Thơ - Văn mới cập nhật
Xuân Thi
Cảm Tác Nỗi Lòng Lưu Dân
Cảm Ơn Cuộc đời
Chúc Mừng Năm Mới 2018
Dòng ĐỜI
Tâm Thiền
Chuông Ngân
Kính mừng Phật Đản
Anh không chết đâu em
Kiếp này
Thông tin bình chọn
Nhờ đâu bạn biết đến website Hoa Linh Thoại của chúng tôi ?
09:30, Saturday.June 06 2026
Văn học Phật giáo
Thả một bè lau
Tác giả : Thích Nhất Hạnh
Nhà xuất bản :
************************************************
Mục lục
• Thay lời tựa
• 1. Hành Trang: Chữ tài, chữ mệnh, chữ tâm
• Hoa ghen đua thắm.
• Dây đàn bén nhạy.
• Lưng túi gió trăng.
• Tưới tẩm hạt giống.
• Nhớ ít tưởng nhiều
• Đài gương soi đến dấu bèo chăng?
• Từ phen đá biết tuổi vàng.
• Không gian trong bức họa.
• Bây giờ rõ mặt đôi ta.
• Cơn bão âm thanh.
• Thưa rằng; ‘Đừng lấy làm chơi’
• Thiên đường hạnh phúc.
• Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.
• 2. Bèo Dạt Mây Trôi.
• Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây.
• Cậy em, em chó chịu lời.
• Biết thân đến nước lạc loài.
• Một xe trong cõi hồng trần như bay.
• Ai có thể giúp Kiều?
• Nhắm mắt đưa chân.
• Một tỉnh mười mê.
• Trong ấm ngoài êm.
• Nước trôi hoa rụng.
• Dường gần rừng tía dường xa bụi hồng.
• Am Chiêu Ẩn
• Nhận diện.
• 3. Hạnh Phúc Chân Thật.
• Ân oán rạch ròi.
• Trời phương ngoại.
• Hạnh phúc là tự do.
• Hết kiếp đoạn tràng.
• Thả một bè lau.
• 4. Tan Sương Đầu Ngõ
• Tưởng bây giờ là bao giờ.
• Trời còn để có hôm nay.
• 5. Chánh Niệm Là Nẻo Thoát.
• 6. Nguyễn Du và truyện Kiều.
• Nhìn sâu vào triết lý truyện Kiều.
• Chánh niệm là nẻo thoát.
• Lời cuối.
• Tài liệu tham khảo.

Dường gần rừng tía dường xa bụi hồng.

Nàng từ lánh gót vườn hoa,

Dưới gần rừng tía đường xa bụi hồng.

 

Rừng tía, do câu ‘Tứ trúc lâm trung Quán Tự Tại’ (Đức Quán Tự Tại ởtrong khu rừng trúc tím), là nơi cư ngụ của Đức Quan Âm, cũng tức là nhàchùa, là mảnh đất của giải thoát. Từ khi được ra ở Quan Âm Các, Kiều nhưđược gần thế giới của giải thoát. Dường gần rừng tía thôi chứ chưahẳn là đã ở trong rừng tía. Lòng chưa ở hẳn thiền môn. Chưa quyếttâm tu. Dường xa bụi hồng là có vẻ như đã xa cuộc đời bụi bặm nhưng kỳthực chưa xa, vẫn còn vương vấn lắm. Dường gần rừng tía, dường xa bụihồng. Nếu không phải là một ông thánh thơ thì làm sao nói lên được nhưvậy! Chập chờn qua lại, chưa chịu tu hẳn. Vấn đề là ở chỗ đó. Nếu đã‘quyết vào rừng tía quyết xa bụi hồng’ thì đâu còn có vấn đề nữa!

 

 

Nhân duyên đâu lại còn mong,

Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi.

 

Làm sao còn hy vọng hàn gắn với Thúc sinh? Miễn không bị làm nhục là đã đỡrồi! Trong câu này ý còn nuôi sự hy vọng. Nói không hy vọng nhưng trongđáy lòng vẫn còn hy vọng. Trên phương diện Ý thức thì quyết định như vậy(tu) nhưng dưới A Lại Gia thức vẫn có sự mong ước về tương lai. Đó là tâmtrạng của Thúy Kiều. Vì vậy mà Kiều tu không thành công. Không quyết tâmtu. Quyết tâm tu thì tự nhiên có an lạc và tất cả tai nạn sẽ chấm dứt. Ởđây vì Kiều không quyết tâm tu, vẫn nghĩ rằng nếu có cơ hội thì mình sẽđược tháo cũi sổ lồng nên cô đã thất bại.

 

Phật tiền thảm lấp sầu vùi,

Ngày pho thủ tự đêm nhồi tâm hương.

 

Đó! Dùng cửa Phật để vùi lấp những sầu thảm trong quá khứ của mìnhthôi chứ không quyết tâm chuyển hóa chúng. Có chỗ đề là ‘Ngày pho thủtự đêm nồi tâm hương’ nhưng chữ nồi khó hiểu. Người ta đốthương trong lư chứ ai lại đốt trong nồi. Chữ nhồi là động từ, cónghĩa là huấn luyện, thực tập. Tâm hương không phải là hương thường, phảiđem lòng mình ra làm hương chư không phải lấy trầm để làm. Tâm nhiên ngũphận là lấy lòng mình thắp lên năm thứ hương: Giới hương, Định hương, Tuệhương, Giải thoát hương, Giải thoát tri kiến hương. Thực tập Giới, Định,Tuệ là cúng dường ba thứ hương đầu tiên. Sự giải thoát và cái thấy do sựgiải thoát đem lại là những thứ hương quý để cúng dường Bụt. Chúng ta phảithực tập mỗi ngày năm thứ tâm hương thì mới có phẩm vật mà cúng dường. Đólà nhồi tâm hương. Nếu nhồi là một động từ thì chữ đối lại phải là mộtđộng từ. Chữ pho (danh từ) không thích hợp, phải được đọc là phô (động từ)Phô có nghĩa là trình bày ra. Ngày phô thủ tự, đêm nhồi tâm hương. Banngày thì bày kinh ra chép; ban đêm thì thực tập ngồi thiền. Trên nguyêntắc là phải làm như vậy. Nhưng trên thực tế, Kiều không khí được hướng dẫnđể tu tập như thế.

 

Cho hay giọt nước cành dương,

Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.

 

‘Giọt nước cành dương’ là hình ảnh trong nghi thức Gia Trì NướcTịnh:

 

Dương chi tịnh thủy

Biến sái tam thiên

Tánh không bát đức lợi nhân thiên

Pháp giới quảng tăng diên

Diệt tội tiêu khiên

Hỏa diệm hóa hồng liên

 

Nghĩa là:

 

Giọt nước tịnh trên đầu cành dương liễu

Rưới khắp tam thiên đại thiên thế giới.

Tự tánh của nước đó là không; nước đó có tám khả năng (bát công đức) có thể làm tiêu tan những sầu khổ, phiền não, đưa lại sự thanh lương,mát mẻ và giải thoát cho con người.

Pháp giới rộng ra, sáng thêm.

Tiêu diệt được tất cả những tội lỗi, oan khiên.

Trong biển lửa cháy bừng mà có giọt nước Cam Lộ rưới vào thì tự nhiên cómột đóa sen màu hồng nở.

 

Tôi dịch:

 

Cành dương nước tịnh

Rưới khắp tam thiên

Tánh không tám đức độ nhân thiên

Pháp giới sáng rộng thêm

Diệt mọi oan khiên

Biển lửa nở hoa sen.

 

Giọt nước trên cành dương với sức tâm linh và từ bi của Đức Quan Thế âm cóthể tưới tắt những khổ đau và nóng bức trong lòng mình. Phải là giọt nướcCam Lộ mới có thể làm được điều đó. Những câu vừa đọc có dính đến Kinh.Không hiểu Kinh thì không hiểu thơ.

 

Cho hay giọt nước cành dương,

Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.

