung tâm lý của anhchàng rồi.
Bóng nga thấp thoáng dưới mành,
Trông nàng chàng cũng ra tình đeo dai:
Thấy nàng Kiều anh chàng cũng có vẻ quyến luyến. Anh ta mở lời:
'Than ôi! Sắc nước hương trời,
'Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?
'Giá đành trong nguyệt trên mây,
'Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa?
'Tức gan riêng giận trời già,
'Lòng này ai tỏ cho ta hởi lòng?
'Thuyền quyên ví biết anh hùng,
'Ra tay tháo cũi sổ lòng như chơi!'
Anh chàng muốn chứng tỏ mình là một trang hảo hán, có lòng anh hùng nghĩahiệp, có thể cứu đời. Theo cách nói như vậy, chúng ta thấy rất rõ đây chỉlà nghĩa hiệp ở hình thức. Hình như Thúy Kiều cũng cảm thấy điều đó. Nhưngcô đang ở trong một hoàn cảnh quá ư khó khăn nên cố bíu lấy bất cứ cái sàonào được đưa ra.
Đánh liều nhắn một hai lời,
Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.
Mảnh tiên kể hết xa gần,
Nỗi nhà báo đáp nỗi thân lạc loài.
Tan sương vừa rạng ngày mai,
Tiện hồng nàng mới nhắn lời gởi sang.
Thúy Kiều viết thư kể chuyện mình. Tảng sáng gửi sang (tiện hồng) nhà bênkia. Đến chiều đã thấy thư trả lời (phục thư) của 'chàng nghĩa hiệp'.
Trời tây lãng đãng bóng vàng,
Phục thư đã thấy tin chàng đến nơi.
Mở xem một bức tiên mai,
Rành rành Tích Việt có hai chữ đề.
Lấy trong ý tứ mà suy:
'Ngày hai mươi mốt tuất thì phải chăng?'
Kiều rất thông minh. Mở thư thấy hai chữ 'Tích Việt' thì đoán được thôngđiệp bí mật. Chữ Tích () phân ra có ba phần: trấp () là hai mươi () nhất() là một, nhật () là ngày. Chữ Việt () có nghĩa là vượt, trong đó có chữ() tuất (). 'Ngày hai mươi mốt, giờ Tuất (19: 00 - 21:00 giờ) mình sẽ đitrốn.' Đó là thông điệp bí mật của chàng.
Chim hôm thoi thóp về rừng,
Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành.
Tường Đông lay động bóng cành,
Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào.
Bây giờ hai người mới thật sự gặp nhau. Trước kia chỉ gặp bằng thơ văn.
Sượng sùng đánh dạn ra chào,
Lạy thôi nàng mới rỉ trao ân cần:
Rằng: 'Tôi bèo bọt chút thân,
'Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh.75
'Dám nhờ cốt nhục tử sinh,
'Còn nhiều kết cỏ ngậm vành76về sau.
Sở Khanh:
Lặng nghe lấm nhấm gật đầu:
'Ta đây nào phải ai đâu mà rằng!
'Nàng đà biết đến ta chăng,
'Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi.'
Nàng rằng: 'Muôn sự ơn người,
'Thế nào xin quyết một bài cho xong.'
Rằng: 'Ta có ngựa truy phong,
'Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi.
'Thừa cơ lẻn bước ra đi,
'Ba mươi sáu chước chước gì là hơn.77
'Dù khi gió kép mưa đơn,
'Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì!'
Nghe lời nàng đã sinh nghi,
Song đà quá đổi quản gì được thân.
Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Mà xem con tạo xoay vần đến đâu.
Rất nhiều người thuộc lòng hai câu cuối và hay liều lĩnh làm theo. Khi bịđặt vào hoàn cảnh phải đi tới một quyết định, ta phải cẩn thận lắm mớiđược. nếu ta không tin tưởng ở giải pháp đó một trăm phần trăm thì đừnglàm liều như Thúy Kiều. Bị bí, không có nước ra mà cứ chấp nhận càn mộtgiải pháp mạo hiểm. 'Cũng liều nhắm mắt đưa chân, Mà xem con tạo xoayvần đến đâu' Thực ra là một lời cảnh cáo. Không bao giờ nên làm mộtcái gì mà mình chưa suy nghĩ kỹ càng. Phải đem hết tất cả trí tuệ của mìnhmà quán sát. Chỉ khi nào thấy rằng giải pháp đó là hay nhất, không có conđường nào hay bằng thì mình mới làm thôi. Trông vào may rủi (takingchance) là không nên.
QUẤT NGỰA TRUY PHONG
Cùng nhau lén bước xuống lầu,
Song song ngựa trước ngựa sau một đoàn.
Đêm thu khắc lậu canh tàn,
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương.
Canh là đơn vị thời gian dài, khắc là đơn vị thời gian ngắn (15 phút).Đồng hồ (hồ nước bằng đồng) ngày xưa làm bằng hai chậu nước thông nhau,thời gian được đo bằng mực nước nhỏ từ chậu trên xuống chậu dưới. Chữ lậutrong khắc lậu có nghĩa là rỉ ra, lọt xuống. Người tu hành mà còn sa xuốngthì gọi là hữu lậu, không còn rơi xuống nữa thì gọi là vô lậu.
Lối mòn cỏ nhợt màu sương,
Lòng quê đi một bước đường một đau.
Tiếng gà xao xác gáy mau,
Tiếng người đâu đã mái sau dậy dàng.
Có tiếng đoàn người đuổi theo. Sở Khanh lộ ra chân tướng:
Nàng càng thổn thức gan vàng,
Sở khanh đã rẽ dây cương lối nào!
Một mình khôn biết làm sao,
Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng.
Hãy tưởng tượng cảnh người con gái đang đi một mình trong rừng, sau lưngcó một đoàn người đuổi theo! Cụ Nguyễn Du xót cho Kiều:
Hóa nhi78 thật có nở lòng,
Làm chi giày tía vò hồng lắm nau!
GIÀY TÍA VÒ HỒNG
Một đoàn đổ đến trước sau,
Vuốt đâu xuống đất cánh đâu lên trời.
Tú Bà tốc thẳng đến nơi,
Hăm hăm áp điệu một hơi lại nhà,
Hung hăng chẳng nói chẳng tra,
Đang tay vùi liễu dập hoa tơi bời.
Thịt da ai cũng là người,
Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau.
Hết lời thú phục khẩn cầu,
Uốn lưng thịt đổ giập đầu máu sa.
Tú Bà đánh Kiều tơi bời. Chỉ một cái tội đi trốn thôi là đủ để đánh rồi.Kiều chịu không nổi:
Rằng: 'Tôi chút phận đàn bà,
'Nước non lìa cửa chia nhà đến đây.
'Bây giờ sống thác ở tay,
'Thân này đã đến thế này thì thôi!
Nhưng tôi có sá gì tôi,
'Phận tôi đành vậy vốn người ở đâu?
Kiều dùng phương pháp mặc cả, đánh vào cái lợi của người ta, để đừng bịđau đớn. Câu sau cùng là câu chua chát nhất:
'Thân lươn bao quản lấm đầu,
'Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.'
Đây là câu thơ cay đắng, chua xót và đau đớn nhất trong truyện Kiều. Chừanhững thói hư tật xấu như tham lam, sân hận, kiêu căng thì gọi là chừa. Nhưng lòng trinh bạch mà phải chừa thì là một bản án rất lớn của sốphận đè lên con người. Đó là bi kịch lớn của loài người. Tất cả những độcgiả của Nguyễn Du khi đọc tới câu này đều phẫn uất. Phẩn uất cho conngười, phẫn uất cho xã hội. Một xã hội mà trong đó cô thiếu nữ phải hứa làsẽ chừa đi cái trong sạch và trinh trắng của minh! Dễ sợ!
Được lời mụ mới tùy cơ,
Bắt người bảo lãnh làm tờ cung chiêu.
Bày vai có ả Mã Kiều,
Xót nàng ra mới đánh liều chịu đoan.
Mụ càng kể nhặt kể khoan,
Gạn gùng đến mực nồng nàn mới tha.
Tú Bà bắt Kiều phải thề thốt và cam kết sẽ ra tiếp khách mới chịu tha.Trong thanh lâu có cô Mã Kiều thương tình, đứng ra bảo lãnh cho Thúy Kiều.
Vực nàng vào nghỉ trong nhà,
Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời:
'Thôi đà mắc lận thì thôi!
'Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?
'Bạc tình nổi tiếng lầu xanh,
'Một tay chôn biết mấy cành phù dung.
'Đà đao79 lập sẳn chướcdùng.
'Lạ gì một cốt một đồng xưa nay!
'Có ba mươi lạng trao tay,
'Không dưng chi có chuyện này trò kia!
'Rồi ra trở mặt tức thì,
'Bớt lời liệu chớ sân si thiệt đời!'
- 'Ít nhất Tú bà đã trả cho Sở Khanh ba mươi lạng vàng để đưa cô vàotròng. Hắn trở mặt nhanh lắm! Thôi, cô đừng nói năng gì với hắn nữa hếtkẻo mà thiệt thân'.
Nàng rằng: 'Thề thốt nặng lời,
'Có đâu mà lại ra người hiểm sâu!'
