4. Tan Sương Đầu Ngõ
HOA ĐÀO NĂM NGOÁI
Chúng ta hãy đi trở lại mười lăm năm trước:
Nỗi nàng tai nạn đã đầy,
Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.
Từ ngày muôn dặm phù tang,
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
Mười lăm năm là một đường hầm dài rất tối. Chúng ta đã từng thử làm ngườibạn đồng hành của Thúy Kiều, đi ngang qua con đường hầm tối mười năm đó.Kiều đã tìm thấy ánh sáng. Bây giờ anh chàng mới bắt đầu. Tội nghiệp!
Kim Trọng đi hộ tang cho ông chú ở Liêu Dương, sáu tháng trở về:
Vội sang vườn Thúy dò la,
Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa.
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rờ.
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Cứ tưởng tượng về thì cảnh sẽ như xưa mà người cũng như xưa. Nhưng mọi sựđã hoàn toàn đổi khác. Trong tâm mình chứa chất một hình ảnh. Mình nghĩrằng hình ảnh đó sẽ mãi còn như vậy. Nhưng sự thật của cuộc đời là vôthường. Chỉ cần mấy ngày thôi mà tình trạng đã hoàn toàn đảo ngược. Sautai nạn, gia đình Thúy Kiều phải bán nhà. Từ một gia đình giàu có, họ phảiđi may thê, viết mướn, làm công cho người ta và cư trú trong một túp nhàrất lụp xụp. Kim Trọng trở về thấy ngôi nhà cũ hoàn toàn cô liêu. ‘Đầyvườn cỏ mọc lau thưa, Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời.’ Hình ảnhtrong lòng chàng trai đem so với hình ảnh hiện tại thì hoàn toàn khácnhau. Sự ngạc nhiên của Kim Trọng bắt đầu từ sự so sánh hai hình ảnh đó.
Trước sau nào thấy bóng người’ nhưng: ‘Hoa đào năm ngoái còncười gió đông.’ Cây hoa đào năm ngoái chỗ hai người trao cành kim thoavẫn nở hoa rực rỡ, cười với gió mùa xuân (gió đông). Câu này lấy tứ từ bàithơ của thi sĩ Thôi Hộ đời Đường:
Tích niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiểu đông phong.
(Năm xưa, cũng ngày này, tại cổng nhà này, (nàng đứng dưới cây hoa đào)gương mặt phản chiếu màu hồng của hoa đào, người ấy không biết bây giờ đãđi đâu rồi, trong khi hoa đào vẫn cười với gió mùa xuân y hệt như nămngoái.)
Cây hoa đào năm ngoái đã che chở cho Thúy Kiều. Bây giờ không còn ThúyKiều nữa nhưng đến mùa, hoa đào vẫn nở, vẫn đẹp, vẫn tự do, hạnh phúc. Conngười không có hạnh phúc và tự do vì con người có sự mê đắm. ‘Đào hoa ycựu tiếu đông phong’: hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Chỉ cóchàng Kim là méo miệng, không cười được. Nhiều khi người ta ước ao làm mộtcây đào hay một cây thông cho khỏe. Trong con người mình có những tình tựtham đắm, khổ đau, lo lắng và mình thấy hạnh phúc của mình không bằng hạnhphúc của một cây đào hay một cây thông. Nguyễn Công Trứ ngày xưa cũng đãcó tâm tình đó cho nên một hôm thi sĩ nói: ‘Kiếp sau xin chớ làm người,Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.’ Khi có những hồi hộp, khổ đau,lo lắng thì nhìn một cây thông ta cũng thấy nó hạnh phúc, vững mạnh hơn taquá nhiều. Thiền ôm cây (tree hugging meditation) rất lợi ích. Mỗi khi ởtrong tình trạng như vậy ta có thể tới ôm cây để tiếp nhận được sự vữngchãi và tươi mát của cây. Trúc Lâm Đại Sĩ, tức vua Trần Nhân Tông khi đãđi tu, một lần trả lời câu hỏi của một thiền sinh về chuyện tu học, đãnói:
Vườn nhà vắng mặt người chăm sóc
Lý trắng đào hồng tự nở hoa.
Khỏi phải lao tác mệt nhọc, khỏi phải tranh đấu. Trong con người mình cósẵn giác tánh, cho giác tánh đó có cơ hội thì tự nhiên nó sẽ nở hoa. ‘Vườn nhà vắng mặt người chăm sóc, Lý trắng đào hồng tự nở hoa.’ Ở đâyta thấy hình ảnh một cây đào. Ngày xưa bên Tàu có một thiền sư tên LinhVân đi chơi tháy hoa đào nở thì giác ngộ. Khỏi tu gì hết! Nhưng chắc chắntrước đó ông cũng đã đi thiền hành, đã tập hơi thở rồi cho nên đến lúcthấy hoa đào ông mới giác ngộ chứ! Có biết bao nhiêu người thấy hoa đàonhưng có giác ngộ gì đâu! Nhất là anh chàng Kim Trọng. Thấy hoa đào, càngthấy càng rầu, không giác gì cả! Trước mặt chúng ta là hai hình ảnh tráingược. Một là hình ảnh cây đào rất giải thoát. Có nàng Kiều hay không cónàng Kiều đứng một bên thì cây cũng tỉnh bơ, vân cười với gió mùa xuân.Một anh chàng khác, không tên ‘đào’ mà tên Kim, không thể tiếp xúcđược với hoa đào; bởi vì thiếu một người thì cây hoa đào không có nghĩa gìnữa. Trên đời không còn gì có nghĩa nữa nếu nàng (hay chàng) không có mặt. Un seul être vous manque et tout est dépeuplé.’: chỉ thiếu mộtngười thôi là cả thế gian này trở nên trống rỗng, lạnh tanh. Đó là một câuthơ của Lamartine. Do tâm mình ra hết. Khi mình đã vướng vào một cái vàcho đó là thế giới của mình rồi thì mình bỏ hết tất cả những gì còn lạitrong thế giới kia. Nếu nàng không có mặt đó thì không có cái gì có mặt đóhết. Gió càng không mát, trăng cũng không trong, đào cũng không hồng,không có cái gì ra cái gì hết. đó là một sự bất công rất lớn. Có phải vậykhông? Tại sao vũ trụ, thiên nhiên, sự sống mầu nhiệm như vậy mà mình cholà zero hết khi mình chỉ thiếu có một cái thôi? Mà cái đó chưa chắc mìnhđã thật sự thiếu. Có thể nó có đó mà mình không thấy. Những người đã từngđau khổ vì mất mát một người thân (cha, mẹ, con, cháu, người yêu, haythầy, trò của mình) có thể hiểu được tâm trạng của Kim Trọng lúc này.Trong những lúc thiếu thốn như vậy, tốt hơn là trở về với thiên nhiên.Tiếp xúc với thiên nhiên ta sẽ được an ủi rất nhiều và sẽ có thể thấy trởlại, tiếp xúc trở lại với người ta đã mất. Có một lần tôi đi thiền hành ởXóm Thượng với một người cha trẻ mất con. Tôi chỉ cho người đó tiếp xúcvới những bông hoa, đọt lá, giúp người cha đó tìm lại và tiếp xúc với đứacon vừa mới mất. Nếu mình mất cha, mẹ, người yêu hay con cái mình cũngphải làm như vậy. Phải trở về với thiên nhiên. Thiên nhiên có thể an ủiđược mình, chỉ cho mình cách tiếp xúc lại được với người mình thương. Cũngthi sĩ Lamartine nói: Mais la nature elle là qui t’invite qui t’aime.Plonge-toi dans son sein qu’elle t’ouvre toujours. Et tandis que toutchange pour toi, la nature est la même. Et la même soleil se lève sur tesjours. (Nhưng này bạn, dù bạn có khổ đau thì thiên nhiên vẫn còn đó.Thiên nhiên vẫn yêu bạn. Bạn nên lặn hụp vào trong lòng của thiên nhiên vìthiên nhiên đang mở hai cánh tay để đón bạn. Trong khi đối với bạn tất cảđều thay đổi, thì thiên nhiên vãn là thiên nhiên cũ. Không phản bội bạn,sẵn sàng mở hai cánh tay đón nhận bạn. Mặt trời hôm nay, mọc lên, chiếuxuống cuộc đời bạn vẫn là mặt trời cũ. Bạn đừng quên.) Đó là lời khuyêncủa thi sĩ. Bạn đừng nói rằng ‘Un seul être vous manque et tout estdépeuplé’: Chỉ thiếu một người là không còn gì nữa hết! Nói như vậy làbất công. Trở về, tiếp xúc với thiên nhiên là con đường thoát cho nhữngngười đột nhiên mất một người thân. Cây đào đang nở hoa là một sứ giả củaBụt, của chân như mầu nhiệm. Cây đào nói: ‘Bạn ơi, đừng đau khổ nữa! Cótôi đây!’ Nhưng Kim Trọng đâu đã nghe được, đâu đã tiếp xúc được. Sự đammê đã lớn quá rồi, trong lòng chỉ còn có một hình ảnh. Không có cái phảnchiếu hình ảnh đó thì coi như cuộc đời không còn gì nữa cả. “Nếu đời khôngcó em thì đời không có giá trị gì hết!’ Đó là lời tuyên bố của những ngườiđang kẹt vào sự đam mê.
Xập xèo én liệng lầu không.
Có lan mặt đất rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc đầy,
Đi về này những lối này năm xưa.
Tất cả những hình ảnh của quá khứ hiện ra. Khi đã bị hình ảnh của quá khứtrấn ngự trong tâm rồi, đem ra so với hình ảnh hiện tại thì thấy bây giờmình đã mất hết. Trong khi đó thế giới vẫn còn là thế giới. Người ta tự tửlà vì tưởng rằng mình đã mất hết rồi. Kỳ thực người ta không mất gì cả. ‘Chúng ta đã được gì hôm qua và sẽ mất gì sáng nay’ là một câu thơ tôiviết tron bài Hoa Mặt Trời.
QUÁ THƯƠNG CHÚT NGHĨA ĐÈO BỒNG
Chung quanh lặng ngắt như tờ
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?
Láng giềng có kẻ sang chơi,
Lân la sẻ hỏi một hai sự tình.
Hỏi ông ông mắc tụng đình,
Hỏi nàng nàng đã bán mình chuộc cha.
Hỏi nhà nhà đã dời xa,
Hỏi chàng Vương với cùng là Thúy Vân
Đều là sa sút khó khăn,
May thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi,
Điều đâu sét đánh lưng trời,
Thoát nghe chàng đã rụng rời xiết bao.
Hỏi han di trú nơi nao193
Đánh đường chàng mới tìm vào tận nơi.
Phải hỏi thăm mấy ngày trời mới tìm được tới chỗ gia đình viên ngoại. Tớinơi thì thấy gì:
Nhà tranh vach đất tả tơi
Lau treo rèm nát trúc gài phên thưa.
Một sân đất cỏ dầm mưa,
Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẫn đường.
Đánh liều lên tiếng ngoài tường,
Chàng Vưong nghe tiếng vội vàng chạy ra.
‘Vương Quan ơi! Vương Quan!’ Vương Quan là bạn học Kim Trọng, gọi VươngQuan chứ còn gọi ai được nữa! Kim đâu có quen với hai ông bà viên ngoại màcũng đâu có quen với cô em gái của Kiều.
Dắt tay vội rước vào nhà,
Mái sau viên ngoại ông bà ra ngay.
Trong nhà này bây giờ ai cũng đã biết tất cả những bí mật giữa Kim và Kiềurồi. Thấy Kim, Vương Quan kéo ngay chàng vào trong nhà. Hai ông bà nghenói có chàng Kim tới cũng ra hết. Vì thương lắm. Thương con bao nhiêu thìthương chàng bấy nhiêu. Bây giờ đã hiểu thì thương. Lúc trước thì chưachắc.
Khóc than kể hết niềm tây:
‘Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa?
‘Kiều nhi phận mỏng như tờ,
‘Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng.
‘Gặp cơn gia biến lạ dường,
‘Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.
‘Dùng dằng khi bước chân ra,
‘Cực trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần.
Càng nghe nói chàng Kim càng thấy gia đình này đã biết hết chuyện mình.
Trót lời nặng với lang quân,
‘Mượn tay em nó Thúy Vân thay lời.
Chúng ta hãy nhớ lại chuyện công chúa Huyền Trân. Sau khi vua Chàm mất,theo nguyên tắc công chúa phải lên giàn hỏa đốt theo vua Chàm. Nhưng nhờcông chúa có mang nên người ta hoãn lại, đợi công chúa hạ sinh em bé rồimới làm lễ hỏa thiêu. Đó là tục lệ của Ấn Độ. Vua Anh Tông, anh ruột củacông chúa Huyền Trân, đã tổ chức một cuộc bắt cóc cứu công chúa về. Thấybên mình làm như vậy là tráo trở, đã gã con cho người ta rồi mà làm nhưvậy là không tử tế. Thượng Hoàng (Trúc Lâm Đại Sĩ) sai đệ tử là thiền sưBảo Phác xuống nói chuyện với vua Anh Tông nên làm một hành động gì để xinlỗi. Để tâm được yên, vua Anh Tông cho ba trăm người thợ khéo nước Chàm đãcống hiến cho nước Việt được về nước. Ở đây cũng vậy. Thúy Kiều đã hứa lỡcho Kim Trọng, bây giờ phải bán mình chuộc cha nên rất áy náy. Vì vậy nàngxin với cha mẹ ba bốn lần gả em gái mình cho chàng Kim. Ngày xưa ở ĐôngPhương (với chế độ đa thê) có khi hai chị em cưới cùng một chàng. Ở ViệtNam người ta gọi là: ‘hoa thơm hái cả cụm.’ Nếu Thúy Vân là một côgái mới thì cô ta sẽ nói: ‘Tui đâu có mắc nợ anh chàng hồi nào mà bắt tuiphải trả nợ!’ Nhưng ở đây tình chị em liên đới nên chị mắc nợ thì em trảdùm cho chị. Trong xã hội cũ, gia đình là một khối thì người ta chấp nhậnvà làm chuyện đó được. Các cô gái mới bây giờ thì chắc không chịu đâu!
‘Trót lời nặng với lang quân,
‘Mượn con em nó Thúy Vân thay lời.
‘Gọi là trả chút nghĩa người,
‘Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên.194
‘Kiếp này duyên đã phụ duyên,
‘Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh.
‘Mấy lời ký chú đinh ninh,
‘Ghi lòng để dạ cất mình ra đi.
‘Phận sao bạc bấy Kiều nhi,
‘Chàng Kim về đó con thì đi đâu?’
Chuyện chỉ xẩy ra mới cách đây sáu tháng. Vết thương còn tươi. Hai ông bànhắc lại thì đau lòng, và khóc.
Ông bà càng nói càng đau,
Chàng càng nghe nói càng dàu như dưa.
Nỗi đau của ông bà làm cho ông bà không thấy được rằng nỗi đau của anhchàng cũng rất lớn. Dàu là dập nát, vò nhàu. Quý vị có thấy dưa cảikhông? Gắp một gắp dưa cải nhìn thì thấy nó nhàu nát, nhăn nhíu. Cái lòngcủa Kim Trọng lúc này là như vậy.
Vật mình vẫy gió tuôn mưa,
Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.
Đau khổ cho đến nỗi thân hình của Kim Trọng giống như một con giun bịngười ta cuốc nhằm. Quằn quại, đau đớn. Cả thân và tâm đều đi vào địangục. Thân quằn quại mà tâm cũng quằn quại. Đường hầm mười lăm năm cô nàngđã đi qua rồi, anh chàng bây giờ mới bắt đầu. ‘Vật mình vẫy gió tuônmưa, Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.’ Đau khổ tuôn ra như mưa nhưgió. Mình không còn là mình nữa. Một người thông minh, bặt thiệp, linh mẫnbây giờ giống như một cái xác không hồn, không còn gì nữa cả. Đó là chứngbệnh tương tư thất tình.
Đau đòi đoạn ngất đòi thôi,
Tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê.
Có những lúc cơn đau đi lên, ngưng lại một chút rồi lại đau lên một chậpkhác. Giống như cơn sốt, sốt xong, bớt sốt rồi sốt lại. Chữ đoạn và chữ thôi có nghĩa là từng chập một. Đau, ngất một hồi, bớtđi, nghĩ nhớ tới lại đau, lại ngất. Những cái đau đó hoàn toàn do tâm mìnhhết. Mỗi khi hình ảnh kia hiện lên thì mình đau trở lại. Rõ ràng khi mộtngười lâm vào trạng thái đam mê thì người dó rất đau khổ. ‘Đau đòi đoạnngất đòi thôi, Tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê.’ Những người nào đãđi ngang qua cái cầu này đều thấy rằng những điều cụ Nguyễn Du viết là cóthiệt. Chắc chắn cụ cũng đã đi ngang qua đó rồi. Đó là tình trạng củangười thất thình đau khổ. Tình yêu đúng là một tai nạn vì người yêu nàocũng phải đi qua những cái cầu này. Cụ Nguyễn Du là một thi sĩ có khả năngdiễn tả tình cảm con người một cách tuyệt diệu. Nói về tình yêu đoạn nàocũng hay. Ngôn ngữ về tình yêu của cụ thật xuất sắc. Tả đau khổ của mộtchàng trai mất người yêu mà đến mức như thế thì thiết tưởng những nhà văncủa thế kỷ hai mươi này ít ai sánh được.
Thấy chàng đau nỗi biệt ly
Nhịn ngừng ông mới vỗ về giải khuyên:
‘Bây giờ ván đã đóng thuyền,
‘Đã đành phận bạc khôn đền tình chung.
‘Quá thương chút nghĩa đèo bòng,
‘Nghìn vàng thân ấy dễ hòng bỏ sao?’
- ‘Này con, thân con quý lắm! Con đừng bỏ cái thân con.’ Trong tình trạngthất tình như vậy người ta không muốn sống nữa. ‘Một người không có mặtthì cả thế giới này cũng như không!’ Tình trạng đó là tình trạng rất nguyhiểm. Anh chàng chỉ muốn chết. Gia đình của Thúy Kiều là tăng thân cứu KimTrọng, nếu không có họ có thể Kim Trọng đã tự tử. Lạ thay, tình thươngđáng lý phải đem lại sự an ủi ấm áp, hạnh phúc mà trái lại, nó đưa ta đếngần cái chết. Tình ái, đam mê thường đưa người ta tới cái chết. Trong rấtnhiều trường hợp, tình yêu và cái chết là hai cái rất gần nhau. L’amour etla mort gần như đồng nghĩa. Rất dễ sợ! Trong đạo Bụt có nói về tìnhthương, diễn tả bằng những ngôn ngữ rất rõ ràng: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Tìnhthương phải có tác dụng hiến tặng niềm vui (Từ), làm vơi nỗi khổ (Bi), cósự vui vẻ (Hỷ) và không kỳ thị (Xả). Tình đam mê rất kỳ thị. Chỉ có mộtngười có giá trị thôi còn tất cả những người khác không có giá trị gì cả.Chỉ có một hiện tượng là đẹp thôi còn tất cả những hiện tượng khác đềukhông đẹp. Đó là kỳ thị, là không Xả. Tình thương đó đem tới toàn nhữngkhổ đau Thực tập tình thương trong đạo Bụt cho chúng ta thấy được rõ ràngthứ tình nào đem lại hạnh phúc và thứ tình nào dìm mình vào hố sâu của đaukhổ, cô đơn, đưa mình tới cận kề cái chết.
‘Quá thương chút nghĩa đèo bòng, Nghìn vàng thân ấy dễ hòng bỏ sao?’ Cha mẹ Thúy Kiều đã đóng vai trò cha mẹ của chàng sinh viên này. Nhờcó hai ông bà và hai người con còn lại mà Kim Trọng không tự tử. May choKim Trọng! Bốn người đó là ai? Bốn người đó là Thúy Kiều. Chính vì vậy màThúy Kiều đã giúp được Kim Trọng một lần nữa. Thúy Kiều đã từng giúp KimTrọng một lần rồi, không phạm giới trong đêm đầu tiên hai người gặp nhau.Bây giờ là lần thứ hai Thúy Kiều giúp mà Kim Trọng không biết. Nhờ sự cómặt của hai ông bà viên ngoại và hai người em Kiều mà Kim Trọng đã khôngtự tử.
Dỗ dành khuyên giải trăm chiều
Lửa phiền càng dập càng khêu mối phiền.
Những lời khuyên tuy không có tác dụng ngay như sự có mặt của bốn người làrất quan trọng.
Thề xưa giờ đến kim hoàn,
Của xưa lại giở đến đàn với hương.
Sinh càng trông thấy càng thương,
Gan càng tức tối ruột càng xót xa.
Rất dại! Đem những vật cũ ra làm gì để cho người ta nhớ và càng khổ thêm!
Rằng: ‘Tôi trót quá chân ra,
‘Để cho đến nỗi trôi hoa giạt bèo.
Tức quá, bưỏi vì anh chàng là con nhà giàu có quyền thế; nếu anh chàng cómặt lúc đó thì đã có thể can thiệp vào được rồi, Kiều đâu phải bán mìnhlấy bốn trăm lạng!
‘Cùng nhau thề thốt đã nhiều,
‘Những điều vàng đá phải điều nói không!
‘Chưa chăn gối cũng vợ chồng,
‘Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?
‘Bao nhiêu của mấy ngày đường,
‘Còn tôi tôi gặp mặt nàng mới thôi.’
Đây là ngôn ngữ của một người yêu. ‘Bây giờ con không chết nữa nhưng consẽ dùng tất cả sức con để tìm Kiều. Con sẽ có tin tức của nàng cho hai bácvà hai em.’ Bây giờ chàng trai đã tìm được một lý do để sống!
Nỗi thưong nói chẳng hết lời,
Tạ từ sinh mới sụt sùi trở ra.
Vội về sửa chốn vườn hoa,
Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang.
Thần hôn195 chăm chút lễthường,
Dưỡng thân196 thay tấm lòngnàng ngày xưa.
Kim Trọng về sửa sang cái nhà mình thuê lúc trước (có hiên Lãm Thúy) vàrước gia đình và rước ông bà viên ngoại qua sống với mình. Kim đóng vaitrò của một người con rể. Coi như Kiều là vợ chính thức của mình rồi.
Đinh ninh mài lệ chép thư
Cắt người tìm tõi đưa tờ nhắn nhe.
Lấy nước mắt mình mài mực để viết thư hỏi thăm tin tức của Kiều. (Đôi khilấy nước trà mài mực cũng được.) Thuê người đi tìm hỏi và chuyển thư.
Biết bao công mượn của thuê
Lâm-Thanh mấy độ đi về dặm khơi.
Người một nơi hỏi một nơi,
Mênh mông nào biết bể trời nơi nao?
Người ta đưa Kiều đi Lâm Truy mà nói dối là đi Lâm Thanh. Hỏi Lâm Thanhthì làm sao mà tìm ra được! Nhất là thời đó đâu có nhà dây thép, điện tín,điện thoại. Trời đất rộng lớn như vậy thì làm sao tìm ra được tung tíchmột người.
Sinh càng thảm thiết khát khao,
Như nung gan sắt như bào lòng son.
Sắt son là niềm chung thủy cùng cực. Son lúc nào cũng đỏ, sắt lúcnào cũng cứng. Cái gan của Kim Trọng bằng sắt nhưng cũng có lúc bị nungnóng lên; lòng Kim Trọng là một tản son nhưng cũng có nhiều khi bị bàomỏng ra.
Ruột tằm ngày một héo don,
Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve.
Thẩn thờ lúc tỉnh lúc mê,
Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao.
Quý vị có thấy rõ ràng rằng yêu là khổ không? Không ăn, không ngủ, càngngày càng ốm. Khóc ra nước mắt, tâm hồn lúc thức cũng như lúc ngủ đều đivơ vẩn như một ma đói, đói tình. Cho nên người ta mới nói tình yêu là mộttai nạn. Có ai muốn rước tai nạn vào lòng. Nhưng trong lòng, trong cơ thểmỗi người đều có hạt giống của đam mê. Lỡ mà vương vào tai nạn thì chỉ cómột tăng thân mới cứu được mà thôi. Nếu không chết không vong thân là nhờtăng thân. Trong trường hợp Kim Trọng, tăng thân đó là gia đình Thúy Kiều,không phải là gia đình Kim Trọng. Gia đình Kim Trọng nói: ‘Mày mê cái connào mà bây giờ mày ốm nhom như vậy?’ Nhưng gia đình của Thúy Kiều thì vìđã hiểu cho nên đã thương. Nguyễn Bính nói: ‘Chao ôi, yêu có ông Trờicứu. Yêu có ông Trời giữ được chân’ Khi mình đã bị tai nạn rồi thìkhông ai cứu được cả. Trời cứu cũng không được nữa, huống hồ là người bạn!Nguyễn Bính không biết rằng tăng thân có thể cứu được. Cơ hội của quý vịlà tăng thân. Quý vị thoát được là nhờ tăng thân: Ngày xưa tôi cũng nhờtăng thân mà thoát được. Tăng thân là cơ hội duy nhất của chúng ta. Chúngta phải coi tăng thân là một viên ngọc quý. Đôi khi chúng ta có giận, cóhờn từng người trong tăng thân nhưng kỳ thực tăng thân luôn luôn là viênngọc quý. Tăng thân lúc đó sáng suốt lắm, chỉ có mình là mê thôi. Chúng taphải giúp nhau. ‘Chao ôi yêu có ông Trời cứu!’ là một câu nói rấtđơn giản của một thi sĩ miền Bắc Việt Nam thế kỷ hai mươi. Yêu là một tainạn. Nếu không phải là tai nạn thì sao phải ‘cứu’? Tây phương cũngnói yêu là ‘té xuống’, fall in love, tomber amoureux. Đang đi tựnhiên té xuống, sụp hầm sụp hố. Và yêu cũng là một cơn bệnh: lovesickness.
Xuân huyên lo sợ xiết bao,
Quá ra khi đến thế nào mà hay!
Vội vàng sắm sửa chọn ngày,
Duyên Vân sớm đã xe dây cho chàng.
Sợ Kim Trọng chết, hai ông bà vội vàng sắp đặt gả Thúy Vân cho Kim Trọng.Anh chàng chấp nhận. Đã mất Thúy Kiều nh nếu có Thúy Vân thì cũng được anủi, vì em của Thúy Kiều cũng có chứa đựng Thúy Kiều ít nhiều bên trong.Tình yêu là như vậy. những gì có liên hệ tới người yêu của mình, mình đềuyêu hết. Khi thương thì thương hết tất cả đường đi nước bước, những thứcăn, thức uống của người yêu mình cũng yêu tuốt. Mà khi đã ghét thì ghéthết. ‘Yêu ai yêu cả đường đi, Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng.’ Con người yêu ghét tức cười như vậy. Không Xả, tức là không bình đẳng,vì tình yêu ấy chứa đựng rất nhiều tính phân biệt và kỳ thị. Cái đườngngười đó đi tại sao mình thương làm chi? Tông chi họ hàng người đó có dínhgì tới mình mà mình ghét? Đó là một thái độ hết sức kỳ thị, không bìnhđẳng, Từ, Bi, Hỷ, Xả mới là tình yêu đích thực. Tâm trạng của Kim Trọngcũng thường thôi. Em gái của Thúy Kiều là Thúy Kiều trong một mức độ nàođó. Được cưới Thúy Vân, Kim Trọng cũng bớt đau khổ. Đó là thuốc của ông bàviên ngoại cho chàng Kim uống. Nhưng đó cũng là di chúc của Thúy Kiều.