 

Trên nguyên tắc là như vậy. Nhưng trên thực tế tâm của Kiều không có sựcương quyết và Kiều cũng không có một vị thầy hướng dẫn tu học. Thông minhcách mấy mà không có thầy, bạn và tăng thân thì cũng khó mà tu được. Vìvậy, tuy việc ở chùa có giúp Kiều thoa dịu phần nào những đau khổ nhưngvẫn chưa đủ để Kiều có an lạc, hạnh phúc. Ni cô Trạc Tuyền vì tu một mình,nên không thành công được bao nhiêu.

 

Nâu sòng từ trở màu thiền;

Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu.

 

Chữ thiền có một số người phát âm là thuyền. Hồi còn là chú tiểu tôi cũngđọc là thuyền na (dhyana). Nhưng sau này tôi nghĩ chúng ta nên thống nhấtcách phát âm là thiền để khỏi trùng với chữ thuyền là chiếc đò.

 

Quan phòng then nhặt lưới mau,

Nói lời trước mặt rơi châu vắng người.

 

Cụ Trần Trọng Kim giải thích chữ quan phòng là Hoạn Thư canh giữ không choKiều trốn đi. Giải thích như vậy không đúng nghĩa. Quan phòng là vấn đềgiới luật. Quan là cửa, phòng là hộ trì. Mười giới Sa Diđược chia làm hai phần. Bốn giới đầu (sát, đạo, dâm, vọng) là bốn giớitrọng, phải hành trì như cánh cửa đóng chặt lại, không thể mở ra được (quan). Sáu giới sau là sáu giới nhẹ, có mục đích bảo vệ, hộ trì(phòng). ‘Quan phòng then chặt lưới mau’ nghĩa là đứng về phươngdiện giưới luật thì phải nghiêm cẩn, giữ gìn. Nhặt mau đều có nghĩa là sít sao. Then, chấn song, phải sát; nếu không thì người tacó thể đẩy cửa vào được. Lưới phải sít; nếu không sẽ bị thất thoát rangoài. Câu này có nghĩa là giới luật được hành trì tinh nghiêm, vững vàng.Đó là trên bề mặt. Bởi vì ‘nói lời trước mặt rơi châu vắng người’:vẫn có tâm sự, khi có mặt người (bổn đạo) thì nói nói cười cười, không cóngười thì vẫn khóc. Chứng tỏ sự tu hành cạn cợt. Niềm đau còn nhiều. Khôngquyết tâm tu học. Không có thầy, có bạn. Câu này đi đoi với câu ‘Phậttiền thảm lấp sầu vui’. Chôn giấu chứ không chuyển hóa, vì vậy niềmđau vẫn còn. Chúng ta không trách Trạc Tuyền vì Trạc Tuyền không có tăngthân, không có thầy nên không biết phương pháp chuyển hóa nội kết. Vùi sâulấp thảm bằng gì? Bằng sự bận rộn. Ở đây sự bận rộn là chép Kinh, đốtnhang, quét dọn... Chuyện tụng Kinh, đốt nhang, làm công việc chùa... cóthể chỉ là sự bận rộn để phủ lấp niềm đau của mình. Sự bận rộn đó khôngđược gọi là sự tu học chân chính. Chúng ta có thể nhận thấy điều đó trongđoạn thơ này. Tụng Kinh, lạy Bụt, ngồi thiền, chấp tác... phải được thựctập như sự tu học. Phải làm những công việc hàng ngày này một cách cóchánh niệm và hạnh phúc thì những công phu ấy mới có tác dụng chuyển hóa.Nếu chúng ta làm những việc này như những bổn phận hay những công tác thìchưa phải là tu. Đó chỉ là làm cho mình bận rộn để quên đi vấn đề của mìnhthôi. Vấn đề vẫn y nguyên như cũ. Rất nguy hiểm. Trên phương diện hìnhthức thì có thể gọi là tu, nhưng trên phương diện nội dung đó chưa phải làtu. Lấp thảm vùi sầu hay chuyển hóa thảm sầu? Chuyện này không thể che dấuđược. Mình tự soi mình. Trước mặt bổn đạo có thể mình nói cười như đang cóhạnh phúc và giải thoát nhưng khi trở về đối diện với chính mình thì mìnhcó thể không nói không cười được với chính mình; mình khóc. Đó là trườnghợp của Trạc Tuyền. Lại thêm:

 

Gác kinh viện sách đôi nơi,

Trong gang tấc lại gấp mười quan san.

 

Hai câu này tố cáo trong đáy lòng Kiều vẫn có ước muốn gặp Thúc sinh chứKiều chưa quyết tâm đi tu. Vì vậy đời của Kiều còn khổ. Chúng ta có thểhọc được rất nhiều bài học từ truyện Kiều. Làm việc và tu tập ở một nơinhưng tâm không nằm ở đó mà nằm ở một chỗ khác. Tu như vậy thì làm saothành công, làm sao chuyển hóa được!

 

Những là ngậm thở nuốt than,

Tiểu thơ phải buổi vấn an về nhà.

Thừa cơ sinh mới lẻn ra,

Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng.

 

Trong nguyên lục, Thúc sinh đang có một kỳ thực tập đi thi. Thời xưa sinhviên thỉnh thoảng có một kỳ thi thực tập ở quận. Các sinh viên đại tập (đãhọc xong, đang ôn luyện để đi thi) được tụ họp lại và làm những đề thi docác thầy giáo trong vùng đưa ra, làm bài trong thời gian tương đương vớithời gian của trường thi. Các thầy chấm bài xem thử các ông học trò nàynếu di thi thì có đậu không. Đó là kỳ thi tổ chức trong quận. Trong thờigian mười mấy ngày Thúc sinh đi thi thử đó, Hoạn Thư về thăm mẹ, Thúc Sinhquên một vật dụng gì đó, về lấy thì mới biết là Hoạn Thư đi vắng. Lợi dụngcơ hội đó, Thúc Sinh ra thăm Kiều ở Quan âm Các. Đó là trình tự trongnguyên lục. Trong truyện Kiều thì giống như Hoạn Thư gài bẫy, đi thăm mẹrồi giữa chừng trở về xem Thúc Sinh có lẻn ra thăm Kiều không. Thúc Sinhra gặp Kiều:

 

Sụt sùi kể nỗi đoạn trường,

Giọt châu tầm tã dẫm tràng áo xanh.

 

Chàng đã khóc quá trời đất! Không có tư cách của nam nhi gì cả. Áo xanh làáo của anh chàng, vì áo cô nàng bây giờ là áo nâu.

 

‘Đã cam chịu bạc với tình,

‘Chúa xuân để tội một mình cho hoa!

‘Thấp cơ thua trí đàn bà,

‘Trông vào đau ruột nói ra ngại lời.

‘Vì ta cho lụy đến người,

‘Cát lầm ngọc trắng thiệt đời xuân xanh.

 

Than thở cho hoàn cảnh của Kiều. Anh chàng thấy mình cũng phải lãnh tráchnhiệm. Phải hành động chứ! Vậy thì làm gì?

 

‘Quản chi lên thác xuống ghềnh,

‘Cũng toan sống thác chữ đồng làm hai.

 

- ‘Anh chưa có con trai nối dõi nên chưa chết được.’ Trong luân lý ngàyxưa người con trai có bổn phận phải có con trai để nối dõi tông đường. Nếukhông có con trước khi chết là phạm tội bất hiếu rất lớn. Không thể hiểucâu này nếu không hiểu nhân sinh quan của người Á Đông thời xưa (thời nôngnghiệp). ‘Bất hiếu hữu tam, vô lậu hữu đại’: Có ba tội bất hiếu,không con nối dõi là tội nặng nhất. Không có sự tiếp nói về sau (vôlậu) là tội bất hiếu lớn hơn cả. Đó là luân lý Khổng giáo trong bốicảnh xã hội nông nghiệp ngày xưa. Không có con trai nối dõi tông đường thìbao nhiêu cơ nghiệp của tổ tiên để lại sẽ không giữ được. Đứng về phươngdiện đó mà nhận xét thì những người con trai đi tu đều là bất hiếu! Đó làsự kích bác đạo Phật từ đạo Nho. Để đáp lại, trong đạo Bụt có một thờingười ta phải viết lách, thuyết pháp để chứng tỏ rằng người đi tu cũng cóhiếu lắm. Những chuyện như truyện Bà Chúa Ba (Quan Âm Nam Hải) hay QuanÂm Thị Kính đều chứng tỏ rằng người xuất gia có thể bày tỏ niềm hiếuthảo của mình, thực tế cứu độ được cha mẹ, gia đình và giúp cho xã hội.Bốn câu đầu của truyện Bà Chúa Ba:

 

Chân như đạo Bụt rất mầu,

Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân.

Hiếu là độ được đấng thân,

Nhân là cứu vớt trầm luân mọi loài.

 

Trả lời ngay sự kích bác của Khổng giáo: trong đạo Bụt có hiếu và có nhân,tại sao các ông nói chúng tôi không có nhân và không có hiếu?

 

Thúc Sinh nói: ‘Anh chưa chết với em được là vì anh chưa có con trai.’Người Tây phương nghe lý luận này chắc là không hiểu được. Đây là ý niệmvề hiếu trong xã hội cổ.

 

‘Thẹn mình đá nát vàng phai,

‘Trăm thân dễ chuộc một lời được sao?’

 

Nghĩ đến chuyện chung tình là nghĩ đến chuyện phải chết thôi, không có conđường nào để sống. Anh chàng này dở lắm.

 

Nàng rằng: ‘Chiếc bách sóng đào,

‘Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may!

‘Chút thân quằn quại vũng lầy,

‘Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao?

‘Cũng liều một giọt mưa rào,

‘Mà cho thiên hạ trông vào cũ hay!

‘Xót vì cầm đã bén dây,

‘Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta,

‘Liệu bài mở cửa cho ra,

‘Ấy là tình nặng ấy là ân sâu!’

 

Kiều nói: ‘Thân em quằn quại trong vũng bùn. Sống được đến ngày hôm nay làmay mắn rồi. Em không đòi hỏi gì hết, chỉ mong anh nghĩ đến tình của chúngta mà tháo cũi sổ lồng cho em ra khỏi tình trạng này. Chừng đó là đủ chứngtỏ anh thương em.’

 

Sinh rằng: ‘Riêng tưởng bấy lâu,

‘Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường.

‘Nữa khi giông tố phủ phàng,

‘Thiệt riêng đấy cũng lại càng cực đây.

 

Nói xấu vợ: ‘Đã từ lâu anh nghĩ rằng lòng người nói chung, lòng vợ anh nóiriêng rất nham hiểm. Nếu bà ta nổi cơn thịnh nộ lên mà làm tình làm tội emthì tội nghiệp cho em mà lòng anh cũng tan nát!

 

‘Liệu mà cao chạy xa bay,

‘Ái ân ta có ngần này mà thôi!

 

Thúc Sinh khuyên Kiều đi trốn. Hoàn cảnh như một cái lưới buộc hai người,Thúc Sinh không thấy con đường thoát nào cho đời sống đôi lứa với Kiều.Hai người đang đi trên hai con đường hoàn toàn khác nhau, không còn cơ hộiđể chắp lại cuộc tình duyên dở lở.

 

‘Bây giờ kẻ ngược người xuôi,

‘Biết bao giờ lại nối lời nước non?

‘Dẫu rằng đến thác vẫn còn vương tơ!’

Cùng nhau kể lể sau xưa,

Nói rồi lại nói lời chưa hết lời.

Mặt trông tay chẳng nở rời,

Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa.