Còn đương suy nghĩ trước sau,
Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào.
Sở Khanh lên tiếng rêu rao:
Rằng: 'Nghe mới có con nào ở đây.
'Phao cho quyến gió rủ mây,
'Hãy xem cho biết mặt này là ai?'
- 'Nghe đồn có con nào ở đây mới phao vu cho tôi quyến rũ nó? Nó hãy rađây coi thử cái mặt này có phải là mặt của thằng đó không?
Nàng rằng: Thôi thế thì thôi,
Rằng không thì cũng vâng lời rằng không!'
- 'Nếu ông nói không thì tôi cũng nói là không vậy!'
Sở Khanh quát mắng đùng đùng,
Bước vào vừa rắp thị hùng ra tay.
Kiều đưa ra hai chữ 'Tích Việt':
Nàng rằng: Trời nhé có hay!
'Quyến anh rủ yến sự này tại ai?
'Đem người đẩy xuống giếng khơi,
'Nói rồi lại ăn lời được ngay!
'Còn tiên tích việt ở tay,
'Rõ ràng mặt ấy mặt này chứ ai!'
Lời ngay đông mặt trong ngoài,
Kẻ chê bất nghĩa người cười vô lương!
Phụ tình án đã rõ ràng,
Dơ tuồng nghỉ80 mới kiếmđường tháo lui.
PHONG TRẦN NHƯ AI
Buồng riêng riêng những sụt sùi,
Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân:
'Tiếc thay trong giá trắng ngần,
'Đến phong trần cũng phong trần như ai!
'Tẻ vui cũng một kiếp người,
'Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru!
'Kiếp xưa đã vụng đường tu,
'Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi!
'Dẫu sao bình đã vỡ rồi,
'Lấy thân mà trả nợ đời cho xong!'
Bây giờ mình đau khổ như thế này là vì kiếp trước mình đã không biết tutập đàng hoàng. Vậy thì đừng than thở nữa, hãy tu tập để chữa lại nhữnglỗi lầm trong quá khứ. Ở đây Kiều nghĩ rằng mình phải chấp nhận tiếp kháchđể 'trả cái nợ' mình đã mắc trong tiền kiếp. Cương quyết 'trả nợ', chấpnhận tiếp khách. Nhưng tiếp khách đâu phải dễ. Tú Bà gọi Kiều vào và dạy:phương pháp tiếp khách. Là con gái nhà lành, Kiều phải đi qua một lớp'huấn luyện' thì mới có thể làm ăn được.
Vừa tuần nguyệt sáng gương trong,
Tú Bà ghé lại thong dong dặn dò:
'Nghề chơi cũng lắm công phu,
'Làng chơi ta phải biết cho đủ điều.'
Nàng rằng: 'Mưa gió dập dìu,
'Liều thân thì cũng phải liều thế thôi!'
Mụ rằng: 'Ai cũng như ai,
'Người ta ai mất tiền hoài đến đây?
'Ở trong còn lắm điều hay,
'Nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng chung.
'Này con thuộc lấy làm lòng,
'Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề.
'Chơi cho liễu chán hoa chê,
'Cho lăn cho lóc cho mê mẫn đời.
'Khi khóe hạnh khi nét ngài,
'Khi ngâm ngợi nguyệt khi cười cợt hoa.
'Đều là nghề nghiệp trong nhà,
'Đủ ngần ấy nết mới là người soi.81
'Gót đầu vâng dạy mấy lời,
Dường chau nét nguyệt dường phai vẻ hồng.
Những nghe nói đã thẹn thùng,
Nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe!
Xót mình cửa các buồng khuê,
Vở lòng học lấy những nghề nghiệp hay!
Khéo là mặt dặn mày dày,
Kiếp người đã đến thế này thì thôi!
Thương thay thân phận lạc loài,
Dẫu sao cũng ở tay người biết sao?
Lầu xanh mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người
Biết ao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim82
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh.83
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh.
Giật mình mình lại thương mình xót xa.
Trong khi tiếp khách bận rộn thì Kiều không có thì giờ để đau khổ. Nhưngnhững khi tỉnh rượu giữa đêm khuya là những lúc Kiều đau khổ cực kỳ. 'Mộtmình mình lại thương mình xót xa'. Câu thơ có tới ba chữ mình mà không chữ nào dư.
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Bốn chữ sao lặp đi lặp lại như tiếng than, như câu hỏi, là nỗi daydứt không đành trước nghịch lý trớ trêu của thân phận.
ĐÒI ĐOẠN XA GẦN
Mặc người mây Sở mưa Tần,
Những mình nào biết có xuân là gì.
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.
Cũng có những lúc rảnh rổi. Ngồi tựa cửa nghe gió, ngắm hoa, Kiều thấytuyết rơi ngậm một nửa bức rèm trước cửa sổ hay trăng chiếu sáng bốn bề.Những lúc đó Kiều thấy gì?:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Cảnh đẹp. Nhưng khi tâm mình buồn thì không có cảnh nào là không chứa đựngtrong lòng nó tính chất sầu đau của tâm lý. Thuần túy Duy Thức Học!
Đòi phen nét vẻ câu thơ.
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.
Cũng có những giờ phút giống như là an lạc: ngồi vẽ, đánh đàn dưới trăng,chơi cờ với khách. Đứng ngoài ngó vô thì giống như mình cũng là một ngườiphong lưu, lịch sự. Nhưng mà:
Vui là vui gượng kẻo mà
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Thờ ơ gió trúc mưa mai,
Ngẩn ngơ trăm mối dùi mài một thân.
Ôm lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối chẳng dần mà đau!
Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Một ngày một ngả bóng đâu tà tà.
Dặm nghìn nước thẳm non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này.
Sân hòe đôi chút thơ ngây,
Trân cam84 ai kẻ đỡ thayviệc mình?
Kiều nghĩ đến cha mẹ già. Ở xa, hai đấng sinh thành đâu biết thân phận conmình đã ra đến thế này! Hai em còn nhỏ ở nhà không biết có săn sóc đượccha mẹ như mình mong muốn không?
Nhớ lời nguyện ước ba sinh,
Xa xôi ai có biết tình chăng ai?
Khi về hỏi liễu Chương Đài.85
Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay!
Tình sâu mong trả nghĩa dày,
Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?
Tưởng tượng Kim Trọng về, nghe Kiều đi lấy chồng rồi thì buồn biết baonhiêu mà kể! Không biết cuộc nhân duyên mà Thúy Kiều mong muốn tác hợpgiữa người yêu và em gái có thành tựu được không?
Mối tình đòi đoạn vò tơ,
Giấc hương quan luống ngẩn ngơ canh dài.
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
Thơ rất hay! Thời gian đi qua, lặp lại. Những lúc chiều xuống là những lúcngười ta nhớ nhà nhiều nhất.
Lần lần thỏ bạc ác vàng,
Xót người trong hội đoạn trường đòi cơn.
SÁU CHỮ 'CHO'
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho cho hại cho tàn cho cân!
Đã đày vào kiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.
Bốn câu thơ thế đi rất mãnh liẹt. Có sáu chữ cho. Như đóng đinh vàogỗ, mỗi chữ cho chuyên chở sức mạnh của một lát búa, thể hiện sựphẫn uất của con người (và tác giả) trước số mệnh. Nếu tác giả không từngđau khổ thì không thể nào viết được bốn câu thơ này. Tác giả cũng đã từngbị sỉ nhục trong cuộc đời.
Cảm giác bị ô nhục không phải là cảm giác của riêng Thúy Kiều. Tất cảchúng ta trong đời thế nào cũng đã hoặc sẽ có lần cảm thấy bị sỉ nhục nhưlà bị hãm hiếp (dầu con trai). Đây là một sự thật. Trong thơ có chữ hồng nhan, kỳ thực ai mà không phải là hồng nhan? Cuộc đời tànnhẫn, bất nhân. Con gái, con trai gì một ngày nào đó cũng sẽ đi qua nhữnglần cảm thấy mình bị sỉ nhục như sự sỉ nhục của nàng Kiều. Nếu quý vị lànhững người trẻ chưa từng bị sỉ nhục thì nên nhớ điều này. Xã hội sẽ đemtới kinh nghiệm đó cho quý vị. Hồi tôi đi làm công tác cứu người trên biểntôi cũng đã bị sỉ nhục. Xã hội làm cho mình nhục nhã trong khi mình đi làmnhững công việc có tính cách thanh cao. Tôi đã bị nhiều lần như thế chứkhông phải chỉ một lần. Thân phận mình lúc đó giống như thân phận nàngKiều. Xã hội đã được tổ chức thế nào mà tất cả chúng ta, sanh ra làm kiếpngười ai cũng sẽ phải đi qua thân phận của nàng Kiều ít nhất là một lần. 'Đã đày vào kiếp phong trần, Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!'
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho cho hại cho tàn mới cân!
Đã đày vào kiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!
Đọc xong sáu chữ cho, tự nhiên trong tâm mình thấy có thoải mái. Vìmình đã hét lên sáu tiếng hét. Ghê gớm không thua gì sáu tiếng hét củathiền sư Lâm Tế. Bao nhiêu đau khổ, uất ức tản ra và tâm tình mình nhẹ đi.