Người yểu điệu kẻ văn chương,
Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì.
Cặp đó xem ra cũng được lắm. Nhưng:
Tuy rằng hai chữ vu quy,
Vui này đã cất sầu kia được nào!
Khi ăn ở lúc ra vào
Càng âu duyên mới càng đào tình xưa.
Tình yêu của Kim Trọng với Thúy Vân phát triển rất mau nhưng tình lưuluyên với Thúy Kiều vẫn không giảm bớt. Những lúc ngồi một mình Kim Trọngvẫn khóc, lòng dạ rối beng:
Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,
Tuôn châu đôi trận vò tơ trăm vòng.
Có khi vắng vẻ thư phòng,
Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa.
Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ,
Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm,
Dường như bên nóc bên thềm,
Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng.
Mỗi khi đốt hương đánh đàn một mình thì cảm thấy linh hồn Kìêu đang về vớimình. Đó là do tâm mà ra cả. Bụt dạy ‘Tam giới duy tâm, vạn pháp duythức.’ Kim cứ nghĩ rằng Kiều đã chết rồi và hồn đang về đáp lại tiếngđàn của mình. Đó là kỷ niệm đêm đầu tiên hai người gặp nhau. Nhưng cụNguyễn Du rất ý thức, cụ nói:
Bởi lòng tạc đá ghi vàng,
Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.
- ‘Nó đã chết đâu! tại thương, tại khổ nên anh tưởng tượng ra như vậychứ!’ Đây là kiến giải của cụ Nguyễn Du. Tất cả đều do tâm thức của mình.Mình nằm mơ thấy, nói: ‘Thiệt mà, tui thấy!’ Nhưng kỳ thực đó cũng từtrong tâm đi ra.
GIÁC DUYÊN ĐÂU BỖNG TÌM VÀO TẬN NƠI
Lấy Thúy Vân, có một liên hệ mới, niềm vui mới, đời sống của Kim Trọng tìmlại được sự thăng bằng. Nhưng tình cảm vấn vương với Thúy Kiều vẫn cònnhiều.
Năm tháng đi qua.
Những là phiền muộn đêm ngày
Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần?
Chế khoa197 gặp hội trườngvăn,
Vương Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày.
Cửa trời rộng mở đường mây198
Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần.199
Vương Quan và Kim Trọng thi đậu, vinh hiển. Quê hương, làng xóm cũng đượcthơm lây.
Chàng Vương nhớ đến xa gần,
Sang nhà Chung lão tạ ân chu tuyền.200
Tình xưa ân trả nghĩa đền,
Gia thân bèn mới kết duyên Châu Trần.
Vương Quan, sau khi thi đậu thì sang nhà láng giềng năm xưa là Chung lãođể tạ ơn Chung lão để can thiệp, giúp đỡ, chỉ đường khi gia đình bị nạn.Có một bí mật nào đó mà ta chưa hay: chàng Vương yêu cô con gái của Chunglão. Bây giờ trở về, đã đậu khoa Hội, Chung lão bằng lòng gả con gái cho.
Kim từ nhẹ bước thanh vân,
Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương.
Ấy ai dặn ngọc thề vàng,
Bây giờ kim mã ngọc đường với ai?201
Ngọn bèo chân sóng lạc loài,
Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu ly.
Vâng ra ngoại nhậm Lâm Truy,
Quan sơn nghìn dặm thê nhi một đoàn.
Kim Trọng được vua cử đi làm quan ở Lâm Truy, chỗ ngày xưa nàng Kiều đãtới nơi mà gia đình đã tưởng là Lâm Thanh. Bây giờ số mạng gửi anh chàngđến đó.
Cầm đường ngày tháng thanh nhàn,
Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu hao.
Ngày xưa có nhiều người làm quan rồi nhưng vẫn giữ được phong cách nhàn hạcủa người Nho sĩ. Làm việc quan xong rồi thì uống trà, lấy đàn ra gảy. Đờinhà Tống có ông Triệu Biện, đỗ tiến sĩ, đi làm quan nhưng vẫn giữ được sựthanh nhàn. Ông đem theo một cây đàn và một con chim hạc. Sáng, chiều tuylàm việc quan nhưng ông vẫn được nghe tiếng hạc, tiếng đàn. ‘Cầm đườngngày tháng thanh nhàn. Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao.’ Khônggiống như giới doanh thương business-man bây giờ, không có thì giờ để thở.
Phòng xuân trướng rủ hoa đào,
Nàng Vân nằm bổng chiêm bao thấy nàng.
Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng,
Nghe lời chàng cũng hai đường tin nghi.
Một đêm tại tư thất nơi phủ đường Lâm Truy, Thúy Vân nằm mơ thấy ThúyKiều. Tỉnh dậy nàng kể cho chồng nghe. Kim Trọng sinh nghi: ‘Có lẽ Kiều điLâm Truy chứ không phải Lâm Thanh.’
Nọ Lâm-Thanh với Lâm-Truy,
Khác chi một chữ hoặc khi có lầm.
Trong cơ thanh khí tương tầm,
Ở đây hoặc có giai âm202chăng là?
‘Thanh khí tương tầm’ nghĩ là đồng thanh tương ứng, đồng khí tươngcầu. Cùng là một âm thanh thì ứng (echo) lại với nhau, cùng một chí khíthì đi tìm nhau. Ví dụ là người muốn học Phật pháp thì mình đi tìm nhữngngười học Phật pháp để làm bạn.
Thăng đường chàng mới hỏi tra,
Họ Đô có kẻ lại già thưa lên.
Có người thư ký già, họ Đô, biết chuyện, báo cáo. Đây là những lời báocáo, tuy ngắn nhưng tóm tắt lại được quãng đời mười năm của Thúy Kiều. Nóirất gọn, như đánh dây thép vậy. Nếu quý vị muốn đánh dây thép thì phải họcđoạn văn này để đừng đánh dư chữ mà tốn tiền.
‘Sự này là ngoại mười niên,
‘Tôi đà biết mặt biết tên rành rành.
‘Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
‘Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về,
‘Thúy Kiều tài sắc ai bi,
‘Có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ.
‘Kiên trinh chẳng phải gan vừa,
‘Liều mình thế ấy phải lừa thế kia.
‘Phong trần chịu đã ê chề,
‘Dây duyên sau lại gả về Thúc Lang.
‘Phải tay vợ cả phũ phàng,
‘Bắt về Vô Tích toan đường bẻ hoa.
‘Bực mình nàng phải trốn ra,
‘Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia.
‘Thoắt buôn về thoắt bán đi,
“Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi!
‘Bỗng đâu lại gặp một người,
‘Hơn người trí dũng nghiêng trời uy linh.
‘Trong tay mười vạn tinh binh,
‘Kéo về đóng chật cả thành Lâm-Truy,
‘Tóc tơ các tích mọi khi,
‘Oán thì trả oán ân thì trả ân.
‘Đã nên có nghĩa có nhân,
‘Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen.
‘Chưa tường được họ được tên,
‘Sự này hỏi Thúc sinh viên mới tường.’
Ông thư ký họ Đô chỉ biết tin tức Kiều trong mười năm đầu, không rõ tên họvà tung tích của vị Đại Vương giúp Kiều (Từ Hải.) Ông khuyên Kim Trọng hãymời Thúc Sinh đến để hỏi thăm về những việc đã xảy ra những năm sau này.
Nghe lời Đô nói rõ ràng,
Tức thì đệ thiếp mời chàng Thúc Sinh.
‘Nỗi nàng hỏi hết phân minh,
‘Chồng con đâu tá tính danh là gì?’
Thúc rằng: “Gặp lúc lưu ly,
‘Trong quân tôi hỏi thiếu gì tóc tơ.
‘Đại vương tên Hải họ Từ,
‘Đánh quen trăm trận sức dư muôn người.
‘Gặp nàng khi ở Châu Thai,
‘Lạ gì quốc sắc thiên tài phải duyên.
‘Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên.
‘Làm cho động địa kinh niên đùng đùng.
‘Đại quân đồn đóng cõi Đông,
‘Về sau chẳng biết vân mồng203làm sao.’
Thúc Sinh đã cho Kim Trọng những tin tức về Kiều trong thời gian nàng sốngvới Từ Hải. Chàng nói chàng không có tin tức gì từ đó về sau.
Nghe tường ngành ngọn tiêu hao204
Lòng riêng chàng luống lao đao thẩn thờ.
Xót thay chiếc lá bơ vơ,
Kiếp trần205 biết rũ baogiờ mới xong?
Hoa trôi nước chảy xuôi dòng,
Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan!
Lời xưa đã lỗi muôn vàn,
Mảnh hương còn đó phím đàn còn đây,
Đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây,
Lửa hương biết có kiếp này nữa thôi?
Bình bồng206 còn chút xaxôi,
Đỉnh chung207 sao nỡ ănngồi cho an!
Rắp lòng treo ấn từ quan,
Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha.
Dấn mình trong áng can qua,
Vào sinh ra tử họa là thấy nhau.
Kim Trọng muốn từ quan, lội sông trèo núi đi tìm Kiều, dù cho có chết giữađường đi nữa. Đó là ước muốn của Kim Trọng. Nhưng sự thật thì bây giờchàng đã có thê nhi rồi, đâu còn sống nhờ cha mẹ như thời còn là sinh viênnữa mà làm được chuyện đó. Từ quan rồi thì lấy tiền đâu mà đi xe buýt, màmua vé máy bay tìm nàng? Nhất là đã dính vào danh lợi của triều đình rồithì khó bỏ lắm! Rốt cuộc, đâu có ‘treo ấn từ quan’, ‘vào sinh ra tử’ gì, chỉ ngồi đó viết thư và gửi e-mail mà thôi.
Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn!
Những là nấn ná đợi tin,
Nắng mưa đã biết mấy phen đổi dời!
Năm này sang năm khác chàng chờ đợi mà tìm không ra tin tức. Bỗng cóchuyện xảy ra:
Năm mây bỗng thấy chiếu trời,208
Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.
Kim thì cải nhậm Nam-Bình,
Chàng Vương cũng cải nhậm thành Phú-Dương.
Vua ban sắc chỉ đổi Kim Trọng đi làm quan ở Nam Bình (thuộc tỉnh PhúcKiến) và Vương Quan ở thành Phú Dương (thuộc tỉnh Chiết Giang.) Chính nhờcó biến cố này mà hai gia đình sẽ tìm được nàng Kiều.
Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cũng thuận một đường phó quan.
Xảy nghe thế giặc đã tan,
Sóng êm Phúc-Kiến lửa tàn Chiết Giang.
Được tin Kim mới rủ Vương,
Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa.
Trên đường đi, hai người hy vọng có thể tìm Kiều ở Hàng Châu (nơi sôngTiền Đường chảy ngang qua.)
Hàng châu đến đó bấy giờ,
Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành.
Rằng: Ngày hôm nọ giao binh,
‘Thất cơ Từ đã thu linh209trận tiền.
Nàng Kiều công cả chẳng đền,
Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù.
Nàng đà treo ngọc trầm châu,
Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan.
Tới Hàng Châu, Kim và Vương hỏi thăm biết được là Kiều đã nhảy xuống sôngTiền Đường tự tử.
Thương ôi! Không hợp mà tan,
Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng!
Chiêu hồn thiết vị lễ thường,210
Giải oan lập một đàng tràng bên sông.
Ngọn triều non bạc trùng trùng,
Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.211
Tình thâm bể thảm lạ điều,
Nào hồn tinh vệ212 biếttheo chốn nào?
Hai gia đình thiết lập chay đàn bên sông để làm lễ giải oan siêu độ choKiều.
Cơ duyên đâu bỗng lạ sao,
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.
Trông lên linh vị chữ bài,
Thất kinh mới hỏi: ‘Những người đâu ta?
‘Với nàng thân thích gần xa,
‘Người còn sao bỗng làm ma khóc người?’
Không biết sư chị Giác Duyên hôm ấy có Phật sự gì cho nên đã đi ngang quachỗ làm chay. Cố nhiên là người tu, thấy đám chay thì sư chị ghé vào xemthử và do đó đã khám phá ra rằng đây là gia đình Trạc Tuyền đang cầu siêucho sư em mình. Trong lòng sư chị có lẽ ngổn ngang nhiều tình cảm. Mừngrằng sư em mình sẽ được gặp lại gia đình và cũng rất mừng khi mình có thểđem cho gia đình này một tin tức làm họ sửng sốt bất ngờ và tạo ra hạnhphúc khôn cùng. Đó là một mảnh tin làm chấn động cả gia đình Kiều.
Nghe tin ngơ ngác rụng rời,
Xúm quanh kể họ rộn lời hỏi tra:
‘Này chồng này mẹ này cha,
‘Này là em ruột này là em dâu.
Trong các buổi hát đúm (hát đối giữa hai bên nam nữ) ở Việt Nam, có khibên con gái hỏi bên con trai:
‘Truyện Kiều anh đã thuộc làu,
‘Đố anh kể được một câu sáu người.’
Nếu bên con trai giỏi thì họ sẽ hát:
‘Này chồng này mẹ này cha,
‘Này là em ruột này là em dâu.
(Sáu người là: chồng (Kim Trọng), mẹ, cha, em ruột (Thúy Vân và VươngQuan), em dâu (vợ Vương Quan.) Còn nếu bên con trai im thin thít thì bêncon gái họ sẽ cười khúc khích cho đến khi bên con trai chịu thua mới đọchai câu trên ra.)
‘Thật tin nghe đã bấy lâu,
‘Pháp sư dạy thế sự đâu lạ dường!’
Sư rằng: ‘Nhân quả với nàng,
‘Lâm-truy buổi trước Tiền-Đường buổi sau.
‘Khi nàng gieo ngọc trầm châu,
‘Đón nhau tôi đã gặp nhau rước về.
‘Cùng nhau nương cửa Bồ-Đề,
‘Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa.
- ‘Chùa ở gần đây, nếu quý vị muốn thì tôi xin đưa quý vị tới để gặp Kiềungay bây giờ.’ Nghe xong mọi người thấy như từ địa ngục vừa được vớt lênthiên đường.
‘Phật tiền ngày bạc lân la,
‘Đăm đăm nàng cũng nhớ nhà khôn khuây.’
Trong nguyên lục sư chị Giác Duyên nói: ‘Quý vị nhớ Thúy Kiều lắm phảikhông? Thúy Kiều cũng tỏ bày niềm thương nhớ quý vị lắm.’ Ở chùa thỉnhthoảng Kiều cũng nhớ cha mẹ và các em.
Nghe tin nở mặt nở mày,
Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng?
Từ phen chiếc lá lìa rừng,
Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây.
Rõ ràng hoa rụng hương bay,
Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.
Minh dương213 đôi ngã chắcrồi,
Cõi trần mà lại thấy người Cửu-nguyên!214
Tưởng rằng kiếp sau mới mong thấy lại được nhau mà bây giờ sư chị lại nóiKiều đang còn sống và ở gần đây. Không có phép lạ nào hơn phép lạ này!
Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên,
Bộ hành một lũ theo liền một khi.
Bỏ chuông mõ, bỏ cỗ bàn, mọi người đi theo sư chị Giác Duyên. Đây là đoạnrất vui.
Bẻ lau vạch cỏ tìm đi,
Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần.
Đường về chùa mà phải bẻ lau, vạch cỏ mà đi. Có lẽ đường chính hơi dài vàvì thấy gia đình nôn nóng quá, ni sư cũng muốn Kiều mừng nên đã dẫn mọingười đi đường tắt. Tuy gia đình Kiều mừng như vậy nhưng vẫn còn nghikhông dám mừng nhiều, sợ thất vọng: ‘Đôi khi ni sư này lộn, nhỡ đó là mộtngười khác thì làm sao?’ Sự thật rõ ràng như vậy nhưng mà ta vẫn không tinlà sự thật. Ta nói: “It is too good to be true.” (Không dám tin, vì sựthật đẹp quá.)
Quanh co theo dải giang tân,15
Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường.
Đọc tới câu này tôi có cảm tưởng ‘rừng lau’ là cái rừng có nhiềuvấn đề, nhiều phiền não; ‘Phật đường’ là chỗ mình đã về, đã tới,vững chãi, thảnh thơi, đã hạnh phúc. Mỗi khi đọc tới câu này là tôi thấyhình ảnh đó. ‘Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường.’ Vấn đề là mìnhđã đi ra khỏi rừng lau hay chưa.