 

Lâu quá hai người không được gặp. Khóc lóc, than thở, rồi đồng ý giải phápKiều đi trốn... vậy mà sau đó vẫn không thể rời nhau được. ‘Mặt trôngtay chẳng nở rời’ tức là Thúc Sinh nắm tay Kiều. Như vậy ni cô nàythật bê bối. Có người đi đến:

 

Nhận ngừng nuốt tủi đứng ra,

Tiểu thư đã thấy rẽ hoa bước vào.

Cười cười nói nói ngọt ngào,

Hỏi: ‘Chàng mới ở chốn nào lại chơi?’

Dối quanh Sinh mới liệu lời:

‘Tìm hoa quá bước xem người viết kinh.’

 

- ‘Anh đi xem hoa, tiện ghé vào coi sư cô chép kinh.’ Càng nghe tả về ThúcSinh chúng ta càng thấy rõ tính khí của anh chàng. Hoạn Thư tiếp lời, khenluôn:

 

Khen rằng: ‘Bút pháp đã tinh,

‘So vào với thiếp Lan-đình nào thua!

‘Tiếc thay lưu lạc giang hồ,

‘Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài!’

Thiền trà cạn nước hồng mai,

Thong dong nối gót thư trai cùng về.

 

Hai vợ chồng uống trà ở chùa rồi từ giã ra về như một cặp uyên ương tươngđắc lắm. Có vẻ như không có vấn đề gì cả nhưng tình cảm trong lòng mìh,hai bên không nói được với nhau. Rất tội nghiệp! Thiền trà là cách uốngtrà trong nhà chùa. Trà ở đây được làm bằng nước hồng mai, tức là nước gỗcây mai sống gần trăm năm; màu gỗ đỏ, chẻ ra nấu trà mùi thơm rất tinhkhiết. Ở chùa Hương Tích thỉnh thoảng thấy có bán trà hồng mai. Những câymai ở Làng Mai mới có chín, mười tuổi. Phải đợi chín mươi năm nữa mới cóthể làm trà hồng mai được.

 

Nàng càng e lệ ủ ê,

Rỉ tai hỏi lại hoa tì trước sau.

Hoa rằng: ‘Bà đến đã lâu,

‘Nhón chừng đứng núp độ lâu nửa giờ,

‘Rành rành kẽ tóc chân tơ,

‘Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường.

‘Bao nhiêu oan khổ tình thương,

‘Nỗi ông vật vã nỗi nàng thở than.

‘Dặn tôi đứng lại một bên,

‘Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.’

 

Cô thị giả báo lại như vậy.

 

Nghe thôi kinh hãi xiết đâu:

‘Đàn bà thế ấy thấy đâu một người!

‘Ấy mới gan ấy mới tài,

‘Nghĩ càng thêm nỗi sờn gai rụng rời!

 

Lạnh xương sống luôn! Thật là một người đàn bà ghê gớm!

 

‘Người đâu sâu sắc nước đời,

‘Mà chàng Thúc phải ra người bó tay!

‘Thục tang bắt được dường này,

‘Máu ghen ai cũng chau mày nghiến răng.

 

Đáng lẽ bắt quả tang như vậy người ta phải chau mày nghiến răng, chửimắng, giựt tóc, đánh lộn..luôn luôn... mà đây:

 

‘Thế mà im chẳng đãi đằng,

‘Chào mời vui vẻ nói năng dịu dàng.

Giận dầu ra dạ thế thường.

‘Cười dầu mới thực khôn lường hiếm sâu!

‘Thân ta ta phải lo âu.

‘Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này.

‘Ví chăng chắp cánh cao bay,

‘Trèo cây lâu cũng có ngày bẻ hoa!

 

- ‘Rõ ràng đây là một con người rất sâu hiểm. Nếu không liệu mà trốn thìthế nào cũng có ngày bị đánh, giết, làm nhục.’

 

‘Hận bèo bao quản nước sa,

‘Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

 

Đã là thân phận luân lạc rồi thì đâu còn sợ chuyện lênh đênh nữa! Lênhđênh ở đây cũng là lênh đênh mà lênh đênh bên Mỹ cũng là lênh đênh.

 

Chỉn e quê khách một mình,

‘Tay không chưa dễ tìm vành ấm no!’

 

Thính chuyện đi trốn nhưng lo không có vài trăm quan Pháp hoặc mấy chục đôla Mỹ thì khi đói lấy gì mà ăn. Vì vậy cho nên:

 

Nghĩ đi nghĩ lại quanh co,

Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân.

Bên mình giắt để hộ thân,

Lần nghe canh đã một phần trống ba.

 

Trong lòng Thúy Kiều có cảm tưởng bấp bênh, sợ đói. Vì vậy phát sinh tâmniệm ăn cắp. Lấy đồ thờ bằng vàng bạc trong chùa đem theo để khi đói quábán đi mua cơm ăn. Điều này chứng tỏ Kiều chưa biết giữ giới, chưa thực sựtu. Khi đi tu, mặc vào người chiếc áo nâu sồng rồi thì đời sống mình phảiđược hoàn toàn nương tựa trên đàn na thí chủ. Tại sao phải sợ không cótiền mua cơm? Đã cạo đầu, mặc áo nhật bình, quyết chí đi tu rồi thì tạisao mình phải sợ đói? Ngày xưa, khi Bụt còn tại thế thì tình trạng đã lànhư vậy rồi. Thầy tu không cần nhà cửa, chỉ cần có một cái bát thôi. Khiđi tu là mình phải sống trên sự bố thí của người ta.

 

Nhất bát thiên gia phạn

Cố thân vạn lý du

Kỳ vi sinh tứ sự

Giáo hóa độ xuân thu

 

Nghĩa là:

 

Một bát cơm ngàn nhà

Một mình đi vạn dặm

Đó cũng chỉ vì vấn đề sinh tử

Giáo hóa cho tất cả mọi người, mùa xuân cũng như mùa thu.

 

Tạm dịch:

 

Bình bát cơm ngàn nhà

Thân chơi muôn dặm xa

Vì việc lớn sinh tử

Giáo hóa tháng ngày qua.

 

Vấn đề lớn nhất, sứ mạng chính của người tu là giải quyết vấn đề sinh tử.Sinh tử sự đại: việc sinh tử là việc lớn. Người xuất gia phải giải quyếtvấn đề sinh tử chứ không phải giải quyết vấn đề làm chùa, đi học để lấycái bằng hay lên chức làm giáo thọ... Vấn đề quan trọng nhất của ngườixuất gia là thoát khỏi sinh tử. Bốn chữ Sinh Tử Sự Đại có thể đượcviết treo ở thiền đường. Ngồi thiền, đi thiền hành, ăn cơm... làm tất cảmọi cái là để giải quyết một vấn đề: vượt thoát sinh tử.

 

Khi đã đi tu thật rồi thì phải lấy cơm thiên hạ làm cơm của mình, lấy gốccây làm nhà. Chùa nào cũng có thể là chùa của mình cả. Tại sao phải cấttiền riêng? Ngày xưa cũng như bây giờ, hễ người tu ròi thì không được sợđói. Mình trở thành con người chung. Quần chúng Phật tử sẽ lo cho mình.Chỉ sợ mình không tu thôi. Nếu mình tu thì cơm của tín thí là cơm củamình. Ăn cơm đó là để hoàn thành sự nghiệp giác ngộ.

 

Nghĩ đi nghĩ lại quanh co: chỉ vì lo quá mà sinh chuyện. Thúy Kiều có cảmgiác không có an ninh. Lo sợ đủ cái, trong đó có chuyện sợ đói. Rồi đi đếnchuyện ăn cắp đồ thờ bằng vàng bạc để trốn đi. Chuyện phạm giới, thiếuniềm tin, thiếu quyết tâm này sẽ đưa lại những đau khổ trong tương lai choThúy Kiều. Chúng ta sẽ thấy ở đoạn sau. Nếu Thúy Kiều quyết chí tu hành,quyết chí làm ni cô thì Thúy Kiều sẽ không sợ nữa. Ở ngay tại đó cũngkhông sợ. Thái độ của Kiều đối với Thúc Sinh sẽ khác. Giả dụ như hồi HoạnThư đứng nghe lóm, dù Kiều không biết, mà Kiều nối: ‘Thôi anh đừng tới đâynữa! Em muốn tu. Em muốn làm một người xuất gia đàng hoàng.’ Hoạn Thư nghebiết thì sẽ sung sướng và kính phục Kiều lắm. Kiều sẽ khỏi phải trốn điđâu cả. chỉ ở đó tu thôi cũng đã có an ninh rồi, huống hồ trong tương lailại có cơ hội đi tham vấn, học Đạo với các ni sư khác. Thành ra cái cănbản nằm ở trong trái tim của Thúy Kiều chứ không phải nằm ở Hoạn Thư hayThúc Sinh. Vì tu mà không có quyết tâm cho nên mới có vấn đề. Trong cuộcnói chuyện với Thúc Sinh, Kiều không chứng tỏ quyết tâm tu gì cả. Chỉ khóclóc và than thở chuyện người đàn bà kia đọc ác và bàn chuyện đi trốn. Bâygiờ đi trốn cũng vậy. Trốn đi không phải để làm ni cô tu hành. Chỉ muốnthoát ra thôi. Chính vì không được bảo vệ bởi niềm tin, bởi Bồ-đề Tâm vànhất là bởi Giới Luật nên ni cô Trạc Tuyền phạm giới tùm lum: ăn cắp, leotường chạy trốn, không có niềm tin và sau này sẽ phạm giới nói dối.

 

Cất mình qua ngọn tường hoa,

Làn đường theo bóng trăng tà về tây.

 

Nửa đêm Kiều trèo tường đi về hướng Tây. Trong nguyên lục, Thúc Sinh nói:ở hướng Tây có một số chùa của các ni sư, trốn về hướng đó thì có thể tạmtrú được trong những ngày đầu. Kiều không đi ngõ chính mà phải leo tường,ta có thể nghĩ muốn vào Quan Âm Các thì phải vào cửa chính của tư thấtHoạn Thư. Đây là những câu thơ đẹp vẽ lên hình ảnh người trốn đi trong đêmkhuya;

 

Mịt mùa dặm cát đồi cây,

Tiếng gà điểm nguyệt dấu giày cầu sương121

Canh khuya thân gái dặm trường,

Phần e đường sá phần thương dãi dầu!

 

Thật tội nghiệp.

CÁC SÁCH KHÁC
•   Con Sư Tử vàng của Thầy Pháp Tạng
•   Những truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật Giáo
•   Tình Người
•   Nói với tuổi 20
•   Góp nhặt cát đá
•   Tự Tình Quê Hương
•   Hư Hư Lục 03
•   Hư Hư Lục 02
•   Hư Hư Lục 01
•   Truyện cổ Phật giáo tập 5
Thư viện hình ảnh
Video
Hôm nay ta về đây CLB Hoa Linh Thoại tham gia hội trại hè 2011 Đại lễ cầu an cầu siêu cho các nạn nhân động đất sóng thần Nhật Bản Phật Đản ca - Ca sĩ Võ Thu Nga Cuộc hành trình du lịch tâm linh tại vương quốc Campuchia 2011
Blog mới cập nhật
Đại học Hoa Phạm Đài Loan - Mùa hoa Tuyết
Thầy ơi, con đã nhận ra Thầy rồi!
Nhớ thầy Truyền
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao...
Hoa tháng Năm
Cổ phần công đức
Tôi mắc nợ ông Sáu
Đi tìm vũ khúc mùa hè
Mơ màng Phật dạy....
Lời thú tội của chị gái nhỏ nhen
Slide Powerpoint
Bài học cuộc sống Các ngôi chùa Việt Nam Lời Phật dạy Lời thì thầm của hoa Phật pháp Tổng hợp Vu Lan Báo Hiếu
CLB Hoa Linh Thoại
Bản quyền thuộc Website Hoalinhthoai.com © 2008 - 2026
Ghi rõ nguồn hoalinhthoai.com khi đăng tải lại thông tin từ website này