6. Nguyễn Du và truyện Kiều.
Cụ Nguyễn Du, tên tự là Tố Như, hiệu Hồng Sơn Liệp Lộ, sanhở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh. Là con thứ bảy của ôngNguyễn Nghiễm, thủ tướng dưới triều Lê. Bác ruột của thi sĩ là Nguyễn Huệ(không phải là anh hùng Tây Sơn) đã đậu Tiến sĩ. Anh ruột là Nguyễn Khảncũng đậu Tiến sĩ và cũng cùng làm quan dưới triều Lê tới chức Lại BộThượng Thư (bộ trưởng bộ Tư Pháp). Người anh thứ hai là Nguyễn Điềm cũnglàm quan trấn thủ Sơn Tây. Cả nhà, cha con, chú bác, anh em đều là ngườithi đậu cao và làm quan to dưới đời nhà Lê. Đây là một gia đình rất tríthức. Mẹ của thi sĩ Tố Như là người Bắc Ninh, có bốn người con trai (chacủa Nguyễn Du có nhiều bà) tên là: Trụ, Nễ, Du và Ức. Nguyễn Du là con thứba. Chúng ta không biết ngày sinh, chỉ biét thi sĩ sinh vào năm 1765 (nămCảnh Hưng thứ 26.) Nguyễn Du rất thông minh. Mười chín tuổi đậu tú tài(khi đậu tú tài thì có thể đi thi Hội). Nhà Lê tàn rụi, nhà Nguyễn Tây Sơnlên. (Trong khi Tây Sơn dấy lên, gia đình Nguyễn Du không còn đóng vai tròquan trọng trong chính quyền nữa.) Nguyễn Du tham dự vào kháng chiến chốnglại Tây Sơn nhưng không thành. Ông rất trung thành với nhà Lê. Nguyễn Dubỏ về quê, đi chơi. Nghe nói ở nhà quê đó có tới chín mươi chín ngọn núiHồng Lĩnh, tha hồ đi rong chơi. Thất bại trong công việc khôi phục nhà Lênên ông bỏ đi chơi. Nghe nói không có ngọn núi nào trong chín mươi chínngọn núi mà Nguyễn Du không trèo lên để chơi. Khi vua Gia Long đã đánh bạiTây Sơn và lên ngôi hoàng đế. Vua muốn phục hồi những người đã từng lmàviệc cho nhà Lê ngày xưa, mời ra làm quan trở lại. Nguyễn Du cố từ chốinhưng không được. Bắt buộc phải ra làm quan. Ông có cảm tưởng ra làm quanvới triều Nguyễn tức là không trung thành với triều Lê. Giống như một côgái giang hồ. Đó là quan niệm ngày xưa. Năm 1802 (năm Gia Long thứ nhất)Nguyễn Du phải ra làm tri huyện ở Thái Bình. Sau đó là tri phủ. Nguyễn Ducáo bệnh xin về. Nhưng đến năm Gia Long thứ sáu (bốn năm sau) Nguyễn Dulại được gọi và Kinh Đô, giao cho chức Đông Các Đại Học Sĩ. Năm 1809, đượccử làm quan Bố Chánh ở tỉnh Quảng Bình. Năm 1813, được thăng làm Cần ChánhĐiện Học Sĩ, sung chức Chánh Sứ sang Trung Hoa. Có lẽ trong khi làm ChánhSứ sang Trung Hoa Nguyễn Du đã mua và đọc được nguyên lục của truyện Kiều.Trong thời gian đi sứ đó Nguyễn Du cũng làm thơ và viết văn rất nhiều.Những bài thơ làm trong thời gian đi sứ góp lại có tên là Bắc Hành ThiTập. Đi sứ thành công về được thăng chức Lễ Bộ Tham Tri (chức Hữu ThamTri trong Bộ Lễ). Có lẽ Nguyễn Du sáng tác truyện Kiều vào khoảng năm1813-1815 hay 816. Sau đó thì sáng tác Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh. Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi, muốn gửi thi sĩ đi sứ lần thứ hai. Chưakịp đi thì thi sĩ bị bệnh và mất ngày 16 tháng 9 (10 tháng 8 năm CanhThìn). Giai thoại vua Minh Mạng ngồi uống trà và phê bình câu ‘Dọcngang nào biết trên đầu có ai’ có lẽ xảy ra vào năm 1820, khi vua vừamới lên ngôi.
Truyện Kièu là một áng văn chương toàn bích về phương diện văn chương.Nhưng đứng về phương diện tư tưởng Phật học thì còn có những khuyết điểm.Cách sử dụng ngôn từ và điển tích rất khéo léo. Tả về tình tiết trái timcon người thì thi sĩ rất tài ba, sâu sắc. Nhận xét tâm lý tinh té cho đếnnỗi chúng ta phải giật mình nhiều phen. Nguyễn Du đã thật sự sống trongcuộc đời. Những ánh sáng lóe lên (mà chúng ta nhận diện như những tuệ giácđạo Bụt) không phải do học Bụt mà có mà do tác giả sống trong cuộc đời vàtìm ra. Ví dụ như nhận xét ‘Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữachẳng là chiêm bao?’ hay ‘Trời còn để có hôm nay, Tan sương đầu ngõvén mây giữa trời.’ Tuệ giác Phật giáo có trong này nhưng không phảido thi sĩ học Phật mà nói ra. Thi sĩ đã sống rất sâu sắc, trân quý từnggiờ từng phút của sự sống mà tìm dra và diễn tả sự thật đó một cách khéoléo.
Phần sau, chúng ta sẽ xét về kiến thức, cái gọi là triết học Phật giáotrong truyện Kiều. Chúng ta tìm ra quan niệm của tác giả về Nghiệp, Nhânquả, quan niệm còn có tính đại chúng hóa, chưa tới mức độ của người họcPhật thâm uyên. Có những người nói cụ Nguyễn Du tinh thông về Nho học vàPhật học. Đó là do thương quá mà nói. Sự thật, Nguyễn Du rất tài tình nhưmột thi sĩ nhưng kiến thức Phật học của cụ trong khi sáng tác truyện Kiềucòn chưa chín. Sau khi viết truyện Kiều, Nguyễn Du đã tiếp tục học thêmvăn học Phật giáo. Phật học của cụ sẽ sâu sắc hơn. Bằng chứng là tác phẩm(chữ Nôm) Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (‘Tiết tháng bảy mưa dầm sùisụt). Có cơ hội chúng ta sẽ cùng đọc Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh.