Nhân tài là nhân tố quyết định cho mọi sự thành công trong cuộc sống và giáo dục chính là một trung tâm đào tạo nhân tài. Một nền giáo dục hoàn chỉnh sẽ làm nên những con người toàn diện, một nền giáo dục phiến diện sẽ tạo nên những nhân tài què quặt cho đất nước.
Súng đạn chỉ giết chết con người trong một đời còn một nền giáo dục sai lầm thì sẽ giết chết cả một thế hệ. Bác Hồ đã từng nói: "Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người" cũng là vậy. Muốn đào tạo con người thì đòi hỏi phải có một quá trình chuẩn bị lâu dài và để người đó có thể trở thành một con người hữu dụng thì không phải là chuyện một ngày một bữa có thể làm được. Đặc biệt là giáo dục Phật giáo, hệ thống giáo dục này không chỉ đào tạo một vị Tăng có đủ bằng cấp để làm việc mà còn phải đào tạo con người ấy có đủ phẩm chất đạo đức. Trình độ và phẩm chất đạo đức chính là hai chân của một con người toàn diện mà Phật giáo đào tạo.
Từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập đến nay, việc đào tạo Tăng tài là vấn đề luôn được Giáo hội quan tâm hàng đầu. Hiện nay, cả nước có trên 40 trường Phật học từ Trung cấp cho đến Cao cấp. Ngoài ra còn có nhiều lớp Sơ cấp Phật học làm nền tảng để bước vào Trung cấp và hai lớp Trung cấp Giảng sư và Cao cấp Giảng sư nhằm đào tạo đội ngũ giảng viên có trình độ và chuyên môn. Đặc biệt là Trường Cao cấp được thành lập ở cả ba miền đất nước đã tạo điều kiện cho những vị có khát vọng nhưng không thể đi xa cũng học được.
Bên cạnh đó hệ thống Trường Trung cấp Phật học được thành lập bằng một phần hai số tỉnh thành trong cả nước. Có thể nói trình độ Trung cấp Phật học hiện nay đã được phổ cập đối với Tăng Ni cả nước. Tuy nhiên, công tác giáo dục ở nước ta hiện nay vẫn còn một số vấn đề bất cập.
Xét về nền giáo dục Phật giáo nước ta thì đó là một nền giáo dục phân tán. Hiện nay, nước ta có ba Học viện nằm ở ba miền đất nước; còn trường Trung cấp Phật học thì các tỉnh thi nhau mở. Điều này đã gây ra rất nhiều rắc rối trong công tác giáo dục.
Trước tiên là hệ thống trường Trung cấp. Nếu các trường Trung cấp được các tỉnh thi đua nhau mở thì số lượng Tăng Ni ở mỗi tỉnh còn không đủ để học huống nữa là tuyển sinh hay mở gối đầu mỗi năm học. Chính vì thiếu Tăng Ni học nên đầu vào ở các trường không theo đúng quy định, không đảm bảo chất lượng; đồng thời không thể mở gối đầu cho nên mỗi lớp phải kéo dài bốn năm, thậm chí sáu năm gây cho Tăng Ni sinh một sự ngán ngẩm, mệt mỏi và một điều tệ hại hơn hết là sự ỷ lại bởi vì học hay không học thì vẫn tốt nghiệp được, bởi không ai nỡ cho rớt khi đã theo học đến bốn năm.
Chính vì không có ý chí thi đua học tập, sống trong trạng thái chán ngán, àm cho Tăng Ni sinh không còn muốn tu hành, không còn lí tưởng và đây chính là lúc các ác ma dẫn họ đi nếu không được nhà trường hoặc trụ xứ quản lí chặt chẽ. Vả lại, vì muốn đủ Tăng Ni theo học cho nên mọi trình độ đều được thu nhận và khi học Trung cấp thì một số chưa tốt nghiệp phổ thông phải tiếp tục đi học thêm hoặc phổ thông hoặc bổ túc để sau khi tốt nghiệp có thể nhận được bằng cấp. Điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của Tăng – Ni sinh, bởi sáng học giáo lí đến trưa, trưa học phổ thông đến chiều hoặc học bổ túc suốt buổi tối thì làm sao có thể chuẩn bị bài tốt cho các môn học. Và việc đi học đêm ảnh hưởng rất lớn đến việc tu tập cũng như đời sống phạm hạnh của Tăng Ni.
Các lớp Cao đẳng hiện nay tuy ít và phân bố đều nhưng số lượng Tăng Ni học không đông ngoại trừ lớp Cao đẳng ở thành phố Hồ Chí Minh.
Còn hệ thống Học viện ở nước ta từ trước đến nay vẫn mang tính thủ tục, chất lượng đào tạo không cao. Tuy nhiên hiện nay, Học viện Phật giáo tại thành phố Hồ Chí Minh đã có bước phát triển rất nổi bật, chất lượng đào tạo cũng thay đổi. Tăng sinh đã được học theo chuyên ngành mà họ thích, họ không phải học những môn học nặng nề không cần thiết. Và xu hướng của Học viện trong tương lai sẽ mở rộng phạm vi tiếp nhận, đối tượng tiếp nhận của Học viện không chỉ riêng Tăng - Ni mà tất cả mọi người có khả năng trúng tuyển trong kỳ thi tuyển sinh thì đều có thể học. Đây là một dấu hiệu khả quan cho tương lai Phật giáo nước nhà.
Song bên cạnh đó vẫn tồn đọng một số vấn đề cần giải quyết. Đó là sự hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên trong ban Giám hiệu, phải có sự thảo luận và thống nhất ý kiến, tránh tình trạng phát triển tự phát, độc tôn. Nếu cứ theo tình trạng phát triển tự phát thì Phật giáo sẽ không bao giờ phát triển lâu bền được.
Ngoài ra còn phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và ban Giáo dục Tăng - Ni. Ban Giáo dục Tăng - Ni phải có cái nhìn vĩ mô, phải xác định rõ mục đích, phương hướng đào tạo và đề nghị các trường phải tổ chức, giảng dạy theo hướng ấy.
Giáo dục Phật giáo trước tiên là đào tạo những người tu, người có trình độ để sau này hoằng dương chánh pháp chớ không phải chỉ đào tạo người có kiến thức Phật học uyên thâm, một người có bằng cấp hay một nhà nghiên cứu. Chúng ta không thể bắt chước nước ngoài một cách rập khuôn, máy móc được bởi mục đích đào tạo khác nhau. Nước ngoài chỉ đào tạo những nhà nghiên cứu trong khi ta đào tạo một người tu đồng thời là một nhà nghiên cứu.
Chương trình học của Học viện hiện nay đa phần là những tư tưởng lớn và cái thiếu lớn nhất là giới luật. Trong khi giới luật là lề lối, là khuôn khổ để định hình nên những chuẩn, người mẫu mực, có đủ cơ sở để tạo niềm tin cho mọi người và là yếu tố cơ bản, là nét riêng để tạo nên ranh giới giữa Phật giáo và các tôn giáo khác. Vậy mà lại thiếu!
Với xu hướng mới hiện nay của Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh thì trong tương lai người cư sĩ có thể học tại Học viện nếu có khả năng thi vào mà không phải học Trung cấp Phật học và dĩ nhiên đối với Tăng - Ni cũng phải thế. Nếu không cần bằng Trung cấp mà vẫn vào được Học viện thì liệu có ai học Trung cấp Phật học không, trong khi chỉ cần luyện Anh văn và Việt văn cho giỏi thi vào Học viện học bốn năm thì đã có trong tay văn bằng Cử nhân Phật học. Ngay lập tức hệ thống giáo dục Phật giáo sẽ bị đổ vỡ. Đó là chưa kể những người này sẽ nghênh ngáo tới đâu khi đã cầm văn bằng Cử nhân Phật học trong tay mà những nền tảng cơ bản của người tu chưa được định hình.
Còn xét về hệ thống giáo dục Phật giáo ở nước ta thì rõ ràng là chưa thật sự logíc, chưa có một hệ thống nhất quán từ thấp đến cao. Hiện nay, chúng ta có các trường, lớp như: Lớp Sơ Cấp, Trường Trung Cấp, Lớp Cao Đẳng, Lớp Trung Cấp Giảng Sư, Lớp Cao Cấp Giảng Sư, Lớp Luật, Lớp Hán Văn Nâng Cao, Học Viện Phật Giáo. Trong khi chúng ta có thể sắp xếp lại thành một hệ thống thống nhất như sau: thấp nhất là lớp Sơ Cấp dành cho các chú điệu, kế đến là trường Trung Cấp và cao nhất là Học Viện, tất cả các lớp còn lại sẽ xếp vào thành các chuyên ngành của Học Viện. Có như thế Học Viện mới có đủ số lượng Tăng – Ni để phân chuyên ngành, đồng thời có quy mô và có chỗ đứng vững vàng trong trường quốc tế.
Vấn đề là Ban giáo dục Tăng – Ni phải có sự hợp tác chặt chẽ, phải có cái nhìn vĩ mô, xác định rõ ràng mục đích giáo dục để có thể đào tạo những con người có tài đức thật sự để phục vụ đạo pháp và dân tộc, đồng thời tránh được những hậu quả đáng tiếc sẽ xảy ra sau này cho Phật giáo. Làm sao để trong mọi công tác phật sự phải thể hiện được ý nghĩa của chữ “Tăng” thì không có việc gì sẽ không thành tựu tốt đẹp.
Minh Tuệ
* Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.